Nhân vật Đồng Nai và những sự kiện liên quan

Bài mới

  • Cây thông khổng lồ làm từ 2.100 nón lá, cao gần 30m ở Biên Hòa Cây thông khổng lồ 3 tầng, cao gần 30m được làm từ 2.100 nón lá, đèn điện lung linh thu hút hàng ngàn bạn trẻ đến check in mỗi ...
    Được đăng 03:19, 30 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Hai ngôi tháp cổ ở chùa Quốc Ân Kim Cang Phật tử, du khách ngày nay có thể đến viếng thăm ngôi Tổ đình Quốc Ân Kim Cang - một ngôi chùa đã từng được khai sơn hơn 300 năm trước ...
    Được đăng 04:42, 25 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chuyện về ngôi Tổ đình Quốc Ân Kim Cang Thiền sư Nguyên Thiều (1648-1728) là một thiền sư người Trung Quốc, thuộc phái Lâm Tế đời thứ 33, sang Việt Nam truyền đạo vào nửa cuối thế kỷ ...
    Được đăng 01:04, 4 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Triệu Gia Trang - nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống Từ đường Nhà thờ họ Triệu tại Triệu Gia Trang (ấp Vĩnh Hiệp, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu) vinh dự được Tổng Thư ký Liên hiệp UNESCO Thế giới ...
    Được đăng 07:17, 9 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chiêm ngưỡng tượng Phật ngọc lớn nhất thế giới tại Việt Nam Từ khối ngọc bích thô nặng 11,5 tấn được phát hiện tại Canada, trong hơn 1 năm các nghệ nhân Việt Nam đã chế tác thành công bức tượng ...
    Được đăng 04:35, 9 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 37. Xem nội dung khác »

Bài trong mục này


Cây thông khổng lồ làm từ 2.100 nón lá, cao gần 30m ở Biên Hòa

đăng 03:19, 30 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cây thông khổng lồ 3 tầng, cao gần 30m được làm từ 2.100 nón lá, đèn điện lung linh thu hút hàng ngàn bạn trẻ đến check in mỗi đêm thời gian gần đây.

Cây thông khổng lồ được làm từ 2.100 nón lá, cao 29m là một trong những điểm đến ưa thích của các bạn trẻ trong dịp lễ Giáng sinh 2019 - Ảnh: A LỘC


Đồng Nai với hơn 1 triệu giáo dân, sinh hoạt tại 272 giáo xứ và 15 cơ sở chờ lên giáo xứ, là địa phương đông giáo dân nhất cả nước.

Mỗi mùa lễ Giáng sinh, các giáo xứ trên địa bàn trang trí bằng hàng ngàn bóng đèn điện, đèn LED, mô hình hang động… rực rỡ, thu hút đông đảo đồng bào Công giáo đến dự lễ, cầu nguyện một mùa Giáng sinh an lành, hạnh phúc.

Trong không khí lễ Giáng sinh 2019, hàng ngàn người dân Đồng Nai ùn ùn kéo đến giáo họ Hà Phát (phường Tân Biên, TP Biên Hòa) chiêm ngưỡng, "check in" với cây thông khổng lồ vươn cao giữa trung tâm thành phố.

Mái vòm rộng gần 10m, được trang trí các dây đèn rực rỡ bắt mắt - Ảnh: A LỘC


Để dựng lên cây thông độc đáo này, bà con giáo dân huy động người mua nón lá từ nhiều nơi trong hơn 2 tháng, sơn phết chất liệu bảo quản, đấu nối bóng đèn rồi dùng cẩu nâng lên ghép lại.

Đây là năm thứ 2 liên tiếp giáo họ Hà Phát xây dựng mô hình cây thông từ nón lá. Mỗi đêm, địa điểm này thu hút hơn 5.000 người đến thăm quan, vui chơi và chụp ảnh lưu niệm.

Trong khi đó, con đường chạy dọc khu Hố Nai (TP Biên Hòa) dài chừng 5km có đến hàng chục giáo xứ, nhà thờ lớn nhỏ được xem là nơi nơi có tỉ lệ giáo dân đông nhất Đồng Nai. Không chỉ các giáo xứ mà các cửa hàng, trung tâm thương mại, nhà dân, ngỏ hẻm cũng được thắp sáng, trang trí lung linh màu sắc.

Giáo xứ Trung Nghĩa là một trong những nơi trang trí đơn giản mà đẹp mắt - Ảnh: A LỘC


So với các năm trước, mặc dù không khí đón Giáng sinh vẫn náo nhiệt nhưng qua ghi nhận, việc tổ chức trang hoàng của các nhà thờ, giáo xứ trên địa bàn có phần nhẹ nhàng, ít tốn kém hơn.

"Mấy hôm nay em đã đi nhiều nơi, so với mọi năm tuy số lượng đèn hoa ít hơn, em thấy một số giáo xứ trang hoàng rất cầu kỳ, đẹp mắt và chất lượng hơn hẳn so với năm trước, thu hút rất đông bạn trẻ đến chiêm ngưỡng, vui chơi", Thủy Tiên (ngụ TP Biên Hòa) chia sẻ.

Mỗi đêm, địa điểm này thu hút hàng ngàn bạn trẻ đến check in, vui chơi - Ảnh: A LỘC


Con đường dẫn vào giáo xứ Lộ Đức (TP Biên Hòa) ngập tràn ánh đèn - Ảnh: A LỘC


Mô hình hang động được trang trí tinh tế - Ảnh: A LỘC


Đồng bào Công giáo đọc kinh trước một mô hình hang động cầu kỳ đầy màu sắc - Ảnh: A LỘC


Một số mô hình đẹp như tranh bên trong một giáo xứ - Ảnh: A LỘC


Giáo xứ Hà Nội với nhiều tiết mục văn nghệ hoành tráng được chuẩn bị công phu để phục vụ đồng bào Công giáo dịp lễ Giáng sinh - Ảnh: A LỘC


“Ông già Noel” phát bánh kẹo cho các em thiếu nhi đi chơi lễ - Ảnh: A LỘC


Nhóm bạn trẻ vui vẻ chụp ảnh lưu niệm trong dịp lễ Giáng sinh - Ảnh: A LỘC


Lễ Giáng sinh ở Việt Nam là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Trong đêm Giáng sinh, trẻ em háo hức chờ sự xuất hiện của ông già Noel, gia đình bè bạn rủ nhau hội hè, yến tiệc, hát karaoke... và cầu chúc nhau an lành, hạnh phúc - Ảnh: A LỘC


A LỘC

Hai ngôi tháp cổ ở chùa Quốc Ân Kim Cang

đăng 01:06, 10 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 04:42, 25 thg 12, 2019 ]

Phật tử, du khách ngày nay có thể đến viếng thăm ngôi Tổ đình Quốc Ân Kim Cang - một ngôi chùa đã từng được khai sơn hơn 300 năm trước - tại huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai. Tuy nhiên đó là ngôi chùa mới được xây dựng lại cách đây 10 năm trên nền chùa cũ, vốn đã bị phá hủy hoàn toàn từ năm 1946. Di tích quan trọng nhất ở đây chính là ngôi tháp mộ của Tổ sư Nguyên Thiều, vị Tổ truyền phái Lâm Tế vào Miền Trung Việt Nam đầu tiên, và đã đóng góp nhiều công đức trong việc phục hưng và phát triển Phật giáo ở Đàng Trong.


Tháp mộ Tổ sư Nguyên Thiều


Xưa kia ngôi chùa này gọi là Chùa Kim Cang hay Chùa Tháp ở Đồng Nai, tọa lạc tại ấp Bình Thảo, xã Bình Phước, huyện Phước Long, dinh Trấn Biên. Ngày nay chùa thuộc ấp Bình Lục, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Theo lời kể của trụ trì chùa Cửu Thiên – Thủ Đức (là đệ tử của vị trụ trì Tổ đình Quốc Ân Kim Cang thời điểm 1946) và các bô lão ở địa phương ấp Bình Thảo kể lại thì người dân nơi đây vẫn thường gọi đây là “Chùa Tháp” vì chùa này có ngôi tháp cổ của vị Tổ Sư khai sơn Tổ đình Quốc Ân Kim Cang.


Chính nhờ ngôi tháp này mà sau nhiều năm quên lãng, người ta mới xác định lại được vị trí ngôi Tổ đình. Hiện nay chùa xưa chỉ còn lưu dấu nền Tổ đình và hai tháp cổ. Thông tin về 2 ngôi tháp cổ như sau (ghi lại theo bài viết của Pháp Tuệ, trên báo Giác Ngộ online ngày 14/11/2008):


1. Bảo tháp của Tổ Sư Nguyên Thiều húy Siêu Bạch: Theo năm tháng bảo tháp tuy bị xuống cấp nhưng vẫn còn dáng vẻ uy nghi và đồ sộ với: 

Mộ bia: bằng đá xanh. Trên mặt bia có khắc 3 hàng chữ Nho, phiên âm như sau:

  • Hàng chính giữa: Quốc Ân Kim Cang đường thượng, tam thập tam thế, húy Siêu Bạch Quán Bích Hòa thượng Tổ sư chi tháp 
  • Hai hàng hai bên: - Phổ Quang tự Yết ma Chủ hương; - Hội Khánh tự Giáo thọ Thiền chủ lập thạch; - Sắc tứ Từ Ân tự Hòa thượng Pháp sư; Chứng minh lịnh - Long Thạnh tự Hòa thượng; - Đức Sơn tự Hòa thượng; - Hưng Long tự Hòa thượng; Chư sơn đồng tạo.

Tháp Tổ: hình lục giác cao ba tầng, chiều cao từ mặt đất lên đến đỉnh tháp là 5,2m. Tháp dựng trên nền xây đá xanh hình chữ nhật, ngang 3m, dài 4m, cao 0,8m… 


Mặt trước là bia tháp: khắc nổi trên ô dước với 3 hàng chữ Nho, gồm: dòng giữa ghi: Quốc Ân Kim Cang đường thượng, tam thập tam thế, húy Siêu Bạch Quán Bích Tổ sư chi tháp; dòng bên mặt ghi: Tuế tại Kỷ Dậu niên, mạnh Thu, cát nhựt, hiệp chư sơn thiền đức đồng tái tạo; dòng bên trái ghi: Thập ngoạt, thập cửu nhựt viên tịch.


2. Tháp Phổ Đồng: Tương truyền đây là tháp của công chúa Ngọc Vạn, con của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, bà là vợ vua Chân Lạp Chey Chetta II, là người có công hộ trì Phật pháp và ủng hộ việc xây dựng Tổ đình Quốc Ân Kim Cang lúc bấy giờ.


Hình ảnh tháp Tổ sư Nguyên Thiều. Ảnh: Phạm Hoài Nhân, click vào ảnh để xem phóng to.





Phần tường bao xung quanh tháp có khắc bài minh của Chúa Nguyễn Phúc Chu (Hiển Tông hoàng đế) để ca ngợi công đức của Tổ sư. Phần chữ quốc ngữ khắc khá vụng về làm giảm phần nào giá trị của di tích.



Hình ảnh tháp Phổ Đồng. Ảnh: Phạm Hoài Nhân, click vào ảnh để xem phóng to.





Có vẻ như tháp đã được xây lại quá nhiều, không còn hình dung ra tháp ban đầu như thế nào. Các mặt bên của tháp có ghi tiểu sử công nữ Ngọc Vạn, các bài thơ của người thời nay ca tụng công đức của bà và cả ca ngợi công đức của công nữ Ngọc Khoa nữa! Theo ghi chép của Hòa thượng Thích Giác Quang trước khi tháp được tân trang (đặng trên website Linh Sơn Phật giáo) thì: Hình dạng Tháp là một bầu hồ lô tròn, đắp bằng một khối ô dước, cao 2 mét, đáy hình tròn, kính 2 mét.Bầu hồ lô dựng trên một nền vuông xây gạch thẻ nung, phía ngoài tô ô dước. Trên có khắc hoa văn. Tháp bị hư sập, chỉ còn phần dưới bầu hồ lô và nền tháp.


Điều đáng chú ý là trên bia tưởng niệm ở mặt bên của tháp ghi là Tháp mộ của Công chúa Ngọc Vạn. Bỏ qua chuyện lẫn lộn giữa công nữ và công chúa vì trong dân gian vẫn thường gọi lẫn lộn như vậy, thì chi tiết Tháp mộ không được các nhà nghiên cứu đồng tình. Theo các dữ kiện lịch sử thì không thể có việc mộ của công nữ Ngọc Vạn nằm tại đây. Do vậy, đây có thể là một tháp thờ hay tháp tưởng niệm công nữ Ngọc Vạn vì bà là một người có công lớn và đóng góp nhiều cho việc phát triển Phật giáo ở vùng đất này. Nguồn gốc và ý nghĩa của ngôi tháp này vẫn còn là điều bí ẩn.


Phạm Hoài Nhân

Chuyện về ngôi Tổ đình Quốc Ân Kim Cang

đăng 01:04, 4 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Thiền sư Nguyên Thiều (1648-1728) là một thiền sư người Trung Quốc, thuộc phái Lâm Tế đời thứ 33, sang Việt Nam truyền đạo vào nửa cuối thế kỷ 17. Ngài là vị Tổ truyền phái Lâm Tế vào miền Trung Việt Nam đầu tiên, và đã đóng góp nhiều công đức trong việc phục hưng và phát triển Phật giáo ở Đàng Trong. Sau vài thập kỷ hoằng hóa ở Bình Định và Thuận Hóa, Ngài cùng một số đệ tử vượt núi băng ngàn vào phương Nam, dừng chân tại vùng đất Đồng Nai. Tại đây, vào cuối thế kỷ 17, Ngài cùng các đệ tử là Ngài Minh Vật Nhất Tri kiến lập ngôi tổ đình Quốc Ân Kim Cang, Ngài Thành Nhạc khai sơn chùa Long Thiền, Ngài Thành Đẳng khai sơn chùa Đại Giác, Ngài Thành Ý khai sơn chùa Bửu Phong. Ngày nay, các ngôi Long Thiền, Đại Giác, Bửu Phong vẫn tồn tại ở Biên Hòa, Đồng Nai và là những ngôi cổ tự danh tiếng. Thế nhưng ngôi Tổ đình Kim Cang ở đâu?


Tổ đình Quốc Ân Kim Cang hiện ở xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, cách trung tâm TP Biên Hòa khoảng 12 km. Đây là ngôi Tổ đình:




Chánh điện của ngôi tổ đình là đây:



Sao nhìn dáng vẻ và kiểu cách kiến trúc ngôi chùa có vẻ mới quá, không giống một ngôi chùa cổ như giới thiệu ở trên? Đúng rồi, vì chùa mới được xây dựng khoảng 10 năm thôi mà! Sao kỳ vậy? Sao bảo là chùa xây dựng đã hơn 300 năm?


Chuyện thì dài lắm, xin được kể nghen.


Người ta ước định ngôi Tổ đình Kim Cang được khai sơn vào khoảng thời điểm thành lập đất Biên Hòa (1698), tức cách đây hơn 300 năm. Cùng thời điểm đó, những người Hoa nơi đây cũng lập nên một ngôi đền Thanh Long để thờ Quan Công, gọi là chùa Ông, cách Tổ đình Kim Cang chưa đến 1 cây số. Cuối 1946, do chiến tranh, cả tổ đình Kim Cang lẫn đền Thanh Long đều bị thiêu hủy hoàn toàn. 


Hơn 20 năm sau, năm 1968, khu đất nơi tọa lạc Tổ đình Kim Cang vẫn nằm trong khu vực mất an ninh, không được xây cất. Tín đồ Phật giáo và hương chức địa phương đứng ra xây dựng trên nền cũ của đền Thanh Long một cảnh chùa đơn sơ nhỏ hẹp để có nơi thờ phụng Tam Bảo và Quan Công (họ đã bán một số cây gỗ giáng hương trên phần đất của tổ đình Kim Cang và những huê lợi thu được từ những thửa ruộng, vườn hương hỏa của hai di tích để làm chi phí tái thiết). Chùa được ghép tên của hai di tích cổ lại thành Kim Long Cổ Tự.


Sau 1975, việc mất an ninh ở khu đất tọa lạc Tổ đình Kim Cang không còn nữa, nhưng thời ấy Phật giáo, chùa chiền không được coi trọng, vả lại người ta đã có một ngôi chùa là Kim Long cổ tự để thay thế cho ngôi Tổ đình Kim Cang rồi. Thế là ngôi Tổ đình bị quên lãng dần theo thời gian...


Chân dung Tổ sư Nguyên Thiều, theo hình ảnh lưu tại các chùa


20 năm sau, năm 1988, người dân khai hoang báo tin phát hiện một ngôi tháp cổ ở cách Kim Long cổ tự không xa. Hòa thượng Thích Minh Lượng, trụ trì Kim Long cổ tự, cùng chư tăng đến dọn dẹp, cạo mối, chùi rửa và cùng các nhà nghiên cứu giúp đọc văn bia, mới phát hiện là đó là bảo tháp của Tổ sư Nguyên Thiều, ở nền cũ của ngôi Kim Cang Quốc Ân.


Ngay tại thời điểm đó, cố Đại lão Hòa thượng Thích Huệ Thành, Phó Pháp chủ, nguyên Trưởng ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Đồng Nai, làm lễ chứng minh, nguyện hương cho công cuộc trùng tu ngôi bảo tháp của Tổ sư và xây dựng lại ngôi tổ đình. Tuy nhiên, mọi chuyện không đơn giản... Phần tài sản (ruộng đất) hương hỏa của tổ đình, một phần chính quyền địa phương trưng dụng, một phần dân chúng trong vùng chiếm canh chiếm cư chưa được trả lại.


20 năm sau nữa, năm 2008, Hòa thượng Thích Minh Chánh, thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Đồng Nai, trụ trì chùa Giác Minh mới đủ túc duyên phát nguyện xây dựng và trùng tu ngôi Tổ đình. Hòa thượng Trưởng ban và Ban Kiến thiết Tổ đình xin tán thán công đức của chư tôn giáo phẩm, chính quyền địa phương đã tận tình giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện đền bù, cấp phép xây dựng trùng tu và hai Phật tử Tâm Lộc và Diệu Hương đã phát tâm cúng dường tài thí số tiền hơn 1,1 tỷ đồng để đền bù giải tỏa trên khuôn viên chùa có được 4.609 m2. Ngày 19/10 Mậu Tý (16/11/2008), tại bảo tháp Tổ sư và trên nền chùa xưa diễn ra  lễ đặt viên đá trùng tu Tổ đình Quốc Ân Kim Cang…


Hòa thượng Thích Minh Chánh bên cạnh bảo tháp Tổ sư Nguyên Thiều (đã trùng tu). Ảnh: báo Giác Ngộ


Như vậy tiếng là ta đến viếng ngôi chùa cổ Quốc Ân Kim Cang, nhưng thật ra ngôi chùa là... mới tinh, chỉ có ngôi bảo tháp là cổ, và là tháp mộ của một vị danh tăng có công lớn trong việc hoằng hóa Phật pháp nước Việt. Ngoài ra, nơi đây còn một ngôi tháp nữa, gần như cùng thời với bảo tháp Tổ sư. Câu chuyện về 2 ngôi tháp này sẽ kể trong một bài viết khác nhé.


Phạm Hoài Nhân

Triệu Gia Trang - nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống

đăng 07:13, 9 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 07:17, 9 thg 10, 2019 ]

Từ đường Nhà thờ họ Triệu tại Triệu Gia Trang (ấp Vĩnh Hiệp, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu) vinh dự được Tổng Thư ký Liên hiệp UNESCO Thế giới và Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam công nhận và trao bằng bảo trợ di tích lịch sử, văn hóa. Đây được xem là phần thưởng nhằm khích lệ Triệu Gia Trang góp phần vào công tác bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của dân tộc. Triệu Gia Trang cũng là đơn vị tư nhân đầu tiên được nhận bằng bảo trợ này.

Từ đường “Triệu Gia Trang”


Tọa lạc tại hương lộ 9, ấp Vĩnh Hiệp, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, Triệu Gia Trang mang đặc trưng của lối kiến trúc Phật giáo. Khách đến Triệu Gia Trang có thể lầm tưởng đây là một ngôi chùa, bởi sự bề thế, khang trang của nơi thờ tự này (toàn bộ Triệu Gia Trang tọa lạc trên diện tích 5 ha). Tuy nhiên, đây chỉ là nơi thờ tự mang tính tư nhân của ông Trịnh Hữu Hòa, chủ nhân Triệu Gia Trang. Nơi thờ tự này được ông đặt cho tên gọi là Nam Minh Ðiện. 

Ông Trịnh Hữu Hòa bên bức tượng Quan Âm Bồ Tát bằng ngọc bích lớn nhất thế giới


Tên gọi “Triệu Gia Trang” hẳn cũng gây không ít tò mò cho nhiều người. Triệu Gia Trang nguyên là tên gọi của Từ đường họ Triệu ở thôn Trí An, xã Nam Hoa, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Ðịnh. Năm 2000, ông Hòa chuyển vào Nam sinh sống. Nhận thấy con cháu họ Triệu ở phía Nam rất đông, trong đó nhiều người sinh sống ở Ðồng Nai, được bạn bè giới thiệu, ông đã mua đất ở ấp Vĩnh Hiệp và lập nên Triệu Gia Trang phía Nam.

Ông Hòa tâm sự: “Gốc của tôi là họ Triệu. Tuy nhiên, thời kháng chiến, khi cha tôi tham gia cách mạng đã phải đổi tên để đảm bảo bí mật, lúc đó ông lấy họ Trịnh. Vì vậy, con cháu trong gia đình chúng tôi hiện nay đều mang họ Trịnh cả. Tôi mong muốn Triệu Gia Trang không chỉ là nhà của con cháu trong dòng họ chúng tôi mà những ai mang họ Triệu đều có thể về đây để tưởng nhớ tổ tiên mình. Hằng năm, vào ngày 24 tháng Giêng, chúng tôi đều tổ chức ngày giỗ tổ của họ Triệu. Lễ giỗ này nhằm nhắc nhở con cháu nhớ đến nguồn gốc của tổ tiên. Ðặc biệt, chúng tôi muốn con cháu noi gương tổ tiên để làm nhiều việc tốt cho xã hội”.

Nơi gợi nhắc giá trị văn hóa truyền thống…

Có lối kiến trúc mang đậm nét Phật giáo, tuy nhiên Nam Minh Ðiện không đơn thuần chỉ là nơi thờ Phật mà chủ nhân của ngôi Ðiện thờ này còn thờ phụng nhiều bậc thánh nhân, tiên tổ, những người có công với đất nước theo tín ngưỡng dân gian của người Việt. Vào ngày mùng 10-3 hằng năm, Triệu Gia Trang đều tổ chức lễ Giỗ tổ Hùng Vương. 

Ông Trịnh Hữu Hòa giải thích: “Tôi lập nên nơi thờ tự này trước hết là để giáo dục cho con cháu trong gia đình về ý thức gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống của người Việt Nam. Sau nữa, tôi cũng mong muốn tinh thần này lan tỏa trong cộng đồng. Tín ngưỡng mà tôi đang thờ ở đây là tín ngưỡng của người Việt Nam, là tinh thần “uống nước nhớ nguồn”: con cái sinh ra phải nhớ ơn cha mẹ, ông bà, tổ tiên; xa hơn nữa là nhớ ơn các bậc thánh nhân, các anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước”. 

Kiến trúc của Triệu Gia Trang mang đậm nét Phật giáo nhưng chỉ là cơ sở tín ngưỡng gia đình


Ðược biết, việc thờ cúng của Triệu Gia Trang đều tổ chức theo nghi lễ truyền thống. Nếu là những lễ giỗ của gia đình thì do người trong gia đình ông Hòa thực hiện. Với những lễ khác thì những người làm lễ thường là chủ tế ở các Ðình được mời về. Ðặc biệt, một trong những nghi lễ thường được thể hiện ở Nam Minh Ðiện là hình thức hát Chầu Văn. Ðây là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam, là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (Ðạo Mẫu) và tín ngưỡng thờ Ðức Thánh Trần (Ðức Thánh Vương Trần Hưng Ðạo), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam… Ông Hòa cho biết: “Ðoàn hát Chầu Văn thường được mời từ ngoài Bắc vào, có khi nghi thức này đoàn hát Chầu Văn ở huyện Ðịnh Quán đảm nhiệm”.

Nơi nắm giữ nhiều kỷ lục

Tính đến thời điểm hiện nay, Triệu Gia Trang là nơi thờ tự tư nhân đầu tiên ở nước ta được nhận bằng bảo trợ của Tổng Thư ký Liên hiệp UNESCO Thế giới và Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam. Chủ nhân của Triệu Gia Trang cũng là người hiện đang nắm giữ nhiều kỷ lục. 

Tháng 4-2015, Hội đồng xác lập kỷ lục Việt Nam đã công nhận kỷ lục Việt Nam đối với 3 bộ tượng bằng ngọc bích được thờ tại Nam Minh Ðiện, gồm: Tượng Ðức Thánh Trần Hưng Ðạo bằng ngọc bích lớn nhất Việt Nam, ba pho tượng Tam tòa Thánh Mẫu bằng ngọc bích lớn nhất Việt Nam và Ấn Rồng bằng ngọc bích lớn nhất Việt Nam.

Trước đó, tháng 11-2012, Hiệp hội kỷ lục thế giới đã trao giấy chứng nhận bức tượng Phật Quan Thế Âm bằng ngọc bích lớn nhất thế giới cho ông Trịnh Hữu Hòa. Toàn bộ những công trình bằng ngọc bích đã được xác lập kỷ lục này được làm từ một khối ngọc bích nặng 11,5 tấn, có nguồn gốc từ Canada.

Ðược tin Tổng Thư ký Liên hiệp UNESCO Thế giới và Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam trao Bằng Bảo trợ Di tích lịch sử, văn hóa cho Từ đường Nhà thờ tổ họ Triệu tại Triệu Gia Trang, ông Hòa rất vui mừng vì: “Với việc trao bằng bảo trợ này, Liên hiệp các Hội UNESCO đã công nhận cơ sở thờ tự của chúng tôi là cơ sở tín ngưỡng có giá trị lịch sử, văn hóa và giáo dục truyền thống của người Việt Nam. Tôi hy vọng đây không chỉ là niềm vinh hạnh riêng cho gia đình, dòng họ chúng tôi mà còn là niềm vui chung của tất cả mọi người. Từ đây, Liên hiệp các Hội UNESCO sẽ có trách nhiệm tuyên truyền để nhân dân được biết về những giá trị văn hóa truyền thống này”.

Hải Yến - Thành Nhân

Chiêm ngưỡng tượng Phật ngọc lớn nhất thế giới tại Việt Nam

đăng 04:35, 9 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Từ khối ngọc bích thô nặng 11,5 tấn được phát hiện tại Canada, trong hơn 1 năm các nghệ nhân Việt Nam đã chế tác thành công bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát nặng 6,8 tấn với chiều cao 1,98m.


Bức tượng trên đang được an vị tại Nam Minh điện, thuộc ấp Vĩnh Hiệp, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Nơi thờ bức tượng là một khu lầu hình bát giác được dựng giữa một hồ sen thơm ngát.


Bức tượng có chiều cao 1,98m, rộng 1,53m, dày 1,08m, nặng 6,8 tấn, được tạc từ khối ngọc bích thô nặng 11,5 tấn.


Vào ngày 5/12/2012 bức tượng đã được Hiệp hội Kỷ lục Thế giới ghi nhận là “Bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát bằng ngọc bích lớn nhất thế giới”.


Bức tượng được chế tác trong hơn 1 năm bởi những người thợ Việt Nam với những đường nét hoàn hảo.


Tòa sen phía dưới được tạc bằng đá Saphia nặng 6 tấn.


Bệ đỡ bằng đá thạch anh trắng nặng 23 tấn được chạm nổi 9 con rồng. Tính cả bệ, bức tượng có chiều cao 4,3m.




Bức tượng đã nhận Giấy chứng nhận của Hiệp hội Kỷ lục Thế giới.


Nguyễn Cường

Người điêu khắc tượng tài hoa

đăng 04:02, 9 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 04:06, 9 thg 10, 2019 ]

Mới đây, nghệ nhân Nguyễn Văn Minh (xã Phước Tân, TP. Biên Hòa) đã được Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam trao bằng chứng nhận, phong tặng danh hiệu nghệ nhân ưu tú vì đã có công truyền dạy và bảo tồn nghề tiểu thủ công nghiệp điêu khắc đá. Anh chính là người điêu khắc nên bức tượng Quan Âm Bồ Tát bằng ngọc bích lớn nhất thế giới, hiện đặt tại Nam Minh Điện, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu.

Người có duyên tạc tượng Phật


Những ai đã có dịp được chiêm ngưỡng bức tượng Quan Âm Bồ Tát bằng ngọc bích lớn nhất thế giới do nghệ nhân Nguyễn Văn Minh điêu khắc sẽ không khỏi trầm trồ, ngưỡng mộ. Bức tượng không chỉ tinh xảo đến từng chi tiết mà còn rất có hồn, khiến cho người chiêm ngưỡng có cảm giác thân thiết đến kỳ lạ. Đó là điều mà không phải người thợ điêu khắc nào cũng làm được…

Chủ sở hữu bức tượng Quan Âm nổi tiếng nói trên là ông Trịnh Hữu Hòa, một Phật tử mộ đạo. Sau khi tìm mua được một khối ngọc bích nặng khoảng 11,5 tấn từ Canada, ông Hòa đã đi nhiều nước để tìm thợ chế tác. Ông đã đến “xứ sở” của những pho tượng Phật là Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc để tìm thợ. Tuy nhiên, việc tìm thợ chế tác tượng là rất khó khăn. Ông kể: “Tôi đã đến xưởng chế tác Phật ngọc của công ty chế tác Jade Thongtawee ở Thái Lan, đây là nơi chế tác tượng Phật ngọc nổi tiếng Vì Hòa bình Thế giới. Tuy nhiên, công ty cho biết là họ cũng chưa tạc tượng Phật Bà Quan Âm bao giờ. Họ yêu cầu khối ngọc phải được vận chuyển và mang đến xưởng của họ. Nếu tạc thì mất ít nhất 2 năm và mỗi tuần tôi phải sang nghiệm thu 1 lần”.

Tưởng như bế tắc, ông được người quen giới thiệu anh Nguyễn Văn Minh, chủ nhân của xưởng điêu khắc đá Lưu Sơn (xã Phước Tân, TP. Biên Hòa). Anh Minh là người đã từng tạc nhiều tượng Phật cho các chùa và khá nổi tiếng trong lĩnh vực này. Như có nhân duyên, ông Hòa tin tưởng giao phó “sinh mệnh” của khối ngọc quý cho nhóm thợ của anh Minh.

Anh Nguyễn Văn Minh bên pho tượng Quan Âm đang được thờ tại Nam Minh Điện


Anh Nguyễn Văn Minh chia sẻ: “Được tạc bức tượng Quan Âm bằng ngọc bích chính là một cơ duyên của tôi. Tôi có rất nhiều cảm xúc khi nhận được công trình này. Vui có, lo lắng có. Tôi cảm thấy trách nhiệm của mình rất lớn, không chỉ bởi vì giá trị vật chất của khối ngọc mà còn vì sự tin tưởng của anh Hòa đối với tôi”.

Khi bắt tay thực hiện công việc, anh Minh gặp phải rất nhiều khó khăn. Khó khăn lớn nhất chính là về mặt kỹ thuật. Loại ngọc bích này có cấu tạo rất cứng nên rất khó khăn trong việc tạc tượng. Hơn nữa, trong quá trình khoan cắt khối ngọc, chỉ cần vài giây không có nước thì tại điểm tiếp xúc sẽ bị nổ do nhiệt độ tăng lên. Áp lực lớn nhất của anh chính là “không được phép sai sót”, bởi chỉ cần 1 sơ suất nhỏ thì mọi công sức, tiền của trở thành con số không.

Nghệ nhân tài hoa

Khi khối ngọc thô 11,5 tấn về đến Việt Nam, các chuyên gia đánh giá khả năng chỉ có thể tạc được một bức tượng với kích thước khoảng 1,7m. Tuy nhiên, những gì mà anh Minh cùng các cộng sự đã làm được là điều ngoài mong đợi và dự đoán của nhiều người.

Ngoài bức tượng Quan Âm cao 1m98, rộng 1,53m, dày 1,08m, nặng 6,8 tấn, anh còn tạc được thêm 6 bức tượng khác bao gồm: Phật Thích Ca, Phật A di đà, tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo và 3 bức tượng Tam tòa Thánh mẫu. Tất cả những bức tượng này hiện đang giữ kỷ lục là tượng ngọc bích lớn nhất Việt Nam. Riêng bức tượng Quan Âm, từ tháng 11-2012 đã được Hiệp hội kỷ lục thế giới công nhận là tượng Quan Âm bằng ngọc bích lớn nhất thế giới. Những khối ngọc nhỏ còn lại, anh tiếp tục làm những đồ thờ cúng khác. Theo tính toán, khối ngọc 11,5 tấn hầu như không bị hao hụt, lãng phí chút nào, ngoại trừ khoảng 5% hao hụt là bụi ngọc không thể tận dụng được.

Để làm được điều “không tưởng” này, anh đã mất 2 tháng trời ngồi ngắm nhìn khối ngọc để tìm ra phương hướng. Cái khó của người nghệ nhân sau khi đã tách khối, định hình được khối ngọc là phải tìm được nơi đẹp nhất của khối ngọc để làm phần trọng tâm. Anh chia sẻ kinh nghiệm: “Ngọc bao giờ cũng có chỗ bị tì vết nên nghệ nhân phải khéo léo đưa những vết này vào phần phụ, phần chính của bức tượng phải là phần ngọc đẹp nhất. Tôi rất hài lòng khi phần đẹp nhất ấy chính là gương mặt của Phật Bà”.

Sau 18 tháng miệt mài với công việc, anh cùng nhóm thợ đã hoàn thành 7 bức tượng ngọc nêu trên. Quá trình thực hiện, cả anh và ông Hòa đều không nghĩ đến việc lập kỷ lục. Khi công trình hoàn thiện, khách đến tham quan (trong đó có nhiều khách nước ngoài) đã gợi ý cho hai người về điều này. Vì vậy, ông Hòa đã gửi hồ sơ đến tổ chức kỷ lục thế giới để xác minh và công nhận kỷ lục này.

Anh Minh vui vẻ cho biết: “Tôi tự hào vì đã làm được điều mà trên thế giới không nghĩ là ở Việt Nam có thể làm được. Việt Nam chúng ta là nước đi sau về công nghệ chế tác ngọc nhưng chúng tôi đã làm được điều mà những nghệ nhân khác trên thế giới không làm được”.

Người thầy tốt bụng

Anh Nguyễn Văn Minh sinh ra và lớn lên ở tỉnh Hà Nam. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, anh khăn gói đến Nam Định để học nghề điêu khắc, sau đó vào TP. HCM lập nghiệp. Năm 2008, anh về Biên Hòa mở xưởng điêu khắc đá.

Không chỉ giỏi nghề, anh nổi tiếng là người thầy tốt bụng. Xưởng của anh luôn có nhiều học viên đến xin học nghề . Không những không “giấu nghề”, anh còn dạy bảo rất tận tình cho các học trò. Ngoài ra, sau khi học nghề xong, các học trò còn được anh hỗ trợ công ăn việc làm cho đến khi nào “cứng nghề” mới thôi.

Học trò của anh đến từ nhiều vùng miền, nhưng chủ yếu là ở các tỉnh phía Bắc như: Yên Bái, Phú Thọ, Hà Nam, Nam Định, Thanh Hóa… Anh Túng Văn Hải (quê Thanh Hóa) cho biết: “Ở những nơi khác, người học nghề như chúng tôi thường chỉ được làm chân phụ việc, người ta giao gì làm nấy và tranh thủ “liếc mắt” học lỏm. Riêng thầy Minh rất tận tình với học trò. Chúng tôi đến đây học nghề được thầy chỉ bảo từng chút một. Ngoài việc lo cho chỗ ăn ngủ, hằng tháng thầy còn bồi dưỡng cho chúng tôi ít tiền để tiêu vặt. Khi “ra trường” lại được thầy hỗ trợ công việc làm ăn nên tôi cảm thấy rất yên tâm”.

Thành An

Hà mã đầu tiên sinh con tại Đồng Nai

đăng 19:14, 23 thg 12, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Sinh tự nhiên tại sở thú Vườn Xoài, hà mã con nặng 29 kg, được đặt tên là “Bé Xoài”. 

Hà mã con - Bé Xoài luôn theo sát bên mẹ. 


Bé Xoài được sinh tự nhiên ngày 19/11/2018, từ cặp hà mã nhập từ Châu Phi. Cặp hà mã này được khu du lịch nuôi và thuần dưỡng trong hơn hai năm. Việc mang thai hoàn toàn tự nhiên mà không có sự can thiệp của nhân viên vườn thú.

Đây cũng là hà mã con đầu tiên được sinh ra tại sở thú này và tỉnh Đồng Nai. Được 4 tuần tuổi, nó hoàn toàn khỏe mạnh và hiện bú sữa hà mã mẹ.

Hà mã (Hippopotamus amphibius) hiện là loài động vật hoang dã nằm trong sách đỏ thế giới có nguy cơ tuyệt chủng cao. 


Đây là tin rất vui đến toàn thể cán bộ nhân viên trong quá trình xây dựng phát triển sở thú Vườn Xoài. Nơi đây đã thuần dưỡng và nhân giống thành công nhiều loài quý như: hổ, sư tử, gấu đen, các loài linh dương và loài chim khác.

Sở thú cũng có nhiều loài thú quý hiếm được nhập từ châu Phi như báo đen, tê giác, gấu nâu, linh cẩu, hươu cao cổ, ngựa vằn, cá hải tượng, cùng các loài lông vũ như chim công, trĩ bảy màu, hồng hạc, thiên nga...

Trong vườn còn có nhiều loài thú quý hiếm khác. 


Vườn Xoài là sở thú bán hoang dã được phát triển và định hình hoàn toàn trong khuôn viên khu du lịch sinh thái cùng tên. Nhiều loài động vật quý hiếm đến từ các châu lục trên thế giới đã được nhập về nhằm mục đích bảo tồn, gây giống, trưng bày và giáo dục.

Cách TP HCM hơn một giờ đi xe, khu du lịch sinh thái này là điểm đến được nhiều du khách lựa chọn cho những ngày cuối tuần hay kỷ nghỉ lễ. Với tổng diện tích hơn 50 ha, bao phủ toàn bộ khu du lịch là màu xanh của cây, đan xen là các chuỗi dịch vụ phục vụ mọi nhu cầu của du khách trong và ngoài nước như: trạm dừng chân, tham quan vườn thú, giải trí dã ngoại, ẩm thực - nghỉ dưỡng và tổ chức sự kiện.

Khu du lịch sinh thái Vườn Xoài 
Địa chỉ: 537 Đinh Quang Ân, ấp Tân Cang, xã Phước Tân, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 
Hotline: 0942.968 163 – 0943.968 163 – 0947.968.163 
Email: letan.vuonxoai@gmail.com - Website: www.vuonxoai.vn 

Đi tìm nguồn gốc xôi chiên phồng

đăng 01:13, 18 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Trong một lần tình cờ tôi được gặp bà Út Ha – được coi là người lưu giữ bí quyết chế biến ra món Xôi chiên phồng trứ danh, có nguồn gốc từ Biên Hòa, Đồng Nai. Bà Út Ha tên thật là Đinh Thị Ha, ngụ ở phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa. Bà là người tiếp quản Tân Hiệp Quán nổi tiếng, do mẹ bà là bà Huỳnh Thị Sớm, sáng lập năm 1952. Xưa quán nằm ngay đường Hàm Nghi, Biên Hòa, cạnh bờ sông Đồng Nai hiền hòa, mà nay là đường Cách Mạng Tháng Tám. 

Theo lời kể của bà thì từ khi mở quán, mẹ bà thường bán những món ăn bình dân phục vụ thực khách lao động là chính như bánh mì, hủ tiếu…Rồi dần dần Tân Hiệp Quán phục vụ các món ăn ngon hơn, chế biến cầu kỳ hơn như bánh canh đầu cá, chả giò, nem nướng, bì cuốn… Lúc này khách vãng lai từ các tỉnh lân cận ghé ăn nhiều hơn, quán trở thành điểm dừng chân đón khách Sài Gòn, Vũng Tàu, miền Tây… Sức phục vụ lớn, cần nhân lực nhiều, quán phải thuê thêm đầu bếp.


Có một lần tình cờ, người đầu bếp của quán làm món xôi chiên dẹp như chiếc bánh nhỏ để mang đi lễ chùa, lễ đình. Người này phát hiện một góc xôi phồng to lên lạ lẫm. Mọi người đều ngạc nhiên, lại xem và bàn luận. Ấy là lần đầu tiên, những lần sau món xôi chiên này được làm đi làm lại. Mỗi lần lại rút ra những kinh nghiệm khá bổ ích, món xôi cũng ngon hơn, đẹp hơn, phồng to hơn và kỹ thuật chế biến chuyên nghiệp, thuần thục hơn. 

Bà chia sẻ rằng để xôi chiên được ngon, giòn mềm và không cứng, đầu tiên phải chú ý đến nếp, việc chọn nếp thơm, dẻo, ngon rất quan trọng. Sau là kỹ thuật nấu sao cho xôi được chín đều, không nhão cũng không cứng. Kế đến là khâu nhồi xôi, không để hạt nếp nguyên vẹn như xôi thông thường, quết chúng mịn hơn, trong nếp có pha thêm ít đường cho có vị ngọt, bột sau trộn được ngâm trong dầu ăn. Tuy nhiên khâu quan trọng hơn cả chính là chiên xôi. Xôi phải được chiên trong chảo gang, nhiệt độ lửa phù hợp, dùng và để dằn, xoay và lật xôi. Vá cũng phải làm bằng gang, và lưỡi vá bằng. Người chiên phải thật kiên nhẫn, dùng vá ép, và xoay miếng xôi thật khéo léo trên chảo dầu nóng cho xôi nở đều, không bị méo mó. Ngọn lửa cũng phải được điều chỉnh liên tục để bánh xôi chín và giòn. Khi chín, xôi vàng đều cả bên trong, lẫn bên ngoài, tròn phồng như trái banh. Cắt ra không có phần xôi dư, ăn giòn, nhưng vẫn giữ được độ mềm của nếp, vị ngọt nhẹ của đường, và dậy mùi sau khi chiên. 


Bà nhớ lại hồi xưa toàn chiên xôi bằng bếp củi, không kịp để phục vụ thực khách. Khách trực tiếp đến quán thưởng thức, còn muốn mua để mang về để biếu tặng. Vì vậy, ngoài phục vụ tại chỗ, quán chỉ phục vụ được mỗi bàn hai chiếc xôi phồng mang về. Tiếng thơm đồn xa, tiếng lành đồn xa, món ăn vừa lạ mắt, vừa ngon miệng được lan truyền khá rộng, dân Sài Gòn, Sông Bé cũng lặn lội tới quán để được thưởng thức món xôi này. Sau này, những người thợ nấu ăn của quán dời đi khắp vùng, họ mang theo cách chế biến tạo thành món Xôi chiên phồng. Ấy vậy mà món Xôi chiên phồng trứ danh của Tân Hiệp Quán vẫn ngon nức tiếng nhất. Món xôi này có thể ăn kèm với gà quay, gà chiên, thịt nướng… kèm miếng dưa leo hay vài loại rau thơm cho đỡ ngán. 

Năm 2014, bà được tham dự Chương trình xác lập kỷ lục “Nhiều người chiên xôi phồng nhất Việt Nam” do Hiệp hội du lịch Đồng Nai tổ chức để giới thiệu về nguồn gốc ra đời của món đặc sản này. Bà thực sự xúc động khi chứng kiến hơn 50 đầu bếp cùng tham gia chiên xôi phồng. Món ăn xuất xứ từ gia đình bà được vinh danh, được đón nhận và trở thành đặc sản một vùng. Với xôi chiên phồng, ăn không chỉ là thưởng thức cái ngon, cái lạ, mà nó là công sức, sự khéo léo, là kỹ thuật, nghệ thuật và tâm hồn của người đầu bếp.


Ngày nay xôi chiên phồng phổ biến cả trong Nam ngoài Bắc, hầu hết trong thực đơn của các nhà hàng lớn hay những cơ sở nấu ăn nhỏ đều có món xôi chiên phồng ăn kèm với gà quay, luộc hay nướng. Ngoài những sự kiện trong nước, xôi chiên phồng còn trở thành một món ăn Việt Nam nổi tiếng được giới thiệu ra nước ngoài trong các buổi giao lưu ẩm thực. Khách nước ngoài đã thực sự thán phục tài nghệ của các đầu bếp Việt Nam, ngắm nghía chiêm ngưỡng cách hô biến từ nắm bột đặc biệt thành chiếc bánh xôi to tròn, độc đáo, vừa thơm, vừa ngon.

Một ngày đi tìm “sự tích” xôi chiên phồng, cũng giống như món xôi chiên phồng, tình cờ, những rất đặc biệt. Văn hóa ẩm thực Việt thật sự có sức cuốn hút khó cưỡng, chân chất, đậm đà, độc đáo. Có lẽ sau dịp này, tôi sẽ lên đường tìm kiếm nguồn gốc những món ngon đặc sắc của địa phương nơi tôi sống để thấy được nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của những con người gần gũi bên tôi.

Mai Phương

Mạch nguồn hào khí Đồng Nai

đăng 20:59, 27 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:20, 18 thg 7, 2018 ]

320 năm qua, tên gọi Đồng Nai vinh danh trong sử dân tộc với hào khí Đồng Nai nức tiếng oai hùng, hiển hách. Trong đó, không thể không nhắc đến những con người với những tính cách nổi bật tạo nên hào khí Đồng Nai rất đỗi tự hào. 

Ông Nguyễn Đức Thùy (76 tuổi, ở hẻm 39, KP.3, phường Trung Dũng, TP.Biên Hòa) trông giữ mộ Trịnh Hoài Đức đã 25 năm. 


Tính cách của người Đồng Nai ra sao? Đó là những người vừa có sự hào sảng của một vùng đất luôn “mở lòng”, vừa có khí phách, tài ba, cương trực, dũng cảm của lớp người mở cõi. 

* Hào sảng Thủ Huồng 

Theo Đại Nam nhất thống chí, Thủ Huồng tên thật Võ Hữu Hoằng, sống ở châu Đại Phố, huyện Phước Chính, phủ Phước Long (nay là xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa) khoảng năm 1755. Ông xuất thân làm thơ lại, trong 20 năm làm việc đã thu tóm được nhiều tiền của. 

Thủ Huồng rất yêu vợ, sau khi vợ mất sớm nghe nói rằng ở chợ Mãnh Ma là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau, ông quyết đi tìm vợ và được đưa xuống âm phủ chơi. Ở cõi âm, ông tận mắt nhìn thấy những cực hình dành cho những kẻ phạm nhiều tội ác khi còn sống, trong số đó có một cái gông to mà cai ngục cho biết là để dành cho người tên gọi Thủ Huồng. 

Khi trở lại cõi dương, ông đem toàn bộ tài sản dùng vào việc bố thí, xây dựng những công trình phúc lợi, đặc biệt là làm nhà để giúp dân nghèo dừng chờ nước triều ở ngã ba sông. Sau, Thủ Huồng được vợ đưa xuống cõi âm lần nữa, thấy cái gông trước kia đã nhỏ lại rất nhiều. Từ đó, ông tiếp tục làm việc thiện, việc nghĩa cho đến khi mất. 

Sách Gia Định thành thông chí chép: Thuở ấy, dân cư còn thưa thớt, ghe đò hẹp nhỏ, hành khách thổi cơm, đun trà rất khổ, vì vậy có người phú hộ ở tổng Tân Chánh là Võ Thủ Hoằng kết tre lại làm bè, trên che lợp phòng ốc, sắm đủ bếp núc, gạo, củi, và đồ ăn để dưới bè cho hành khách tùy ý dùng mà không bắt phải trả tiền. Sau đó khách buôn cũng kết bè nổi bán đồ ăn nhiều đến 20, 30 chiếc, nhóm thành chợ trên sông, nên mới gọi xứ ấy là Nhà Bè. 

Ngày nay, ở Cù lao Phố có chùa Chúc Thọ tương truyền do Thủ Huồng xây dựng. Con rạch chạy ngang qua đường Bùi Hữu Nghĩa (phường Bửu Hòa) đi TP.Hồ Chí Minh do Thủ Huồng tổ chức nạo vét nên gọi là rạch Thủ Huồng, đồng thời cây cầu đá giữa Tân Vạn và chợ Đồn (Biên Hòa) do Võ Hữu Hoằng xây dựng đến nay vẫn còn. Ngã ba sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, nơi Thủ Huồng cho kết bè nổi để khách thương hồ có nơi ăn nghỉ đợi chờ con nước, sau biến thành chợ trên sông. Những cái tên bến Nhà Bè, sông Nhà Bè, huyện Nhà Bè... chính là để ghi dấu “nhà bè” do Thủ Huồng dựng. Câu ca dao “Nhà Bè nước chảy chia hai/ Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về” xuất phát từ tích trên. 

* Tài hoa Đào Trí Phú 

Đào Trí Phú sinh tại làng Phước Kiển, thuộc Long Thành, dinh Trấn Biên (nay thuộc xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch). Ông thi đỗ Cử nhân tại khoa thi Hương Gia Định năm 1825. Con đường làm quan của ông lần lượt trải qua các chức vị như: Thị lang bộ Hộ, kiêm quản Phủ doãn phủ Thừa Thiên,Tham tri bộ Hộ, Tham tri bộ Binh... 

Đặc biệt, Đào Trí Phú là một trong số rất ít người thời đó thông thạo ngoại ngữ, ông có thể giao tiếp được với người nước ngoài bằng tiếng Anh, Pháp lẫn tiếng Hoa, vì thế thường được vua Minh Mạng cử làm việc với đoàn sứ bộ các nước đến nước ta, hoặc đi công cán ở nước ngoài như: Trung Quốc, Philippines, Singapore… Ông từng khuyên nên học hỏi các nước châu Âu và Mỹ về các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là khí tài chiến đấu, được vua khen ngợi và nhiều lần cử theo đoàn sang Singapore mua kim khí, hóa phẩm. Đào Trí Phú là người đầu tiên mua tàu chạy hơi nước ở châu Âu đem về Việt Nam, trong đó có chiếc Điện Phi rất lớn, mua với giá 280 ngàn quan tiền. 

Nhờ những chuyến đi nước ngoài, đồng thời biết kinh thương nên ông tích lũy tài sản khá lớn. Tương truyền, áo mão cân đai của ông đều có gắn vàng lá. Vì thế năm 1848 ông bị đàn hặc là tham nhũng, bị cách chức. Năm 1854, An Phong công Nguyễn Phúc Hồng Bảo mưu đoạt ngôi vua không thành, bị bắt giam và chết trong ngục, Đào Trí Phú cũng bị kết tội theo phe phản loạn, xử lăng trì tại huyện Long Thành. Người thân ông phải cải họ trốn đi nơi khác, mãi đến sau này mới dám lấy lại họ Đào. 

* Trịnh Hoài Đức - nhân cách thanh liêm, cao trọng 

Tổ tiên của Trịnh Hoài Đức vốn là người tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc), theo Trần Thượng Xuyên vào sống ở Trấn Biên, vì thế ông sinh ra ở Biên Hòa. Năm Mậu Thân 1788, Trịnh Hoài Đức đậu khoa thi Nho học đầu tiên do chúa Nguyễn tổ chức ở Nam bộ. 


Trịnh Hoài Đức là người có năng lực và nhân cách đáng kính trọng. Trải qua 4 đời vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, ông từng giữ những chức vị cao của triều đình như Thượng thư (tương đương Bộ trưởng) của cả Bộ Lại (chức năng như Bộ Nội vụ) và Bộ Binh (Bộ Quốc phòng ngày nay), đồng thời sung chức Phó tổng tài Quốc sử giám, thăng Hiệp biện Học sĩ, là thầy dạy học của hoàng tử. Về mặt học thuật, ông là tác giả nhiều bộ sách, trong đó nổi tiếng nhất là Gia Định thành thông chí, ghi chép tỉ mỉ về địa lý, phong tục, tập quán, thành trì, sản vật… của cả vùng đất Nam bộ, được đánh giá như “bách khoa toàn thư” về Nam bộ và là tài liệu quý làm cơ sở nghiên cứu, tham khảo cho đến tận ngày nay. 

Chức vị cao, nhưng hơn 40 năm làm quan ông vẫn sống cuộc đời thanh liêm, chính trực, không tơ hào của công hay nhận biếu xén của người khác. Theo Đại Nam liệt truyện, khi ông về kinh thành Huế làm quan, vua mới biết ông không có được ngôi nhà để ở, vì thế ban cho 3 ngàn quan tiền và gỗ, gạch ngói để làm nhà. Trịnh Hoài Đức mất năm 1825 tại Huế, thọ 61 tuổi. Vua thương tiếc cho bãi triều 3 ngày, truy tặng ông là Thiếu bảo Cần chánh điện Đại học sĩ, phái Hoàng tử Miên Hoằng đưa linh cữu của ông về làng Bình Trước (nay ở hẻm 63, KP.3, phường Trung Dũng, TP.Biên Hòa). 

* Nguyễn Thị Tồn rạng danh tiết phụ 

Nhắc đến danh nhân Bùi Hữu Nghĩa, một trong 4 “rồng vàng Đồng Nai”, không thể không nhắc đến vợ ông là bà Nguyễn Thị Tồn. Bùi Hữu Nghĩa quê ở làng Long Tuyền (nay thuộc quận Bình Thủy, TP.Cần Thơ), từ nhỏ nhà nghèo nên được gởi lên Biên Hòa ở nhà Hộ trưởng Nguyễn Văn Lý (làng Mỹ Khánh, tổng Chánh Mỹ Thượng, nay thuộc phường Bửu Hòa) để theo học với thầy đồ Hoành, sau được ông Lý gả con gái là Nguyễn Thị Tồn. Bà Tồn buôn bán tảo tần để nuôi chồng ăn học. 

Bùi Hữu Nghĩa thi đậu giải nguyên năm 1835, được bổ làm Tri huyện Phước Chánh (nay là TP.Biên Hòa và một phần huyện Vĩnh Cửu), nhưng do tính tình thẳng thắn, liêm chính nên không được lòng quan trên, bị đổi về làm Tri huyện Trà Vang (Trà Vinh hiện nay). Tại đây, năm 1848 trong vụ án Láng Thé, ông vì bênh vực những người Khmer yếu thế nên bị quan trên là Bố chánh Truyện và Tổng đốc Trương Văn Uyển khép vào tội làm loạn, lạm phép giết người và xử tội chết. 

Nhận được tin dữ, bà Nguyễn Thị Tồn quá giang ghe bầu từ Biên Hòa vượt sóng gió hàng tháng trời ra Huế đến Tam pháp ty “kích cổ đăng văn” (đánh trống, đội đơn) kêu oan cho chồng. Vua Tự Đức giao cho Bộ Hình thẩm án, nhờ vậy Bùi Hữu Nghĩa khỏi tội tử hình nhưng phải quân tiền hiệu lực, đoái công chuộc tội. Bà Nguyễn Thị Tồn được vua Tự Đức ban võng điều có 4 lọng, nhưng ở đầu võng có gông nhỏ sơn son, ngầm ý khen bà là người trung trinh, gan dạ song cũng “nhắc khéo” bà kinh động đế đô. Hoàng thái hậu Từ Dũ cảm phục khí phách của người phụ nữ xứ Đồng Nai, không ngại khó khăn thân gái dặm trường đến kinh thành minh oan cho chồng nên hết lời khen ngợi bà là người tiết nghĩa, đáng mặt nữ lưu và ban cho tấm biển vàng “Tiết phụ khả gia”. 

Khi bà về đến Biên Hòa thì lâm bệnh nặng, qua đời. Lúc ấy Bùi Hữu Nghĩa đang sung quân ở An Giang nên không về được. Ông đau xót viết văn tế vợ: “Nơi kinh quốc ba hồi trống gióng, biện bạch này oan nọ ức, đấng hiền lương mắt thấy thảy đau lòng/ Chốn tỉnh đường một tiếng thét vang, hẳn hòi lẽ chánh lời nghiêm, lũ bạn đảng tai nghe đà khiếp vía… Ta nghèo, mình hay giúp đỡ; ta tội, mình biết kêu oan, trong triều ngoài quận đều khen mình mới thật là vợ/ Mình bịnh, ta không thuốc thang; mình chết, ta không chôn cất, non sông cười ta chẳng xứng gọi là chồng”… 


Bài học lớn từ câu đối ở mộ Trịnh Hoài Đức


Ở ngôi mộ cổ của Trịnh Hoài Đức, phía trước mộ có 2 cặp đối chữ Hán. Cặp đối phía ngoài mỗi vế 7 chữ: Sơn thủy hữu tình thành quyến thuộc/ Càn khôn vô vực thị gia hương (Sông núi có tình nghĩa trở thành người thân trong gia đình/ Trời đất không giới hạn chính là quê nhà của mình).


Cặp đối phía trong mỗi vế 5 chữ: Các nhân chính tẩu mã/ Cử thế kiên hành chu (Con người đường hoàng như cưỡi ngựa/ Xử thế ở đời như chèo thuyền).


Theo nhà nghiên cứu Lý Việt Dũng, muốn giải mã cặp đối này, phải hiểu đôi câu đối cổ của tiền nhân: Tâm như bình nguyên mục mã dị phóng nan thu/ Học như nghịch thủy hành chu bất tiến tất thoái (Tấm lòng như người cưỡi ngựa ở đất bằng, dễ phóng đi nhưng khó ghì cương lại/ Sự học như người chèo thuyền ngược nước, không tiến lên ắt sẽ thụt lùi).


Cái hay của câu đối trước mộ Trịnh Hoài Đức là thu gọn từ vựng câu đối 7 chữ còn 5 chữ mỗi vế (vốn rất khó trong thuật đăng đối) mà thể hiện sáng tạo bài học luân lý có triết lý giáo dục: Con người phải biết nén lòng, làm chủ được cái tâm của mình. Sự học phải biết cầu tiến, vượt khó để không tụt hậu. Nội dung các câu đối phù hợp với triết lý sống của Trịnh Hoài Đức, là bài học quý cho người hậu thế.


Tịnh Hà

Võ đường họ Mã trên đất Biên Hòa

đăng 20:54, 27 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cây bằng lăng nhỏ, nơi bà Chi đặt quán cà phê “cóc” trên đường 30-4 (hẻm 39, KP.3, phường Trung Dũng, TP.Biên Hòa), giờ to bằng một vòng tay. Thời gian cây trưởng thành cũng là từng đó năm thầy, trò phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn ở Biên Hòa chọn điểm này ngồi nhâm nhi cà phê tiếp giao bạn bè, môn đệ vào các buổi sáng. 

Lão võ sư Mã Thanh Hoàng trình diễn một thế võ Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn. 


Người đầu tiên truyền bá môn võ phái Hồng Mi Đạo Nhơn vào Biên Hòa là lão võ sư Mã Thanh Hoàng (tên thật là Đinh Quốc Hưng, 76 tuổi, Chưởng môn phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn tại TP.Biên Hòa). 

* Gắn bó với võ thuật cổ truyền 

Năm 1951, mới 9 tuổi lão võ sư Mã Thanh Hoàng được cha gửi về Sài Gòn để vừa học võ vừa học chữ. Nhờ mối quan hệ của cha, lão võ sư Hoàng được thọ giáo cố võ sư Mã Thanh Long cho đến khi ông đỗ tú tài 1 (tú tài bán phần). 

Được sư phụ cho phép vào năm 1968, lão võ sư Hoàng về lại vùng đất Biên Hòa để học tiếp tú tài 2 (tú tài toàn phần) và mở lò dạy võ cho con em lao động tại xã Bình Trước (nay thuộc TP.Biên Hòa). Sau khi đỗ tú tài 2, lão võ sư Hoàng xin vào làm viên chức tỉnh Biên Hòa, đồng thời vẫn tiếp tục nghiệp võ. 

Lớp đệ tử đầu tiên của lão võ sư Hoàng có khoảng 30 võ sinh. Các võ sinh đa phần là con em lao động, tiểu thương và cả trẻ bụi đời. Võ sinh thuộc gia đình có điều kiện thì lão võ sư Hoàng thu học phí, võ sinh nhà nghèo, trẻ lang thang, cơ nhỡ thì võ sư Hoàng nhận dạy miễn phí. 

Thời điểm năm 1968, khi võ đường phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn của võ sư Hoàng xuất hiện thì phong trào võ cổ truyền ở vùng đất Biên Hòa phát triển rất mạnh mẽ với sự có mặt của rất nhiều môn phái tên tuổi như: Tây Sơn Xuân Bình võ đạo (của võ sư Xuân Bình); Đông Sơn Hòa (của võ sư Châu Sà Mách); Bảo Long Tam Nhạn (của võ sư Hoàng Thiện Chí); Lam Sơn võ thuật đạo (của võ sư Nguyễn Văn Du)... 

Võ sư Hoàng kể ngày đầu mở võ đường chiêu nạp môn sinh ông cũng gặp rất nhiều khó khăn, điểm tập lúc thì được mở nơi tòa thị chính, lúc tại nơi khu phố nghèo, lúc thì chuyển về nhà cha mẹ để dạy... Tuy vậy, võ sư Hoàng cũng sớm đào tạo được đội ngũ môn sinh kế cận làm rạng danh môn phái như: võ sư, huấn luyện viên Mã Thanh Sơn, Mã Thanh Phát, Mã Thanh Lộc, Mã Thanh Châu, Mã Thanh Hiền... Trong số các học trò của lão võ sư, có người là liệt sĩ, cựu chiến binh, huấn luyện viên quốc gia. 

Sau năm 1975, các võ đường, phòng tập họ Mã trên địa bàn tỉnh xuất hiện ngày càng nhiều. Đến nay, lão võ sư Hoàng tự hào việc ông đã đào tạo được trên 20 võ sư cho môn phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn tại võ đường. Từ đó, các học trò của ông tiếp tục phát triển thêm hàng chục phòng tập trong và ngoài tỉnh với môn sinh hàng ngàn người, góp phần làm rạng danh tên tuổi của cố võ sư Mã Thanh Long. 

* Trọng nghĩa khinh tài 

“Cao nhân tắc hữu, cao nhân trị” câu thành ngữ này ngụ ý nói rằng “người giỏi ắt có người giỏi hơn”. Vốn là “cây đa, cây đề” trong giới võ thuật đất Biên Hòa, lão võ sư Hoàng càng ghét thói tự phụ, kiêu căng, khoe tài. Chính vì vậy, lão võ sư Hoàng luôn răn dạy đồ đệ luôn biết “trọng nghĩa khinh tài”, coi trọng đạo nghĩa, không màng vật chất, dùng võ thuật giúp người thế cô chứ không được bạo ác, bạo tàn. 

Lão võ sư Mã Thanh Hoàng cùng các môn sinh luyện tập vào năm 1969 tại Biên Hòa. 


Thời xưa, cha lão võ sư Hoàng theo nghề thuốc giúp dân nghèo vẫn nuôi được đàn con học hành tử tế. Còn lão võ sư Hoàng vì theo nghề võ nên đến bây giờ vẫn khó khăn, cuộc sống dựa vào đồng lương hưu trí và sự hiếu thảo của các con, các trò. Lão võ sư Hoàng tâm sự thời còn làm viên chức, lương của ông mỗi tháng dư mua 1 xe Honda Dame 50cc. Tuy vậy, vì phải bỏ chi phí ra lo cho học trò nghèo, phong trào nên lão võ sư Hoàng chẳng tích cóp được gì riêng cho bản thân. 


Hồng Mi Đạo Nhơn có nguồn gốc từ Thiếu lâm Trung Hoa thuộc chi phái Hồng Mi do Mã Thanh Khôn sáng lập tại Đài Loan (Trung Quốc). Người đưa võ học Thiếu lâm Hồng Mi vào Việt Nam là Huỳnh Kim Hên (tên hiệu là Mã Thanh Long, sinh năm 1910, mất năm 1976), là thầy của lão võ sư Mã Thanh Hoàng. Tiếp nối truyền thống môn phái, lão võ sư Hoàng cùng các đồ đệ tiếp tục đưa môn phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn hòa nhập vào Hội Võ thuật cổ truyền tỉnh Đồng Nai và Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam.

 Cái mà lão võ sư Hoàng có được giờ không phải tiền tài mà là uy đức. Bởi vì, ông luôn biết lấy chữ “nhẫn” làm đầu khi xử lý tình huống. Lão võ sư Hoàng kể lúc ông mới mở võ đường, một võ sư người Hàn Quốc hỏi ông có biết công phá không? Ông trả lời không. Rồi ông lấy nửa cục gạch cầm trên tay và hạ tấn thấp để cho vị võ sư kia công phá. Nắm đấm của vị võ sư Hàn Quốc đánh ra, lão võ sư Hoàng nhanh nhẹn lách người và đưa đầu gạch vào mang tai đối phương rồi khẽ nói: “Con nhà võ không phải là cây cột điện, cây chuối đứng im cho người khác dùng sức công phá”. Cách xử sự của lão võ sư Hoàng làm vị võ sư Hàn Quốc kinh ngạc, thán phục về sự khiêm tốn của ông. 

Với tâm niệm của người dạy võ, lão võ sư Hoàng cho rằng người thầy phải dạy đạo đức trước cho trò rồi mới dạy võ thuật. Bởi vì, người học võ nếu lấy võ thuật làm sức mạnh thì sức mạnh đó không vững bền. Ngược lại, người học võ nếu biết lấy tình thương, lòng nhân ái, đạo đức làm sức mạnh thì sức mạnh mới bền lâu. 

Mỗi buổi sáng, lão võ sư Mã Thanh Hoàng giữ thói quen ngồi quán cà phê cóc của bà Chi để các trò tiện thể ghé vào thăm hỏi sức khỏe, trao đổi công việc. Còn những người lao động nghèo thì tiện bề gặp gỡ lão sư phụ họ Mã xin thuốc xoa bóp, trị thương vì biết tính ông quen với việc “lấy phú tế bần” (chỉ lấy tiền thuốc của người khá để hỗ trợ lại người nghèo) mấy chục năm nay. 

Đoàn Phú

1-10 of 37

Comments