Nhân vật Đồng Nai và những sự kiện liên quan

Bài mới

  • Võ đường họ Mã trên đất Biên Hòa Cây bằng lăng nhỏ, nơi bà Chi đặt quán cà phê “cóc” trên đường 30-4 (hẻm 39, KP.3, phường Trung Dũng, TP.Biên Hòa), giờ to bằng một ...
    Được đăng 20:54, 27 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cổ thụ xanh tươi suốt 7 thế kỷ ở rừng Cát Tiên Cổ thụ Gõ đỏ tại Vườn quốc gia Cát Tiên là loài gỗ quý, thuộc danh mục nguy cấp, cần được bảo vệ. Trải qua 7 thế kỷ, cây vẫn ...
    Được đăng 02:32, 26 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đồng Nai, nơi nổi danh kèn đồng Nếu bây giờ cần một dàn nhạc kèn có quy mô hơn 1.500 nhạc công để biểu diễn thì ở Việt Nam, trừ quân đội với những dàn quân ...
    Được đăng 01:17, 26 thg 12, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nguyễn Tất Nhiên: Một đời thơ bi thiết Nguyễn Tất Nhiên là một hiện tượng của văn học miền Nam những năm 1970-1975. Tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 18 ...
    Được đăng 01:59, 7 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh đề cử nhà trẻ Việt là 30 công trình tiêu biểu thế giới Trường mầm non Những bông hoa nhỏ (Farming Kindergarten) tại phường Hóa An, Tp. Biên Hòa (Đồng Nai) đã được Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh (RIBA) đề cử vào ...
    Được đăng 19:06, 6 thg 7, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 28. Xem nội dung khác »


Võ đường họ Mã trên đất Biên Hòa

đăng 20:54, 27 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cây bằng lăng nhỏ, nơi bà Chi đặt quán cà phê “cóc” trên đường 30-4 (hẻm 39, KP.3, phường Trung Dũng, TP.Biên Hòa), giờ to bằng một vòng tay. Thời gian cây trưởng thành cũng là từng đó năm thầy, trò phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn ở Biên Hòa chọn điểm này ngồi nhâm nhi cà phê tiếp giao bạn bè, môn đệ vào các buổi sáng. 

Lão võ sư Mã Thanh Hoàng trình diễn một thế võ Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn. 


Người đầu tiên truyền bá môn võ phái Hồng Mi Đạo Nhơn vào Biên Hòa là lão võ sư Mã Thanh Hoàng (tên thật là Đinh Quốc Hưng, 76 tuổi, Chưởng môn phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn tại TP.Biên Hòa). 

* Gắn bó với võ thuật cổ truyền 

Năm 1951, mới 9 tuổi lão võ sư Mã Thanh Hoàng được cha gửi về Sài Gòn để vừa học võ vừa học chữ. Nhờ mối quan hệ của cha, lão võ sư Hoàng được thọ giáo cố võ sư Mã Thanh Long cho đến khi ông đỗ tú tài 1 (tú tài bán phần). 

Được sư phụ cho phép vào năm 1968, lão võ sư Hoàng về lại vùng đất Biên Hòa để học tiếp tú tài 2 (tú tài toàn phần) và mở lò dạy võ cho con em lao động tại xã Bình Trước (nay thuộc TP.Biên Hòa). Sau khi đỗ tú tài 2, lão võ sư Hoàng xin vào làm viên chức tỉnh Biên Hòa, đồng thời vẫn tiếp tục nghiệp võ. 

Lớp đệ tử đầu tiên của lão võ sư Hoàng có khoảng 30 võ sinh. Các võ sinh đa phần là con em lao động, tiểu thương và cả trẻ bụi đời. Võ sinh thuộc gia đình có điều kiện thì lão võ sư Hoàng thu học phí, võ sinh nhà nghèo, trẻ lang thang, cơ nhỡ thì võ sư Hoàng nhận dạy miễn phí. 

Thời điểm năm 1968, khi võ đường phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn của võ sư Hoàng xuất hiện thì phong trào võ cổ truyền ở vùng đất Biên Hòa phát triển rất mạnh mẽ với sự có mặt của rất nhiều môn phái tên tuổi như: Tây Sơn Xuân Bình võ đạo (của võ sư Xuân Bình); Đông Sơn Hòa (của võ sư Châu Sà Mách); Bảo Long Tam Nhạn (của võ sư Hoàng Thiện Chí); Lam Sơn võ thuật đạo (của võ sư Nguyễn Văn Du)... 

Võ sư Hoàng kể ngày đầu mở võ đường chiêu nạp môn sinh ông cũng gặp rất nhiều khó khăn, điểm tập lúc thì được mở nơi tòa thị chính, lúc tại nơi khu phố nghèo, lúc thì chuyển về nhà cha mẹ để dạy... Tuy vậy, võ sư Hoàng cũng sớm đào tạo được đội ngũ môn sinh kế cận làm rạng danh môn phái như: võ sư, huấn luyện viên Mã Thanh Sơn, Mã Thanh Phát, Mã Thanh Lộc, Mã Thanh Châu, Mã Thanh Hiền... Trong số các học trò của lão võ sư, có người là liệt sĩ, cựu chiến binh, huấn luyện viên quốc gia. 

Sau năm 1975, các võ đường, phòng tập họ Mã trên địa bàn tỉnh xuất hiện ngày càng nhiều. Đến nay, lão võ sư Hoàng tự hào việc ông đã đào tạo được trên 20 võ sư cho môn phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn tại võ đường. Từ đó, các học trò của ông tiếp tục phát triển thêm hàng chục phòng tập trong và ngoài tỉnh với môn sinh hàng ngàn người, góp phần làm rạng danh tên tuổi của cố võ sư Mã Thanh Long. 

* Trọng nghĩa khinh tài 

“Cao nhân tắc hữu, cao nhân trị” câu thành ngữ này ngụ ý nói rằng “người giỏi ắt có người giỏi hơn”. Vốn là “cây đa, cây đề” trong giới võ thuật đất Biên Hòa, lão võ sư Hoàng càng ghét thói tự phụ, kiêu căng, khoe tài. Chính vì vậy, lão võ sư Hoàng luôn răn dạy đồ đệ luôn biết “trọng nghĩa khinh tài”, coi trọng đạo nghĩa, không màng vật chất, dùng võ thuật giúp người thế cô chứ không được bạo ác, bạo tàn. 

Lão võ sư Mã Thanh Hoàng cùng các môn sinh luyện tập vào năm 1969 tại Biên Hòa. 


Thời xưa, cha lão võ sư Hoàng theo nghề thuốc giúp dân nghèo vẫn nuôi được đàn con học hành tử tế. Còn lão võ sư Hoàng vì theo nghề võ nên đến bây giờ vẫn khó khăn, cuộc sống dựa vào đồng lương hưu trí và sự hiếu thảo của các con, các trò. Lão võ sư Hoàng tâm sự thời còn làm viên chức, lương của ông mỗi tháng dư mua 1 xe Honda Dame 50cc. Tuy vậy, vì phải bỏ chi phí ra lo cho học trò nghèo, phong trào nên lão võ sư Hoàng chẳng tích cóp được gì riêng cho bản thân. 


Hồng Mi Đạo Nhơn có nguồn gốc từ Thiếu lâm Trung Hoa thuộc chi phái Hồng Mi do Mã Thanh Khôn sáng lập tại Đài Loan (Trung Quốc). Người đưa võ học Thiếu lâm Hồng Mi vào Việt Nam là Huỳnh Kim Hên (tên hiệu là Mã Thanh Long, sinh năm 1910, mất năm 1976), là thầy của lão võ sư Mã Thanh Hoàng. Tiếp nối truyền thống môn phái, lão võ sư Hoàng cùng các đồ đệ tiếp tục đưa môn phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn hòa nhập vào Hội Võ thuật cổ truyền tỉnh Đồng Nai và Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam.

 Cái mà lão võ sư Hoàng có được giờ không phải tiền tài mà là uy đức. Bởi vì, ông luôn biết lấy chữ “nhẫn” làm đầu khi xử lý tình huống. Lão võ sư Hoàng kể lúc ông mới mở võ đường, một võ sư người Hàn Quốc hỏi ông có biết công phá không? Ông trả lời không. Rồi ông lấy nửa cục gạch cầm trên tay và hạ tấn thấp để cho vị võ sư kia công phá. Nắm đấm của vị võ sư Hàn Quốc đánh ra, lão võ sư Hoàng nhanh nhẹn lách người và đưa đầu gạch vào mang tai đối phương rồi khẽ nói: “Con nhà võ không phải là cây cột điện, cây chuối đứng im cho người khác dùng sức công phá”. Cách xử sự của lão võ sư Hoàng làm vị võ sư Hàn Quốc kinh ngạc, thán phục về sự khiêm tốn của ông. 

Với tâm niệm của người dạy võ, lão võ sư Hoàng cho rằng người thầy phải dạy đạo đức trước cho trò rồi mới dạy võ thuật. Bởi vì, người học võ nếu lấy võ thuật làm sức mạnh thì sức mạnh đó không vững bền. Ngược lại, người học võ nếu biết lấy tình thương, lòng nhân ái, đạo đức làm sức mạnh thì sức mạnh mới bền lâu. 

Mỗi buổi sáng, lão võ sư Mã Thanh Hoàng giữ thói quen ngồi quán cà phê cóc của bà Chi để các trò tiện thể ghé vào thăm hỏi sức khỏe, trao đổi công việc. Còn những người lao động nghèo thì tiện bề gặp gỡ lão sư phụ họ Mã xin thuốc xoa bóp, trị thương vì biết tính ông quen với việc “lấy phú tế bần” (chỉ lấy tiền thuốc của người khá để hỗ trợ lại người nghèo) mấy chục năm nay. 

Đoàn Phú

Cổ thụ xanh tươi suốt 7 thế kỷ ở rừng Cát Tiên

đăng 02:32, 26 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cổ thụ Gõ đỏ tại Vườn quốc gia Cát Tiên là loài gỗ quý, thuộc danh mục nguy cấp, cần được bảo vệ. Trải qua 7 thế kỷ, cây vẫn xanh tốt và được canh giữ nghiêm ngặt. 

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, cây Gõ đỏ tại Vườn quốc gia Cát Tiên (huyện Tân Phú, Đồng Nai) đã hơn 700 tuổi, cao 30 m và có đường kính thân ở phần dưới gần 4 m. 


Cổ thụ 700 tuổi thuộc loài Gõ đỏ Afzelia Xylocarpa. Loài cây này phân bổ chủ yếu ở rừng Việt Nam và các nước Lào, Thái Lan, Campuchia. Gõ đỏ là loài gỗ quý hiếm thuộc danh mục nguy cấp, cần được bảo vệ, có tên trong sách đỏ Việt Nam. 


Cổ thụ sống qua 7 thế kỷ còn có tên gọi khác là "cây Gõ bác Đồng". Theo cán bộ kiểm lâm làm việc tại Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên, 27 năm trước (1988), cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng về công tác tại vườn và đến thăm cây Gõ. Thấy cây phát triển tốt, ông khen ngợi và khuyên cán bộ vườn phát huy tinh thần bảo vệ rừng. Về sau, cán bộ vườn quyết định đặt tên cho cổ thụ là "cây Gõ bác Đồng" để kỷ niệm và nhắc nhở thế hệ sau về trách nhiệm giữ rừng. 


Ở độ cao 5 m, thân cổ thụ chia thành nhiều ngọn với tán lá xum xuê. Nhiều loài chim thường kéo về cây làm tổ, trú ngụ. 


Rêu mọc kín trên thân cổ thụ. 


Để giúp du khách có điều kiện vào thăm cây Gõ 700 tuổi, ngành chức năng sử dụng đá ong ghép thành con đường nhỏ nối từ đường bộ hành bìa rừng đến gốc cây. Con đường quanh co trong rừng rậm luôn phủ kín rêu xanh. 


Trên thân cổ thụ có nhiều loài thực vật sống ký sinh. 


Vỏ cây ẩm ướt có rêu mọc tạo điều kiện để nhiều côn trùng ẩn nấp, sinh sống. Ngành chức năng cho du khách tham quan cổ thụ nhưng cấm các hành vi săn bắt, can thiệp vào sự phát triển tự nhiên của cây và các sinh vật. 


Trải qua 7 thế kỷ, cây Gõ đỏ vẫn xanh tốt và trở thành "báu vật" của VQG Cát Tiên. 


Bộ rễ của cây cắm chặt vào đất giúp cây đứng vững trong nhiều thế kỷ. Nhiều rễ nổi trên mặt đất, có đường kính gần 0,8 m. 


Trên cổ thụ, nhiều thân của loài dây leo có đường kính gần 20 cm cuốn chặt vào cây. 


Ông Nguyễn Văn Diện, Giám đốc Vườn quốc gia Cát Tiên cho biết, cây Gõ bác Đồng được cán bộ vườn lập hồ sơ theo dõi và quản lý nghiêm ngặt. Cây sinh trưởng tốt vì môi trường tự nhiên được đảm bảo. Những năm gần đây, Trung tâm Giáo dục môi trường và dịch vụ (VQG Cát Tiên) tổ chức tuyến tham quan cây Gõ để tuyên truyền đến du khách ý thức bảo vệ rừng. Nhiều chuyên gia, trung tâm bảo tồn thiên nhiên trên thế giới về thăm và nghiên cứu cổ thụ 700 tuổi. 


Ngọc An

Đồng Nai, nơi nổi danh kèn đồng

đăng 01:17, 26 thg 12, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nếu bây giờ cần một dàn nhạc kèn có quy mô hơn 1.500 nhạc công để biểu diễn thì ở Việt Nam, trừ quân đội với những dàn quân nhạc chuyên nghiệp, chỉ có Đồng Nai là địa phương duy nhất có thể huy động được. 

Trong khi nhạc công của các đoàn quân nhạc đều do Nhà nước, quân đội đào tạo chính quy và ăn lương như những chiến sĩ thì nhạc công kèn ở Đồng Nai chủ yếu là nông dân. Từ niềm say mê âm nhạc, họ tự trang bị nhạc cụ và chấp nhận gian khổ học kèn.

Bỏ trăm triệu sắm kèn 

Hiện nay, một nhạc cụ trong dàn nhạc kèn thường có giá dao động từ 3 triệu đến 70 triệu đồng tùy loại. Nhưng trong từng loại nhạc cụ, giá cũng dao động tùy hãng/nước sản xuất, tùy “đời”, như saxophone chẳng hạn, có chiếc 10 triệu đồng nhưng cũng có cái đến 50 triệu đồng. Loại kèn rẻ nhất trong một dàn nhạc, kèn đã qua sử dụng nhiều năm, nếu mua lại cũng có giá không dưới 5 triệu đồng. Cả tỉnh Đồng Nai hiện có hơn 50 đội nhạc kèn từ các xứ đạo Thiên Chúa tập trung ở các khu vực Kiệm Tân (huyện Thống Nhất), Hố Nai, Tân Mai, Tam Hiệp (TP Biên Hòa), mỗi đội kèn có số lượng, quy mô nhạc công khác nhau. Đội ít nhất khoảng 20 người. Những đội nhạc kèn lớn ở các giáo xứ như Dốc Mơ, Đức Long, Tân Mai, Ngọc Đồng… có trên 70 nhạc công. Nếu lấy bình quân mỗi đội có 30 nhạc công và mỗi cây kèn trị giá 5 triệu đồng thì tổng tài sản nhạc cụ kèn ở Đồng Nai đã là 7,5 tỉ đồng! 

Ông Phan Trung Tâm, 84 tuổi, trưởng ban nhạc kèn giáo xứ Dốc Mơ (xã Gia Tân, huyện Thống Nhất), hiện còn giữ được nhiều cây kèn đã xuất hiện tại Việt Nam hơn 3/4 thế kỷ. Ông nói rằng đó là những bảo vật vô giá, không bao giờ bán. Đa phần các loại kèn như trompet, clarinet, saxo, contrabass, trombone, econ… trong các dàn nhạc ở Đồng Nai được sản xuất từ Pháp, Đức và có tuổi đời khá cao. Một số kèn mới trang bị sau này có xuất xứ từ Hàn Quốc, Trung Quốc thường có giá mềm hơn kèn… Tây. 

Chưa có một thống kê chính thức để có thể hình dung về quy mô tài sản của người dân Đồng Nai từ sinh hoạt âm nhạc này bởi đây là việc làm khó. Nhưng đánh giá đầy đủ gia tài văn hóa phi vật thể này như tay nghề của hàng ngàn nhạc công không chuyên, trình độ biểu diễn của những ban nhạc kèn dân lập mà Nhà nước không tốn công đào tạo và đầu tư ở Đồng Nai… lại càng khó hơn. 

Những “nghệ sĩ nông dân” Đồng Nai trong một buổi tập thổi kèn đồng.


Ông Phan Trung Tâm và cây kèn được ông mang từ miền Bắc vào năm 1954. 


Vỏ nông dân, hồn nghệ sĩ

Năm 1989, lần đầu tiên ở Đồng Nai, một liên hoan đồng ca hợp xướng đã đưa lên sàn diễn hàng ngàn diễn viên không chuyên mà theo đánh giá của giới chuyên môn, trình độ biễu diễn loại hình âm nhạc bác học này của họ không quá chênh với giới chuyên nghiệp. 

Từ liên hoan này và nhiều liên hoan sau đó, đồng ca - hợp xướng được biết đến như là thế mạnh đặc biệt trong đời sống văn hóa ở Đồng Nai bên cạnh nhạc kèn, xuất phát từ đặc điểm của một tỉnh có tỉ lệ đồng bào theo đạo Thiên Chúa cao nhất nước. 

Cũng từ nỗ lực của ngành văn hóa cách nay gần 20 năm, một số liên hoan nhạc kèn đã được tổ chức tại Đồng Nai. Dàn nhạc kèn của giáo xứ Ngọc Đồng (phường Tân Hòa, TP Biên Hòa) đã được chọn đại diện Đồng Nai tham gia liên hoan nhạc kèn chuyên nghiệp toàn quốc và giành được giải đặc biệt. 

Nhiều năm qua, các đội nhạc kèn ở Đồng Nai bên cạnh phục vụ các nghi thức tôn giáo dịp lễ lớn cũng còn tham gia biểu diễn cho địa phương trong các sự kiện quan trọng như bầu cử, giao quân, lễ đón nhận các giải thưởng, tham gia nhiều hoạt động văn nghệ của địa phương và giúp đỡ bà con nhân dân trong các dịp tang ma, cưới xin… Nhiều nhạc công các đội kèn đã trở thành các hạt nhân văn nghệ quần chúng cũng như nhạc công chuyên nghiệp ở Đồng Nai trong hơn 30 năm qua. 

Anh Lâm Quang Đăng sinh năm 1960, học thổi kèn từ năm 11 tuổi, đến nay chơi được cả clarinet lẫn saxophone cho đội kèn giáo xứ Dốc Mơ (xã Gia Tân, huyện Thống Nhất) cho biết: “Nhạc kèn là nghệ thuật tập thể nên từng cá nhân phải tập luyện thường xuyên và cả đội phải luôn tập với nhau dưới sự chỉ đạo của một người giỏi chuyên môn nên rất vất vả”. 

Có thể nói đối với hầu hết nhạc công không chuyên ở Đồng Nai, nhạc kèn là niềm vui, niềm yêu thích và cả sự hy sinh! Hy sinh đầu tiên là bỏ tiền sắm kèn, mặc dù cũng có một số nơi nhạc cụ kèn là tài sản chung của giáo xứ hoặc do giáo dân đang ở nước ngoài gửi tặng. Hy sinh lớn nhất của các nhạc công là mất nhiều thời gian tập dượt trong điều kiện thiếu thốn và phục vụ không có thù lao. Họ giống như những nghệ nhân dân gian dù biểu diễn loại hình âm nhạc bác học, những nghệ nhân chỉ hưởng “thù lao” bằng tiếng vỗ tay, bằng niềm yêu quý của bà con trong thôn xóm, họ đạo. Và có lẽ đó cũng là lý do hiện nay nhiều bạn trẻ không thích đến với nhạc kèn theo niềm yêu thích của các thế hệ cha anh mình. 

Nguy cơ mai một 

Tuổi đời bình quân của các đội nhạc kèn ở Đồng Nai hiện nay là 52. Cá biệt có nhiều đội kèn như ban kèn xứ Gia Yên (xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất) cả 30 thành viên đều có tuổi từ 55 trở lên! Anh Bùi Đức Thân, đội trưởng đội kèn Gia Yên, giải thích: “Kèn là nhạc cụ đơn âm trong khi ngày nay có quá nhiều nhạc cụ điện tử hiện đại dễ học nên đa số thanh niên không hào hứng học kèn. Với lại họ thấy vào đội kèn thì không có quyền lợi gì mà mất quá nhiều thời gian tập dượt, phục vụ”. 

Anh Bùi Thế Thông, một nhạc sĩ hiện sinh sống ở vùng Kiệm Tân, cũng nhận định: “Chất lượng chuyên môn của nhiều đội kèn ở Đồng Nai hiện nay còn yếu và khó nâng lên được vì anh em vẫn tập với bài bản cũ. Những người có học hành tử tế về âm nhạc trước đây để chỉ đạo các đội kèn đã lần lượt qua đời. Các bạn trẻ thì không muốn theo nhạc kèn vì giờ họ có quá nhiều thứ để chơi. Học saxo ở TP.HCM may ra có thể biểu diễn sân khấu chứ ở vùng quê thì làm gì kiếm ra tiền. Nhưng thực ra đây không phải là lý do chính vì đa phần anh em tham gia hội kèn mấy chục năm nay đều mang tinh thần phục vụ giáo hội”. 

Khó có thể lý giải hết những nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mai một do không có lực lượng kế thừa của đời sống nhạc kèn ở Đồng Nai. Anh Bùi Đức Thân nói thêm: “Thời chúng tôi còn trẻ thì ngành văn hóa có tổ chức các liên hoan kèn cũng sôi nổi. Phong trào lúc đó lên lắm nhờ các địa phương cạnh tranh nhau. Nhưng cách tổ chức còn máy móc, ví dụ như quy định số bài nhạc tham gia thi quá hạn chế và điều đáng nói nhất là giải thưởng… không đủ tiền cho anh em uống nước trong một buổi tập nên sau này khi tổ chức tiếp thì anh em không muốn tham gia nữa. Có thể nói anh em nhạc kèn ở Đồng Nai chưa thực sự có một “sân chơi” để cọ xát, giao lưu và phục vụ…”. 

Nhiều năm qua nhạc kèn đã có những đóng góp trong đời sống văn hóa tinh thần của người Đồng Nai. Sinh hoạt âm nhạc cũng như đội ngũ những người chơi kèn không chuyên ở Đồng Nai là những tài sản văn hóa đặc biệt cần được giữ gìn và phát huy. 

Nhạc kèn đối với nhiều nơi trên thế giới là món hàng sang trọng nhưng ở Đồng Nai nó có sức sống mãnh liệt trong đời sống bình dân. Điểm độc đáo ấy xem ra sẽ bị đánh mất trong một thời gian không xa nữa nếu hôm nay những giá trị ấy chưa được đặt đúng chỗ… 

Loại kèn oai hùng kén người chơi


Dàn nhạc kèn thường gồm các nhạc khí thuộc bộ kèn gỗ và kèn đồng, kèm theo một ít nhạc khí gõ, không dùng đến bộ dây. Thành phần gồm: oboe, clarinet, basson, saxophone, cornes, trompet, trombone, các nhạc khí bộ gõ như trống, cymbales. Dàn nhạc kèn ở các xứ đạo trong tỉnh Đồng Nai thiên về nhạc kèn đồng (ochestre fanfare) hơn. Khá giống với  các dàn nhạc quân đội, kèn đồng chiếm vị trí chủ yếu để tạo âm lượng lớn, tiếng vang xa, mạnh về ngợi ca, hành khúc, sự trang trọng, lễ nghi…


Không phải ai cũng chơi được nhạc kèn. Một số nhạc cụ như trompet chẳng hạn cũng cần có sức khỏe tốt, biết lấy hơi bụng. Và mỗi người học kèn thì sẽ chọn một số loại kèn phù hợp với… miệng của mình.



PHAN VĂN TÚ 

Nguyễn Tất Nhiên: Một đời thơ bi thiết

đăng 01:58, 7 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:59, 7 thg 6, 2017 ]

Nguyễn Tất Nhiên là một hiện tượng của văn học miền Nam những năm 1970-1975. Tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 18 tuổi, với những hình ảnh và ngôn từ khá lạ lẫm. Ngay lập tức, một số bài trong tập thơ này đã được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ bài Vì tôi là linh mục tuyệt hay: “Vì tôi là linh mục/ Giảng lời tình nhân gian.../ Một tín đồ duy nhất/ Đã thiêu hủy lầu chuông…/ Vì tôi là linh mục/ Không biết rửa tội người/ Nên âm thầm lúc chết/ Tội mình còn thâm vai”… Riêng nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ một loạt thơ Nguyễn Tất Nhiên thành những ca khúc rất được yêu thích.

Đòi nhuận bút những bài thơ phổ nhạc

Tôi quen Nguyễn Tất Nhiên khoảng đầu năm 1971, khi Nhiên đến tòa soạn tặng tôi tập thơ Thiên tai. Sau đó tôi thường gặp Nhiên ở nhà Du Tử Lê. Gọi là nhà nhưng đó chỉ là một căn phòng nhỏ trong cư xá Bưu Điện, đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai), nơi vợ chồng Du Tử Lê thuê ở tạm trong thời gian chờ mua nhà ở làng báo chí. Căn phòng chỉ rộng chừng vài chục mét vuông mà chị Thụy Châu, vợ Du Tử Lê, vừa làm nơi nấu nướng, ăn ngủ, tiếp khách. Vậy mà mỗi lần Nhiên đến ngủ lại, chiếm cái bàn viết của anh Lê, ngồi làm thơ, cả đêm uống trà, cà phê, hút thuốc khói bay mù mịt cả căn phòng. 

Theo lời Du Tử Lê thì anh là người chọn và đưa những bài thơ Nguyễn Tất Nhiên cho Phạm Duy phổ nhạc. Nổi tiếng nhưng Nhiên vẫn nghèo kiết xác. Rồi không biết ai “xúi” Nhiên đòi Phạm Duy trả tác quyền mấy bài thơ phổ nhạc bởi Nhiên khá ngây thơ, chẳng quan tâm chuyện gì ngoài chuyện làm thơ. Về sau tôi mới biết là do Lê Cung Bắc. Lê Cung Bắc kể chuyện anh quen Nhiên: Một lần anh đến Biên Hòa, vừa xuống xe thì có một thanh niên cao, gầy, rất lãng tử bước đến hỏi: “Có phải anh là Lê Cung Bắc?”, Bắc gật đầu. Lê Cung Bắc bấy giờ là diễn viên kịch nói tên tuổi, thường xuất hiện trên truyền hình nên nhiều người biết. Chàng thanh niên tự giới thiệu là Nguyễn Tất Nhiên. Bắc đã đọc và thích thơ Nhiên nên từ đó hai người thân với nhau. Biết được chuyện Phạm Duy phổ nhạc thơ Nhiên nhưng không hỏi và cũng không trả đồng nhuận bút nào, Lê Cung Bắc bèn đưa Nhiên đến gặp Chu Tử, chủ bút nhật báo Sóng Thần, bởi Bắc có tên trong nhóm chủ trương báo này. Nhà văn Chu Tử, tác giả những tiểu thuyết nổi tiếng Sống, Yêu, Ghen, Loạn… cùng gốc người Bắc và cũng trạc tuổi Phạm Duy, vốn không ưa Phạm Duy nên ông “phang” ngay một bài khá cay trên mục Ao thả vịt của ông! 

Một thời gian sau tôi thấy Nguyễn Tất Nhiên chạy một chiếc xe Honda nữ còn mới, nhìn rất tức cười. Bởi chiếc xe dành cho nữ khá thấp trong khi Nhiên cao lều khều, người gầy, chân tay dư thừa lòng khòng. Nhiên bảo tiền nhuận bút thơ mình Phạm Duy phổ nhạc đấy. Tôi cũng không hỏi thêm Phạm Duy trả hay ai trả và trả bao nhiêu. Sau này, khoảng cuối năm 1974, khi tôi gặp Phạm Duy trong lần ông lên Buôn Ma Thuột trình diễn chung với một ca sĩ du ca nổi tiếng người Mỹ, tôi hỏi chuyện này, Phạm Duy bảo chắc người in nhạc ông trả chứ ông đâu biết mặt mũi Nguyễn Tất Nhiên ra sao đâu! 

Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên (thứ hai từ trái qua) và các bằng hữu tại tư gia ở Westminster, Hoa Kỳ. 


Vẫn lơ ngơ chân không chạm đất 

Sau ngày 30-4-1975 vài tháng, Nguyễn Tất Nhiên từ Biên Hòa xuống Sài Gòn thăm tôi. Nhiên gầy hơn, cao lêu nghêu và đen nhẻm. Vẫn đôi dép lẹp xẹp, áo bỏ ngoài quần, trông còn lè phè hơn xưa. Nhiên bảo lúc này làm việc ở Hợp tác xã Xe lam. Bữa nay được nghỉ, Nhiên đi Sài Gòn mua ít đồ, tiện ghé thăm tôi. Tối đó Nhiên ở lại, hai thằng ngồi lai rai hết mấy xị đế ở hành lang căn gác tôi ở trọ. Và cùng ngủ ngồi bởi nơi tôi ở ghép trên đường Nguyễn Huỳnh Đức (Phú Nhuận) nhà chật chội, khá đông người, không có chỗ cho hai đứa. Từ đó tôi không gặp Nhiên. Khoảng đầu những năm 1980, tôi nghe tin Nhiên vượt biên, sang định cư ở Pháp, rồi sau lại nghe Nhiên sang Mỹ. Nhiên lấy vợ tôi không hay nhưng tin Nhiên mất tới tôi rất nhanh, qua một người bạn từ Mỹ về báo. 

Mãi đến năm 2014 tôi qua Mỹ mới được nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ và đạo diễn Nguyễn Hoàng Nam, em trai Nguyễn Tất Nhiên, đưa tôi đến thăm mộ Nhiên. Không tìm đâu ra nén nhang, tôi xin Nguyễn Lương Vỵ điếu thuốc, đốt gắn trên mộ bạn nằm dưới bóng cổ thụ trong Vườn Vĩnh Cửu, nghĩa trang Westminster, California tĩnh mịch, yên bình. 

Những câu thơ tiên tri về bi kịch cuộc đời 

Tôi được nghe kể lại, thời gian sau khi ly hôn Nguyễn Tất Nhiên sống cô độc trên chiếc xe hơi cũ, lang thang vô định. Trong xe của Nhiên lúc nào cũng có một bịch khoai tây sống để ăn tạm khi đói. Rồi một ngày người ta tìm thấy anh nằm chết trên xe đậu trong sân một ngôi chùa. Tôi nghe mà lòng nghẹn đắng, thương bạn. Tôi nhớ bạn tôi vốn có nét mặt khắc khổ, ít khi thấy hắn cười, có cười thì nụ cười méo xệch. Thơ cũng như người. Thơ Nguyễn Tất Nhiên khi trẻ là những bài thơ thất tình đã được Phạm Duy phổ nhạc. Nhân vật Duyên trong Khúc tình buồn là một bạn học lớp đệ ngũ, đệ tứ (lớp 8, lớp 9) khi mới 14-15 tuổi. Cô Bùi Thị Duyên hiện định cư ở Michigan, Hoa Kỳ. Cô cho biết chỉ là bạn học thôi nhưng Hải (NTN) thích và làm thơ tặng thì mình nhận. Nhưng vẫn thường nói với Hải bấy giờ mình mãi mãi chỉ là bạn thôi. Và Hải cũng gật đầu. Khi lớn hơn một chút, thơ Nguyễn Tất Nhiên bi thiết não lòng. Khi mới hai mươi, Nguyễn Tất Nhiên đã có những câu thơ bi thiết định mệnh: Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ/ Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian/ Phải đau theo từng hớp rượu tàn/ Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định…” (Giữa trần gian tuyệt vọng, 1972). Bốn câu thơ này được khắc trên mộ bia Nguyễn Tất Nhiên. Cả bài thơ tặng sinh nhật vợ sắp cưới cũng là những vần thơ sầu thảm như một lời tiên tri về những bi kịch sẽ đến: “Khổ đau oằn nặng sinh thời/ Yêu ai tôi chỉ có lời thở than…/ Lôi người té sấp, gian nan/ Lỗi tôi, ừ đó, muôn phần lỗi tôi!”. 

Minh khúc 90, Nguyễn Tất Nhiên làm sau khi ly hôn, nhiều câu đọc lên mà nghe nhói lòng: “Đường không gian - đã phân ly/ Đường thời gian - đã một đi không về/ Những con đường mịt sương che/ Tôi vô định lái chuyến xe mù đời/ Cu Tí ngủ gục đâu rồi?/ Băng sau nhìn lại bời bời nhớ con...”. Những câu thơ xé lòng của một thi sĩ đi đến tận cùng nỗi bi thiết. 

Chuyện cái bút danh 

Về chuyện bút danh Nguyễn Tất Nhiên, sau này tôi nghe nói sau khi Nhiên chết, ở Mỹ có người bàn tán về cái bút danh ngộ nghĩnh Nguyễn Tất Nhiên. Chính Nguyễn Tất Nhiên kể với tôi là khoảng năm 1969, lần đầu gặp Du Tử Lê, nhà thơ thần tượng của anh bấy giờ, tại quán Cái Chùa (La Pagode), Sài Gòn, anh rụt rè hỏi: “Cái bút hiệu Hoài Thi Yên Thi bạn em bảo hơi “sến” phải không anh?”. Du Tử Lê buột miệng: “Tất nhiên”. Rồi hỏi: “Họ Nguyễn hả?”. Hải gật đầu. Du Tử Lê bảo: “Thì lấy Nguyễn Tất Nhiên đi!”. Và từ đó bút danh Nguyễn Tất Nhiên đi theo anh đến hết cuộc đời như một định mệnh nghiệt ngã. Khởi đầu từ tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970 đến khi thi sĩ nằm chết lặng lẽ trong chiếc xe hơi cũ ở sân chùa khu Garden Grove, California mùa thu năm 1992, ở tuổi 40. 


Nguyễn Tất Nhiên tên thật Nguyễn Hoàng Hải, sinh năm 1952 tại Biên Hòa. Khi mới học đệ tứ (lớp 9 bây giờ) Trường Trung học Ngô Quyền, anh đã có thơ in chung trong tập Nàng thơ trong mắt. Và hai năm sau, anh có tập thơ riêng Dấu mưa qua đất. Cả hai tập thơ này đều với bút hiệu Hoài Thi Yên Thi. Tập thơ Thiên tai với bút danh Nguyễn Tất Nhiên xuất bản năm 1970 đã đưa tên tuổi anh thành một khuôn mặt đặc biệt của thi ca bấy giờ. Nguyễn Tất Nhiên có ba em trai: Nguyễn Hoàng Đệ (chết lúc nhỏ), Nguyễn Hoàng Nam hiện là đạo diễn điện ảnh và Nguyễn Hoàng Thi là ca sĩ-nhạc sĩ. Cả hai hiện định cư ở Hoa Kỳ với cha mẹ.


PHẠM CHU SA

Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh đề cử nhà trẻ Việt là 30 công trình tiêu biểu thế giới

đăng 19:06, 6 thg 7, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Trường mầm non Những bông hoa nhỏ (Farming Kindergarten) tại phường Hóa An, Tp. Biên Hòa (Đồng Nai) đã được Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh (RIBA) đề cử vào danh sách 30 công trình kiến trúc tiêu biểu trên thế giới của năm 2016 bởi đây là trình kết hợp hài hòa với thiên nhiên và tiết kiệm năng lượng. 


Nhà trẻ Việt độc đáo này được xây dựng từ nhu cầu dành cho các con em của công nhân của Công ty sản xuất giầy da Pouchen. Nhóm kiến trúc sư Võ Trọng Nghĩa, Takashi Niwa, Masaaki Iwamoto và các cộng sự của Công ty Vo Trong Nghia Architects đã cùng nhau tạo nên một công trình xanh, bền vững hướng đến sự hòa hợp thiên nhiên và tiết kiệm năng lượng cao nhất. Họ đã lấy loại cỏ ba lá để thể hiện cho ý tưởng của mình. 

Nhìn từ trên cao, trường mầm non Những bông hoa nhỏ như là một cây cỏ ba lá với hình dạng xoắn ốc. Toàn bộ kiến trúc hình xuyến kết nối mái nhà với sân chơi tạo nên một màu xanh trải dài. Sau nhiều tháng thi công, công trình được hoàn thành vào 10/2013 trên diện tích 
3.800mvới kinh phí hơn 60 tỷ đồng.


Toàn cảnh Trường mầm non Những bông hoa nhỏ tại phường Hóa An, Tp. Biên Hòa (Đồng Nai). Ảnh: Công ty Vo Trong Nghia Architects


Mái vòng cao 1,5 tầng của nhà trẻ được giảm dần độ cao cho tới khi chạm tới mặt đất. Ảnh: Công ty Vo Trong Nghia Architects


Các phòng học và phòng chức năng đều nằm dười mái vòm. Ảnh: Thông Hải


Không gian tươi mát của Trường mầm non Những bông hoa nhỏ. Ảnh: Thông Hải


Trên 70% diện tích khuôn viên được trồng cây xanh và các loại cỏ. Ảnh: Thông Hải


Ngôi trường có thể đáp ứng được nhu cầu học tập và vui chơi cho 700 trẻ em từ 2 đến 5 tuổi. Ảnh: Thông Hải 


“Do mục đích xây dựng trường cho con em công nhân nên chúng tôi phải tính toán đến thiết kế làm sao cho chi phí thấp nhất, sử dụng vật liệu đơn giản nhưng vẫn đảm bảo các công năng và tính bền vững của công trình. Thiết kế xanh là lựa chọn tốt nhất về sự hòa hợp với thiên nhiên. Chi phí xây dựng mỗi mét vuông khoảng 500 USD, bao gồm phí hoàn thiện và trang thiết bị. Đó là chi phí thấp ở nước ta hiện nay”. 

(Kiến trúc sư Võ Trọng Nghĩa)

Trên 70% diện tích khuôn viên Trường được trồng cây xanh. Trường có 18 phòng học và những phòng chức năng như: phòng âm nhạc, hội họa, y tế, nhà bếp, thể dục, trò chơi... Ngôi trường có thể đáp ứng được nhu cầu học tập và vui chơi cho 700 trẻ em từ 2 đến 5 tuổi.

Thiết kế của ngôi trường chú trọng đến việc tiết kiệm năng lượng. Bao quanh phía ngoài các phòng là dàn cây leo xanh mướt. Tất cả các căn phòng đều được thiết kế thoáng mát, đảm bảo ánh sáng, tận dụng sự thông gió và cây xanh giảm nhu cầu sử dụng điều hòa không khí. Các thiết bị như pin năng lượng mặt trời, máy lọc nước, cửa thông gió, sử dụng nguồn nước tái tạo để tưới cây... được tận dụng để mang lại tính bền vững cao nhất cho công trình.

Điểm nhấn của trường mầm non “Những bông hoa nhỏ” là các thiết kế đều tận dụng tối đa cho việc vui chơi và học tập của các em nhỏ. Tại không gian ngoài trời, ở từng đoạn của mái vòng là từ mảng cỏ cây, những vườn rau giống như một nông trại giúp các em nhỏ có thể trải nghiệm nông nghiệp và cung cấp một phần thực phẩm sạch cho bữa ăn trong Trường. Đây cũng là sân chơi ngoài trời thú vị và rất an toàn dành cho con trẻ dù các em đang ở độ tuổi tinh nghịch vì được bảo vệ bằng một hàng rào an toàn và chắc chắn. Thiết kế xanh giáo dục cho trẻ hiểu tầm quan trọng của thiên nhiên, của nông nghiệp.


Ngôi trường được xây cho các trẻ em của công nhân của Công ty giày da Pouchen. Ảnh: Thông Hải


Giờ ăn trưa của các bạn nhỏ tại Trường mầm non Những bông hoa nhỏ. Ảnh: Thông Hải


Ba lô của trẻ từng lớp được để ngăn nắp. Ảnh: Thông Hải


Cách trang trí độc đáo ở mỗi lớp học. Ảnh: Thông Hải


Trẻ em vui chơi tại không gian ngoài trời. Ảnh: Thông Hải


Các em nhỏ vui chơi tại không gian ngoài trời của Trường mầm non Những bông hoa nhỏ. Ảnh: Thông Hải 


Với thiết kế độc đáo, tính ứng dụng cao, bền vững và không gian thiên nhiên, các kiến trúc sư hàng đầu của thế giới tại RIBA đánh giá rất cao công trình Trường mầm non Những bông hoa nhỏ và đề cử là 1 trong 30 kiến trúc tiêu biểu trên thế giới của năm. Đây là điều vinh dự khi thiết kế này đã vượt qua những thiết kế của hàng trăm công ty ở 50 quốc gia trên toàn cầu. Trước đó, công trình Trường mầm non Những Bông hoa nhỏ đã giành chiến thắng trong cuộc thi “Thiết kế của năm 2015" trên ArchDaily (Tạp chí hàng đầu về kiến trúc trên thế giới) bình chọn. Đây là cuộc bình chọn quy tụ 31.000 kiến trúc sư trên toàn thế giới tham dự với hơn 3.000 thiết kế được gửi tới tranh tài. 


RIBA là một giải thưởng kiến trúc danh giá do Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh tổ chức nhằm tôn vinh các công trình ấn tượng tại vương quốc Anh. Năm nay, Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh quyết định tổ chức giải thưởng quốc tế đầu tiên để vinh danh các tác phẩm, công trình kiến trúc trên toàn thế giới. Giải thưởng kiến trúc RIBA sẽ  được công bố vào tháng 12/2016.

 

Bài: Nguyễn Oanh - Ảnh: Thông Hải & Tư Liệu

Đời người qua nhịp trống chầu

đăng 03:17, 14 thg 12, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Kiểm tra từng chiếc đinh đóng trên thành trống, ông Hồ Văn Ổi (76 tuổi, ngụ KP.5, phường Bửu Hòa, TP.Biên Hòa) là Hương cổ (người đánh trống trong dịp lễ tế) của đình Tân Bản (KP.5, phường Bửu Hòa) nói với chúng tôi “Từ xưa, có việc gì cần họp dân đều phải đánh trống để mọi người kéo tới đình làng. Bây giờ, trống chiêng không còn sử dụng để họp dân nữa, nhưng với chúng tôi đó là một phần lịch sử không bao giờ bị lãng quên của vùng đất này…”.

Cổng đình Tân Bản. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


* Truyền đời đánh trống chầu

Trong tiết trời đầu xuân mát dịu, ông Ổi chậm rãi thắp nhang trầm ở các lư hương bên trong đình, rồi khệ nệ khiêng cái trống chầu ra ngoài sân để lau bụi. “Trống là linh hồn của các buổi lễ tế, là thứ được gióng lên ngoài trận tiền, trong các dịp lễ hội, vì vậy trống phải thường xuyên được kiểm tra để tránh gặp sự cố trong khi sử dụng. Như cái trống này, theo như những người giữ đình đời trước kể lại thì nó đã có từ lúc đình được nhận sắc phong của vua Tự Đức vào năm 1852, tôi cũng không rõ lắm mà chỉ biết nó đã được sử dụng từ rất lâu rồi…”, ông Ổi đưa tôi xem những chiếc trống đang được cất giữ trong đình.

Ông Võ Văn Hoàng, Chánh tế đình Tân Bản khai trống đầu xuân vào mùng 4 tết.


Không nhớ từ lúc nào mà gia đình ông Hồ Văn Ổi đã nhiều đời giữ chức Hương cổ ở đình Tân Bản. Chỉ biết từ khi còn rất nhỏ, ông say sưa coi ông nội mình đánh trống mỗi dịp lễ và hát bội trong đình. Rồi cha ông cũng là chức sắc trong đình làng, giờ tới phiên ông lại tiếp tục đảm nhận công việc đó. “Truyền thống rồi cậu à, con tôi sang năm cũng ra phụ việc ở đình làng, phải là những người có tuổi, ít nhất là hơn 50, khi đã có những trải nghiệm của một nửa đời người rồi mới ra làm việc cho làng được. Giữ đình, làm lễ phải lựa những người nào thực sự gắn bó với đất, với người nơi đây thì họ mới dành hết tâm huyết cho việc chung của làng được…” - ông Ổi tâm sự.


“Người đánh trống chầu là người phải nắm tất cả những nghi lễ của đình, vì vậy phải trải qua thời gian làm Chánh tế trong đình rồi mới được làm Hương cổ. Từ khi trở thành chức sắc trong đình, phải mất thêm 12 năm nữa để trở thành người đánh trống trong mỗi buổi tế…” - ông Hồ Văn Mai cho biết.
Để được giữ vị trí Hương cổ phải mất gần 20 năm tham gia việc làng, từ thành viên tới chức việc, chức sắc rồi sau cùng là Hương cổ. Ông Ổi đã tham gia việc làng ở đình Tân Bản từ những năm 90 của thế kỷ trước, ông cho biết cái khó trong việc đánh trống chầu là phải nắm bắt được hết khi nào thì phải đánh, khi nào thì ngưng, phải theo trình tự trong khi hành lễ.

Trống có nhiều loại, dùng cho những dịp, những việc khác nhau, trống tế, trống chầu, trống đại… và mỗi loại trống đều có một cách đánh riêng, một tư thế đánh sao cho tiếng trống vang xa nhất. “Thực ra không có nhiều quy định về kích thước của các loại trống, chỉ là người đời trước truyền lại thì người đời sau cứ giữ lấy thôi. Trống chầu ở đình chúng tôi thì có từ rất lâu rồi, trống được làm từ thân cây gỗ nguyên, đục ruột rồi phủ da trâu lên đó. Vì vậy âm thanh của chiếc trống này rất đặc biệt và dĩ nhiên là chỉ sử dụng trong những dịp lễ hay có đoàn hát tới. Còn khi dùng trong việc cúng tế thì phải sử dụng trống riêng” - ông Hồ Văn Mai (68 tuổi, ngụ K.P5, phường Bửu Hòa) em họ ông Ổi, Hương cổ đình làng Tân Bản, cho biết.

* Một thời vàng son

Đình Tân Bản. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Ông Ổi cất chiếc trống đã được lau xong vào trong đình rồi quay sang nói chuyện với chúng tôi, ông kể mỗi lần có gánh hát về diễn, người cầm chầu phải ăn mặc nghiêm chỉnh với áo thụng, khăn chít đầu, ngồi trước hàng khán giả, gần sân khấu và phải nhìn thấy tận hai bên “cánh gà”. Khi đó, người cầm chầu là đại diện cho ý kiến của bà con, của chức sắc trong làng và có nhiệm vụ “thưởng chầu” cho đào kép trong suốt quá trình hát. “Người ta nói cầm chầu là một trong bốn cái dại, vì nếu trong lúc đào kép hát mà chấp sự “thưởng chầu” không đúng lúc hoặc không đúng nhịp thì ra về sẽ bị đoàn hát trách móc. Nếu nặng hơn thì đoàn hát giận không quay lại hát cho làng nghe nữa. Đó cũng là lý do tại sao phải mất gần 20 năm mới được giữ vị trí Hương cổ trong làng. Mấy người trẻ quá nhiều khi mê coi hát, mê cô đào lại bỏ quên việc chính của mình là “thưởng chầu” cho họ, ra về họ giận thì lại mất vui…” - ông Ổi cười, kể lại cho chúng tôi nghe những chuyện ngày còn nhỏ ông đi coi hát ở đình.

Tới đúng giờ hát, chấp sự hai tay cầm hai dùi trống quay mặt hướng về đình vái thần và chào khán giả rồi ngồi xuống cầm chầu, mặt hướng về sân khấu. Suốt buổi hát, chấp sự túc trực xem để điều khiển tiếng trống và quan trọng nhất là phải biết “thưởng chầu” đúng lúc để tỏ thái độ tôn trọng và khích lệ người diễn. Một đoạn diễn hay, một khúc hát được mọi người tán thưởng, nhưng phải có tiếng “thưởng chầu” vang lên đều đặn thì mới thật sự là một đêm diễn thành công. 

Chấp sự cầm chầu phải nắm chắc kiến thức về nghệ thuật hát bội, vì cần phải chủ động điểm câu cho nghệ sĩ rất chuẩn. Đến những những đoạn cao trào, khi câu hát ngân lên rồi thả xuống, hoặc khi diễn viên thể hiện chi tiết đắt giá, tiếng trống chầu không đơn giản chỉ vang lên từng tràng dài mà nhịp trống còn phải có sức dồn nén, hối hả và lay động. Người cầm chầu chính là người góp phần làm tăng sức hấp dẫn của một buổi diễn.

Nhà vỏ ca đình Tân Bản. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Ông Bùi Văn Lang (71 tuổi, ngụ KP.5, phường Bửu Hòa) là Hương lễ của đình Tân Bản nói thêm, phần lớn Hương cổ trong đình phải là người có sức khỏe tốt vì trong lúc hành lễ phải đánh trống suốt 2 tiếng đồng hồ. Thường những người giữ chức Hương cổ đều vào độ tuổi 70 nên sức khỏe không còn như lúc mới vào làm việc trong đình. “Mới hôm trước đi đám tang, có ông vì không chịu nổi nhang khói mà trong lúc đánh trống bị ngất xỉu phải đem ra ngoài cho thoáng mới tỉnh lại được đó. Ở vị trí nào thì sức khỏe cũng là điều quan trọng, không thể đang cử hành lễ mà ông Hương cổ lại ngất xỉu được nên chúng tôi phải luôn có người túc trực để thay thế khi có chuyện xảy ra” - ông Lang cho biết.
Khi ban quý tế đình Tân Bản đến đông đủ, bên bình nước trà, mọi người bắt đầu nói chuyện về tết của gia đình mỗi người. Nhưng khi nhắc đến chuyện mời gánh hát về diễn cho bà con xem thì không khí bỗng dưng chùng xuống, mỗi người đều thở dài có vẻ như luyến tiếc. Thấy chúng tôi không hiểu, ông Ổi giải thích: “Ngày xưa còn có đông người coi, trẻ con hồi đó cũng thích đi xem hát như người lớn chứ không như bây giờ. Hát bội phần lớn diễn vào buổi tối, đến khuya mới xong, giờ chỉ còn người già đến coi, nhiều lúc họ mệt rồi bỏ về chỉ còn đào hát ở trên sân khấu, chấp sự cầm chầu và vài người chịu khó ở lại. Lắm lúc nghĩ mà buồn nhưng không trách ai được, thời đại giờ có nhiều thứ hấp dẫn hơn là đi xem hát. Một lần mời đoàn hát về là tốn rất nhiều tiền, nếu như bà con ai cũng chịu coi thì chúng tôi cũng cố gắng vận động mọi người đóng góp để mời đoàn hát về cho bằng được. Nhưng còn mấy ai thích coi nữa ngoài mấy ông già chúng tôi…” - ông Ổi thở dài luyến tiếc.

Thường thì phải mất nhiều năm để một người mới vào có thể nắm được hết những quy tắc trong việc đánh trống dịp lễ tế. Và còn mất nhiều năm hơn nữa mới có thể tự tin cầm chầu ở những đêm hát bội, vì chấp sự không chỉ là người “thưởng chầu” mà còn là người giữ “linh hồn” cho cả buổi diễn, là người chắp mối liên hệ giữa người diễn và người xem. “Đó, khổ vậy đó mà thằng cháu tôi ở nhà vẫn đòi tôi nói ông Ổi dạy đánh trống để sau này được cầm chầu…” - ông Lang cười rất tươi, một không khí vui vẻ át đi những tiếng thở dài luyến tiếc vừa rồi.

Nắng vẫn vàng ươm trên tán lá xum xuê che mát sân đình, trước mắt tôi những người ở bên kia cái dốc cuộc đời đang âm thầm gìn giữ những giá trị văn hóa, lịch sử của vùng đất này.

Đăng Tùng

Bác sĩ Nguyễn văn Hoài, Người thầy thuốc hiến trọn đời mình cho một hạng người bạc phước

đăng 19:47, 21 thg 7, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Tôi đến đó vào một buổi sáng đẹp trời nhằm lúc cuối năm.

Nắng vừa đủ để giữ lại chút lạnh ban mai, còn vương trong bầu không khí bình yên của khu nghĩa địa.

Và dưới tàng cây cổ thụ, phần mộ của người bác sĩ giám đốc Việt đầu tiên của Dưỡng trí viện như tươi cười với lớp sơn tươi, vôi mới. Lòng tôi cũng thấy vui vui khi ngắm ảnh bán thân của người quá cố gắn ở trước mộ phần: nét mặt, đường môi tỏa một niềm thanh thản lâng lâng. Với người an nghỉ nơi đây, quả là sống ở, thác về. Sống, ở với lớp người xấu số để chăm sóc, vỗ về cả một phần tư thế kỉ, thác, về bầu bạn với mãi mãi với những bịnh nhân tứ cố vô thân hoặc quê hương cách xa diệu vợi mà đành gởi thân ở tại chốn này. Lời của bác sĩ giám đốc hiện tại bỗng trở lại trí tôi:

“Quí báo nói đến Dưỡng trí viện mà không nhắc đến bác sĩ Nguyễn Văn Hoài, là một điều chưa dầy đủ. Nếu ông không cương quyết và kiên nhẫn dùng cả lí và tình để thuyết phục người đại diện của của ủy ban nhân dân tỉnh bộ Biên Hòa thì Dưỡng trí viện này đã chịu chung một số phận với Dưỡng trí viện Vôi ở Bắc: chỉ là những đống gạch ngói ngổn ngang…”

Đêm cuối tháng 10 năm 1945 ấy, thật là đêm mà số phận của Dưỡng trí viện như chỉ mành treo chuông.

Người đại diện của ủy ban nhân dân tỉnh bộ Biên Hòa đưa ra lịnh vườn không nhà trống. Nhà, trại ở đây, quân đội Pháp viễn chinh đến đồn trú tiện lợi vô cùng, cần phải triệt phá và dời Dưỡng trí viện vô… rừng.

Người y trưởng cho biết rằng bịnh nhân người Pháp đã đưa đi xa, và đã cho ra bớt những bịnh nhân có thể sống ở ngoài. Mấy trăm bịnh nhân hiện còn nếu bỏ cái thế giới này vốn tạo ra cho họ thì thế nào cũng trở nên nguy hiểm và phá rầy xã hội thêm. Nhà cầm quyền Pháp không dại gì mà làm một việc thất nhân tâm như thế. Còn ta mà hành động như vậy là lợi cho địch trong việc tuyên truyền của chúng. Từ ngày Nhật đảo chánh, ban Quản trị đã vất vả nhiều để chạy ăn từng bữa cho mấy trăm người bịnh, một mai phải “dựng” viện dưỡng trí ở giữa rừng, thì đó là một cách giết mòn họ bằng cái đói. Chưa kể việc coi giữ họ trong hoàn cảnh ấy, gần như là không thể được. Và số người mất hẳn trí khôn hay nửa mê nửa tỉnh ấy mà đi lang thang trong rừng, bụi thì bất lợi cho cuộc chiến tranh du kích: họ sẽ vô tình tiết lộ bao nhiêu bí mật…

Người đại diện tỉnh bộ nghe xuôi tai, và khi ủy ban phải rút lui trước quân đội Pháp, Dưỡng trí viện Biên Hòa chỉ mất đi một số thuốc men, mà không mất một viên gạch, một miếng ngói nào.


Thì ngày nay, nói đến Dưỡng trí viện này mà chẳng nhắc đến người y sĩ điều trị, trong suốt mười lăm năm (1930-1945), người y trưởng giám đốc mười năm kế đó (1945-1955), quả là một điều thiếu sót, đúng như lời nhận xét của người giám đốc giờ đây.


Cho nên sau khi chúng tôi mời các bạn chuyện trò cùng giám đốc suốt một buổi sáng, sau khi đưa các bạn vào “thế giới người điên” cả một buổi chiều, chúng tôi thấy có bổn phận cùng các bạn tìm hiểu con người mà chính phủ đã lấy tên để đặt cho cái Dưỡng trí viện duy nhất của toàn nước Việt chúng ta.

Người trai Vĩnh Long (1) ấy thật là một người kì cục. Lắm người thân (trong vòng bà con cũng như trong vòng bè bạn, thuộc viên) đã nửa đùa nửa thật gán cho cái tĩnh từ …”gàn”.

Không “gàn” sao, sau sáu năm tốt nghiệp được thuyên chuyển về chẩn y viện Sài gòn (2), lại “động lòng chữ nghĩa”, tạm rời nghề thầy thuốc để sang Pháp học tại đại học đường Sorbonne.

Không “gàn” sao mà khi trở về nước, năm 1930 lại xin bổ nhậm tại nhà thương điên Biên Hòa (3), vì “không ai chịu đến nơi ấy, thì mình đến vậy”.

Nhưng một khi tự nguyện vào cái “thế giới người điên” nọ, thì người thầy thuốc tuổi vừa trên “tam thập” ấy lại tỏ ra sáng suốt hơn người thường.

Ông đọc trong sách báo, ông học ở các bậc đàn anh, ông quan sát bịnh nhân trong mấy năm trời, để quyết tâm hiến trọn đời mình làm sao cho cái “địa ngục nhốt người điên” biến thành cõi “thiên đường” cho người đi dưỡng trí.

Đường đi được sửa sang, cây cỏ bông hoa được trồng thêm, tượng mĩ thuật được đặt ở giữa bồn hoa này, ở góc vườn nhỏ nọ, các lối lại qua sạch sẽ đến đỗi một du khách ghi trong quyển sổ Vàng của viện (trang 177, ngày 25-12-1953): “Cầm một mảnh giấy con, tôi không biết bỏ vào đâu!” Và dưới thời chánh phủ quốc gia Trần Văn Hữu, người lèo lái “con thuyền dưỡng trí viện” đã cực lực tranh đấu để khỏi bớt khẩu phần bịnh nhân vì lí do: tiết kiệm ngân quĩ quốc gia.

Cố tạo một “thiên đường” vật chất, mà nhất là cố gây một “thiên đường” tâm tình.

Người bịnh bước vô đây, không còn là một “kẻ phải nhẫn nhục”, một “ca”, một “đơn vị”, mà là một tiểu vũ trụ cần phải tìm hiểu lần hồi. Và trong việc ni, ít ai chịu khó bằng con người của Khoa học, của Tâm lí học và của Thần học (4) này: hỏi thân nhân người bịnh trước, rồi hỏi người bịnh, lúc họ mê, lúc họ tỉnh, khi sáng khi họ vừa thức dậy, khi trưa họ toan nằm nghỉ và cả nửa đêm! Người thích thơ, thì có sổ để gửi gắm ý tình. Người thích vẽ, thì đã có màu, có vải…

Sự tận tụy và tình thương của người điều khiển đối với bịnh nhân đã truyền sang các nhân viên, và từ khi thời cuộc khiến ông phải “chen vai vô vác” cái gánh nặng do ông giám đốc người Pháp để lại, thì tình tương thân tương ái giữa những người có trách nhiệm trong việc sống còn của Dưỡng trí viện lại càng thêm chặt chẽ.

Vì người giám đốc Việt đầu tiên này vừa là một nhà khoa học vừa là một kẻ tu hành. Một kẻ tu hành không chấp nê, và rất tôn trọng tín ngưỡng của người khác.

Tìm hiểu hoàn cảnh mỗi thuộc viên để giúp đỡ, để khuyên lơn, ông như một người anh cả của đại gia đình Dưỡng trí viện, một người anh cả nghiêm minh và rộng lượng.

Người giám thị đầu hai thứ tóc ấy nói với tôi :

“Vì thời cuộc lộn xộn năm 1945 tôi thôi làm và lên Nam Vang tìm sanh kế. Hai năm sau, ông già bà già tôi thấy mình sắp yếu, muốn tôi về làm việc lại để gần nhau. Ông biết được, viết thơ cho tôi, rồi lo mọi giấy tờ để tôi sớm về với gia đình. Nhờ ông tận tình giúp đỡ mà tôi được gần gũi mẹ cha già và được làm lại ở đây.”

Một giám thị khác, làm lâu năm nhất, cho tôi biết, trong mấy năm “đen tối” 1946 – 47 phòng Nhì của Pháp đã phải bực mình với bác sĩ Hoài: ông cực lực binh vực nhân viên nào bị bắt một cách oan uổng. Vài nhân viên bị bắt, bị một nhà cầm quyền trong tỉnh cho tra tấn để buộc họ khai cho ông tiếp tế cho Việt Minh hầu thỏa chút hiềm riêng, nhưng không một ai chịu mở miệng khai gian cho người chủ và ân nhân của họ, một người mà họ biết rõ chỉ sống chết cho Dưỡng trí viện, không màng gì đến lợi, danh, một người mà đời như chữ I.

Chữ I ngay thẳng.
Chẳng vì ai,
Chẳng tùy ai,
Chẳng khuất ai,
Mãi mãi ta theo ánh sáng…(5)

Người y tá có tuổi ấy ngậm ngùi:

“Ông Hoài lúc nào cũng binh vực nhân viên, và nhất là người bịnh. Chính phủ hơn mười năm trước định bớt khẩu phần bịnh nhân, ông mạnh dạn chống lại: “Họ là hạng người xấu số nhất, tâm đã rối, trí đã loạn rồi nay lại làm cho bao tử họ thiếu ăn, để cho cơ thể họ suy mòn, ảnh hưởng không hay đến tâm trí họ thì có khác gì giết phức họ đâu.

“Xin cấp trên tìm cách “tiết kiệm” ở những nơi khác.”

Và nhắc đến ông, người thủ môn già ấy mơ màng :

“Tôi còn nhớ nhiều lần, có những ông già bà cả nghèo khó ở miệt dưới lên thăm con phải ở lại đêm. Ông biết được, bảo người nhà nấu cơm thêm, mời họ ăn, tặng tiền về xe, và ông nhờ y tá cho họ uống thuốc ngừa cảm vì tuổi lớn, đường xa…!”

Nắng đã chan hòa khắp khu nghĩa địa. Vài con chim sẻ ríu rít trên cây gõ lâu đời. Chiếc ảnh lớn bằng sứ của người mà đời sống đã dính liền với đời của Dưỡng trí viện như sáng lên, và cái cười nhẹ thoáng ở đôi môi sao như vừa hết sức gần người lại như vừa vô cùng thoát tục. Tôi nhớ lại đã gặp ảnh này ở nhiều nhà nhân viên trong cư xá Dưỡng trí viện, và cùng một lúc, tôi nhớ lại lời một số bịnh nhân lâu đời : “Bác sĩ Hoài à? Ổng tử tế lắm mà! Quên sao được.”

Và tôi mơ màng tưởng tượng lại cảnh nơi đây, trên bảy năm về trước, ngày 31-5-1953 (6): một cái quan tài, một đám đông người đưa, tất cả nhân viên Dưỡng trí viện thọ tang, và những bịnh nhân quỳ xuống, (7) khóc, khi quan tài chầm chậm đi qua.. Và hẳn lúc sống trên dương gian cũng như khi nằm trong lòng đất, không bao giờ người thấy cô đơn.
___________
Chú thích của tác giả:

(1) Ông sanh tại Long Châu, tỉnh Vĩnh Long, ngày 7-6-1898.

(2) Ông được bổ nhậm ngạch y sĩ ngày 16-4-1919, và được bổ nhậm ở Tây Ninh, Trảng Bàng, Tam Bình (Vĩnh Long), rồi Long Xuyên.

(3) Nhận việc ngày 16-1-1930.

(4) Ông nghiên cứu tất cả các tôn giáo, nhất là Phật giáo và quan tâm đến những gì dính líu đến siêu hình.

(5) Trích trong bài thơ “Phong hóa chữ I” của cố bác sĩ Nguyễn Văn Hoài.

(6) Ông mất sáng ngày 28-5-1955, lúc 5 giờ, vì đứt gân máu ở tim. Ông để lại các tác phẩm: Lược khảo về các vấn đề Hòa bình, 1950 (Pháp và Việt văn). Điên? Dưỡng trí viện? , 1952 (quyển sách đầu tiên của người Việt nói về bịnh điên và Dưỡng trí viện),Adolf Hitler, 1952 (xét như một bịnh nhân tâm trí, bằng Pháp văn), Về sự tổ chức Dưỡng trí viện miền Nam nước Việt, 1954 (luận về bác sĩ Y khoa, bằng Pháp văn) và nhiều bản thảo trong đó có tập : “…Từ bịnh tâm trí đến sự giết người“.

(7) Một người Pháp đưa đám nói lại với phóng viên báo Journal d’ Extrême-Orient (số 1989, ngày thứ năm 2-6-1955: “Chưa bao giờ tôi thấy người đưa đám mà trầm ngâm và đau xót thật tình như vậy!” Và một nhà mô phạm ở Đô thành, bạn và cưu bịnh nhân, đã cạo trọc đầu từ ấy đến nay để khóc người tri kỉ.

NGUIỄN NGU Í.
Nguồn : Tạp chí Bách Khoa số 149. Năm thứ 7 – Ngày 15-3-63.

 

 

 

"Vườn Kiều" độc nhất vô nhị ở Việt Nam

đăng 04:31, 3 thg 10, 2014 bởi Pham Hoai Nhan

Đền thờ cụ Nguyễn Du trong vườn Kiều


Ở khu phố 4 (phường Bình Đa, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) có khu vườn vô cùng lạ mắt mang đậm chất truyện Kiều. Người dân trong vùng vẫn quen gọi đây là “biệt thự vườn Kiều” hay vườn thơ, vườn Kiều. Chủ nhân khu vườn lạ lùng ấy vốn là nông dân nuôi heo có tiếng Phạm Văn Khoát (bút hiệu Bá Khoát, SN 1933)

Vườn Kiều độc nhất vô nhị

Về phường Bình Đa, hỏi vườn Kiều ai đều biết. Đó là khu vườn rộng chừng 3.000m2 nằm trong một con hẻm tĩnh lặng. Vừa bước vào đầu ngõ, du khách được chào đón bởi hai câu thơ: “Vườn Kiều đón khách du xuân/ Đọc thơ ngắm cảnh thương thân nàng Kiều”. Cảnh vật tại đây được chủ nhân bài trí đậm nội dung truyện Kiều như tượng Kim Trọng trên lưng ngựa, tượng hai chị em nàng Kiều e ấp trước mộ Đạm Tiên… Kế bên, chủ nhân dựng thêm tượng bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương với chú thích “Người tình của Nguyễn Du”.

Đi sâu vào vườn Kiều, sẽ bắt gặp đền thờ Đại thi hào Nguyễn Du do chính tay ông Khoát thiết kế và xây dựng. Mỗi năm vào ngày 16/9, ông và những người yêu mến truyện Kiều lại tổ chức đám giỗ tưởng nhớ tác giả Nguyễn Du tại đây. Dẫn khách đến đâu, chủ nhân đều giải thích tỉ mỉ những cảnh vật được trưng bày mang nội dung gì.

Chẳng hạn như trong truyện Kiều có loại cây nào, ông chủ khu vườn đều sưu tầm mang về trồng bằng được. Hiện cả khu vườn có hơn 100 tượng động vật, giống cây như thế. Không chỉ trang trí khu vườn bằng cây cối, ông Khoát còn xây dựng những công trình được nhắc đến trong truyện Kiều như Liễu Chương Đài, Am Các Tự hay nhà của Hoạn Thư. Dưới mỗi bức tượng hay cây cảnh đều có chú thích bằng chính thơ trích ra từ truyện Kiều. Ví như cây Mai và Trúc được chú thích: “Muôn ngàn người thấy cũng yêu/ Xôn xao anh yến, dập dìu trúc mai”. Tỉ mỉ hơn, ông Khoát còn đề rõ rõ câu thơ mình trích ra nằm ở câu thứ bao nhiêu.

Tượng chị em Thuý Kiều trước mộ Đạm Tiên


Không chỉ trong vườn, ngay tường rào cũng trở thành diện tích khắc họa ngót nghét 20 chương trong truyện Kiều. Ông không quên thanh minh, vì tường rào chỉ dài 200m nên chỉ chép đủ 20 bức điêu khắc tương đương 20 chương. Những bức tường này do chính tay ông Khoát thiết kế. Kỳ công hơn, ông chủ vườn Kiều còn cho người đào ao thả sen và xây gác nhỏ giữa hồ lấy tên “Lầu Ngưng Bích”, nơi Thuý Kiều từng ngồi ngắm cảnh. 

Ông Khoát chia sẻ cơ duyên xây dựng nên khu vườn Kiều. “Lúc 32 tuổi, tôi bị suy tim và được khuyên thường xuyên tắm biển. Mỗi năm phải tắm ít nhất 15 ngày nên có thời gian đọc truyện Kiều. Rồi dần dần tôi cảm nhận được nội dung ẩn chứa bên trong”, chủ khu vườn nói. Thế rồi ông Khoát bắt đầu nghiền ngẫm từng câu từng chữ, tìm đọc đủ 104 điển tích trong truyện Kiều. Còn về khu vườn, chủ nhân bộc bạch, có nhiều cách thể hiện tình yêu truyện Kiều như phổ nhạc, vẽ tranh. 

Riêng ông muốn lập khu vườn tạo thú vui tuổi già. Ý tưởng ấy được biến thành hiện thực vào năm 1996 khi ông dứt bỏ cơ bản công việc làm ăn và hoàn thiện trong những năm sau đó. Hiện tại chủ nhân khu vườn vẫn tiếp tục cải tạo vườn Kiều để những du khách đến đây thực sự hoà mình vào câu chuyện trong truyện Kiều, cảm nhận hết nội dung tác phẩm.
“Vua” nuôi heo trở thành chủ vườn thơ 

Bộc bạch tâm sự, ông Khoát cho biết cảm thấy rất vui từ khi nghiên cứu truyện Kiều. Càng vui hơn khi hội Kiều học là nơi trao đổi về truyện Kiều được thành lập vào năm 2011. Đây được xem là diễn đàn giới nghiên cứu đưa ra quan điểm mới nhất về tác phẩm làm nên tên tuổi Đại thi hào Nguyễn Du. Ông Khoát bật mí, ngày giỗ năm nay sẽ ra mắt văn phòng đại diện hội Kiều học ở Đồng Nai, lấy nơi làm việc là lầu Ngưng Bích.

Chân dung ông lão mê truyện Kiều


Thông tin bất ngờ ít ai biết đó là chủ vườn Kiều vốn được biết đến với biệt danh “Vua” nuôi heo. Kể về bí mật này, ông Khoát tươi cười: “Tôi nuôi heo từ năm 1963. Có được biệt danh trên nhờ vào năm 1993, đài phát thanh truyền hình Đồng Nai mời tôi diễn vai trong bộ phim “vua nuôi heo” tham dự cuộc thi sản xuất giỏi. Phim đạt được giải 3 toàn quốc. Tên gọi “Vua” nuôi heo gắn luôn vào cuộc đời từ đó. Tôi cảm thấy vui bởi tên gọi có phần kỳ quái này lại hợp với nghề nghiệp của bản thân”.

Ngoài đời thường, ai cũng thừa nhận ông Khoát xứng đáng với “chức” “Vua” nuôi heo. Từ trang trại nhỏ ban đầu, người đàn ông này đã gầy dựng thành công ty chăn nuôi Thanh Bình. Ông kể: “Tôi vốn quê ngoài miền Bắc di cư vào Nam từ năm 1954. Nhận thấy nghề nuôi heo phù hợp nên đã đeo đuổi. Lúc đầu chỉ nuôi vài chục con, sau đó tăng lên 300 con và trên 10.000 vào lúc cao điểm”. Trang trại ông Khoát từng được các đối tác nước ngoài kí kết hợp tác làm ăn. Không chỉ làm giàu cho bản thân, ông Khoát còn tạo việc làm cho người dân địa phương, giúp họ ổn định cuộc sống. 

Bất ngờ hơn khi biết người đàn ông giỏi làm kinh tế, đam mê nghệ thuật này chỉ học hết lớp 5. Ông bộc trực chia sẻ, do không thi đỗ kì thi chuyển cấp đành bỏ học vào miền Nam lập nghiệp. Thời gian này, ông Khoát kiên trì theo học hệ bổ túc nâng trình độ học vấn đến lớp 9. 

Ông mê thơ đến mức bỏ tiền túi tự thưởng cho mình chuyến xuất ngoại sang Trung Quốc, tìm đến những nơi mà nhân vật Thuý Kiều từng đi qua như Giang Tô, sông Tiền Đường, Vô Tích, Châu Thai để thoả trí tò mò. Chưa hết, ông còn tự lập bản đồ riêng về hành trình cuộc đời của nhân vật nữ “hồng nhan bạc mệnh” Thuý Kiều. Từ khi nhường chức giám đốc trại heo cho con trai, ông Khoát “bán” phần đời còn lại cho truyện Kiều. 

Giải nghệ nghề nuôi heo hơn gần 20 năm nay, nỗi trăn trở lớn nhất của ông Khoát là niềm tiếc nuối bởi trang trại do mình sáng lập đã chuyển sang nuôi gà. Giải thích việc chuyển đổi vật nuôi, ông Khoát nói: “Bây giờ người nuôi heo sử dụng thuốc tăng trưởng nhiều quá khiến những người nuôi heo trung thực như tôi không cạnh tranh lại. Bởi vậy đành thay đổi, chuyển sang nuôi gà”.

Bùi Yên

Trịnh Hoài Đức - Sứ thần tài hoa

đăng 08:08, 6 thg 8, 2014 bởi Pham Hoai Nhan

Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825) là một danh thần thời Nguyễn Ánh mới khởi nghiệp đồ vương. Lăng mộ của ông hiện nằm trong một con hẻm nhỏ thuộc P.Trung Dũng, Biên Hòa, Đồng Nai. 

Đem thân đền ơn nước 

Lăng mộ nằm trong khu vực khu phố 3, tuy khuất trong khu dân cư, cạnh con hẻm nhỏ nhưng vẫn tạo được sự chú ý của người qua đường bởi quy mô hoành tráng, bề thế… Nghe nói trước năm 1975, hằng năm vào dịp lễ Thanh minh, con cháu hậu duệ của Trịnh Hoài Đức từ nhiều nơi quy tụ về cúng viếng rất trang trọng nhưng về sau không còn duy trì. 


Lăng mộ Trịnh Hoài Đức và phu nhân tại Biên Hòa, Đồng Nai - Ảnh: H.Đ.N 


Năm 1998, nhân kỷ niệm 300 năm miền đất Biên Hòa - Đồng Nai, mộ Trịnh Hoài Đức được trùng tu, tôn tạo, những ngôi nhà dân xâm phạm di tích được giải tỏa, lăng mộ được bảo vệ bằng tường thành bờ bao chắc chắn, nhưng khi chúng tôi đến thăm (cuối năm 2012), người quản trang là một cựu chiến binh đã dẫn chúng tôi đi một vòng để thấy bờ tường có dấu hiệu bị nghiêng, nứt lún ở góc bên phải lăng mộ. Hai ngôi mộ chính (của Trịnh Hoài Đức và phu nhân họ Lê) vẫn giữ được kết cấu nguyên thủy: xây bằng đá ong tô hợp chất, nấm mộ hình voi phục, xung quanh có gờ hình móng ngựa. Phía trước mộ ông có bia đá, khắc câu đối: “Trí thân tòng hứa quốc/Đáo xứ tiện thành gia” (Đã đem thân đi đền ơn nước/Thì nơi đâu cũng có thể xem là nhà). Phía trước cổng vào mộ cũng có bức bình phong lớn khắc chữ Hán ghi vắn tắt phẩm tước của Trịnh Hoài Đức và phu nhân. Thời gian và người lập bia cũng được ghi rõ: “tháng 11 năm Ất Dậu, các con là Trịnh Thiên Lễ Nhiên, Trịnh Thiên Nhiên Bảo và Trịnh Thiên Bảo phụng lập”.


Trịnh Hoài Đức sinh năm 1765, tự là Chi Sơn, hiệu là Cấn Trai. Tổ tiên ông vốn là người Phúc Kiến (Trung Quốc). Khi nhà Thanh thay nhà Minh, vì không chịu thần phục Thanh triều nên ông nội của Trịnh Hoài Đức đưa con cháu sang Việt Nam lập nghiệp. Cha Trịnh Hoài Đức kết hôn với một người Việt và sinh ra Trịnh Hoài Đức nhưng khi người con mới 10 tuổi thì ông bố mất. Mẹ ông là người đảm đang, đã dắt con đến thọ giáo thầy đồ Võ Trường Toản. Tại lớp học của thầy, Trịnh Hoài Đức có hai bạn học là Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tĩnh. Cả ba đều nổi tiếng về văn chương, thi phú. Họ lập nên Bình Dương thi xã cùng nhau xướng họa không thua kém gì Chiêu Anh các do Mạc Thiên Tứ lập ra tại miền Hà Tiên. Người đương thời rất nể phục ba ông, họ gọi là Gia Định tam gia. Năm 1788, chúa Nguyễn Ánh mở khoa thi ở Gia Định, cả ba ông đều ứng thí và cùng đỗ đạt.


Con đường hoạn lộ của Trịnh Hoài Đức thênh thang từ đó. Ông lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy cai trị của nhà Nguyễn, có lúc được cử làm thượng thư của cả hai bộ: Lại (nội vụ) và Binh (quốc phòng). Nhiều lần, ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc.


Trong lần đi sứ đầu tiên nhân vua Gia Long lên ngôi (1802), ông có làm tập thơ Quan quang tập (tức Bắc sứ thi tập - trong Cấn Trai thi tập), mà theo thạc sĩ Lê Quang Trường (Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM) đã toát ra được phong thái ung dung tao nhã của một sứ thần Việt Nam trong giao tế, đối đáp với các nhân sĩ Trung Quốc bằng sự tự hào dân tộc, đồng thời cũng nói lên tâm sự của một sứ thần người Việt gốc Hoa đã sinh ra, chịu ơn và thấm nhuần đạo lý văn hóa của dân tộc Việt tại mảnh đất miền Nam. Trịnh Hoài Đức còn ứng xử khéo léo đối với triều đình Mãn Thanh khi họ không chịu phê chuẩn quốc hiệu, còn với tư cách một văn sĩ khi giao lưu với các nhân sĩ Trung Hoa ông lại tỏ ra rất tài hoa và lịch thiệp. Trong bài Sứ hành tự thuật, Trịnh Hoài Đức còn nói đến sự ứng biến của ông khi nói tiếng Quảng Đông, khi nói tiếng Bắc Kinh, và chuyện ông phải để râu để giữ gìn quốc thể.


Nguồn gốc “Nông Nại đại phố”


Hiện nay chúng ta vẫn hay nghe mấy từ cổ “Nông Nại đại phố” để chỉ miền Cù lao Phố (Đồng Nai) mà không biết xuất xứ, thì ở đoạn chú thích từ một bài thơ trong tập thơ Quan quang tập, chúng ta mới hiểu ra: “Sứ đoàn đến tỉnh Hồ Nam, gặp mặt quan Tuần phủ Cao Kỷ, sau khi nói chuyện xong, Cao cầm lòng tay tôi, xem tướng chỉ tay, nhân hỏi rằng: Sứ bộ là người Nông Nại, cái tên Nông Nại ấy, xưa nay chưa từng nghe thấy, nay xem cách đi đứng nói năng của đoàn sứ bộ, thật là những người có văn hóa, giống với phong tục của Trung Quốc, so với sứ giả trước đây từ An Nam đến thật khác xa, ngỡ rằng Nông Nại là một nước xưa nào khác, văn học, phong tục, cương vực, thổ sản thế nào? Tôi bèn nói rành rọt hết, được đãi trà rồi lui. Thành Gia Định, thường gọi là Đồng Nai, thổ âm Quảng Đông gọi là Nông Nại. Đến khi quan Khổn thần là Tuần phủ Quảng Đông hỏi thăm biết được duyên cớ, khi lên đường, ông viết tấu là đoàn sứ nước ta là người Nông Nại, không phải là người Giao Chỉ An Nam như trước đây, cho nên những nơi sứ bộ đến, từ kinh, tỉnh, phủ, huyện đến sĩ dân, quan lại kiểm tra đều vì điều ấy mà tiếp đãi rất chu đáo, mà cái tên Nông Nại cũng được ghi chép vào sử quán vậy”.


Trịnh Hoài Đức mất năm 1825, thọ 61 tuổi. Vua Minh Mạng hết sức thương tiếc, truyền nghỉ triều 3 ngày, truy tặng ông chức Thiếu bảo Cần chánh Đại học sĩ, ban tên thụy là Văn Khác, phái hoàng thân Miên Hoằng đến nhà riêng tế lễ lại cho đưa linh cữu về Gia Định như nguyện vọng của ông. Ngày đưa tang, lại cho 400 lính Thần sách hộ tống linh cữu ra bến sông Hương. Về đến Gia Định, quan Tổng trấn là Lê Văn Duyệt thân hành đón tiếp và tế lễ, sau đó Lê Văn Duyệt còn hộ tống linh cữu về chôn cất ở quê mẹ ông - làng Bình Trước (dinh Trấn Biên, tức Biên Hòa ngày nay).


Trong kho tàng trước tác đồ sộ của Trịnh Hoài Đức thì Cấn Trai thi tập và Gia Định thành thông chí là đặc biệt có giá trị. Riêng bộ Gia Định thành thông chí (6 quyển) được coi là bộ sách được viết sớm nhất, đầy đủ nhất về địa hình, sông núi, cương vực, văn hóa phong tục, sản vật, giao thông, thành trì của xứ Đồng Nai - Gia Định trong thời đầu mở nước. Ngay khi người Pháp nhòm ngó đất Nam kỳ, họ đã dịch Gia Định thành thông chí ra tiếng Pháp (1863) để tìm hiểu và theo dõi.


Hà Đình Nguyên

Cây tung

đăng 22:09, 2 thg 7, 2014 bởi Pham Hoai Nhan

Rừng Nam Cát Tiên có nhiều cây cổ thụ: đa, gõ, tung... Gây ấn tượng với những đứa trẻ lần đầu biết đến rừng là cây tung.


Rể cây tung lan dài và tỏa ra như chiếc cánh.





Ba mình không lấy làm lạ, ông nói rằng xưa kia khi ông còn nhỏ ở trong rừng già Long Khánh - Xuân Lộc có nhiều cây tung lắm. Do rể tung cao và rộng như một tấm vách nên người dân tận dụng 2 mặt rễ để làm 2 mặt vách rất kiên cô và che thêm chút đỉnh là làm thành một túp nhà để ở.


Ở cái thời nhà tranh vách đất thì một bức vách thiên nhiên như thế này quả là... hàng xịn!


Đó là chuyện hồi Ba mình còn nhỏ, tức là khoảng thập niên 1930 - 1940. Từ hồi mình lớn lên ở Long Khánh tới giờ không nghe nói ở đâu có cây tung hết. Chắc người ta đã phá rừng trồng cà phê, chôm chôm... hết rồi. Bạn nào ở Long Khánh, Xuân Lộc biết thêm về chuyện này kể mình nghe với.


Giờ muốn thấy cây tung phải lên tuốt trên rừng Nam Cát Tiên. Hơi xa (khoảng 150 km, nếu đi từ TPHCM) nhưng cũng đáng để du lịch một chuyến, vì rừng nguyên sinh Nam Cát Tiên có lắm điều hay chứ không phải chỉ có cây tung.


Còn nếu không có thời giờ thì chỉ mất 30 phút thôi cũng có thể chiêm ngưỡng và chụp hình với cây tung. Cây tung này tuy không to bằng cây ở Nam Cát Tiên, nhưng cũng khá già và... đẹp lão. Đó là cây tung trong... Thảo Cầm Viên Sài Gòn!




Phạm Hoài Nhân

1-10 of 28

Comments