Nhân vật Đồng Nai và những sự kiện liên quan

Bài mới

  • Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh đề cử nhà trẻ Việt là 30 công trình tiêu biểu thế giới Trường mầm non Những bông hoa nhỏ (Farming Kindergarten) tại phường Hóa An, Tp. Biên Hòa (Đồng Nai) đã được Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh (RIBA) đề cử vào ...
    Được đăng 19:06, 6 thg 7, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đời người qua nhịp trống chầu Kiểm tra từng chiếc đinh đóng trên thành trống, ông Hồ Văn Ổi (76 tuổi, ngụ KP.5, phường Bửu Hòa, TP.Biên Hòa) là Hương cổ (người đánh trống ...
    Được đăng 03:17, 14 thg 12, 2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bác sĩ Nguyễn văn Hoài, Người thầy thuốc hiến trọn đời mình cho một hạng người bạc phước Tôi đến đó vào một buổi sáng đẹp trời nhằm lúc cuối năm.Nắng vừa đủ để giữ lại chút lạnh ban mai, còn vương trong bầu không khí bình ...
    Được đăng 19:47, 21 thg 7, 2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • "Vườn Kiều" độc nhất vô nhị ở Việt Nam Đền thờ cụ Nguyễn Du trong vườn KiềuỞ khu phố 4 (phường Bình Đa, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) có khu vườn vô cùng lạ mắt mang đậm ...
    Được đăng 04:31, 3 thg 10, 2014 bởi Pham Hoai Nhan
  • Trịnh Hoài Đức - Sứ thần tài hoa Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825) là một danh thần thời Nguyễn Ánh mới khởi nghiệp đồ vương. Lăng mộ của ông hiện nằm trong một con hẻm nhỏ thuộc P ...
    Được đăng 08:08, 6 thg 8, 2014 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 24. Xem nội dung khác »


Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh đề cử nhà trẻ Việt là 30 công trình tiêu biểu thế giới

đăng 19:06, 6 thg 7, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Trường mầm non Những bông hoa nhỏ (Farming Kindergarten) tại phường Hóa An, Tp. Biên Hòa (Đồng Nai) đã được Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh (RIBA) đề cử vào danh sách 30 công trình kiến trúc tiêu biểu trên thế giới của năm 2016 bởi đây là trình kết hợp hài hòa với thiên nhiên và tiết kiệm năng lượng. 


Nhà trẻ Việt độc đáo này được xây dựng từ nhu cầu dành cho các con em của công nhân của Công ty sản xuất giầy da Pouchen. Nhóm kiến trúc sư Võ Trọng Nghĩa, Takashi Niwa, Masaaki Iwamoto và các cộng sự của Công ty Vo Trong Nghia Architects đã cùng nhau tạo nên một công trình xanh, bền vững hướng đến sự hòa hợp thiên nhiên và tiết kiệm năng lượng cao nhất. Họ đã lấy loại cỏ ba lá để thể hiện cho ý tưởng của mình. 

Nhìn từ trên cao, trường mầm non Những bông hoa nhỏ như là một cây cỏ ba lá với hình dạng xoắn ốc. Toàn bộ kiến trúc hình xuyến kết nối mái nhà với sân chơi tạo nên một màu xanh trải dài. Sau nhiều tháng thi công, công trình được hoàn thành vào 10/2013 trên diện tích 
3.800mvới kinh phí hơn 60 tỷ đồng.


Toàn cảnh Trường mầm non Những bông hoa nhỏ tại phường Hóa An, Tp. Biên Hòa (Đồng Nai). Ảnh: Công ty Vo Trong Nghia Architects


Mái vòng cao 1,5 tầng của nhà trẻ được giảm dần độ cao cho tới khi chạm tới mặt đất. Ảnh: Công ty Vo Trong Nghia Architects


Các phòng học và phòng chức năng đều nằm dười mái vòm. Ảnh: Thông Hải


Không gian tươi mát của Trường mầm non Những bông hoa nhỏ. Ảnh: Thông Hải


Trên 70% diện tích khuôn viên được trồng cây xanh và các loại cỏ. Ảnh: Thông Hải


Ngôi trường có thể đáp ứng được nhu cầu học tập và vui chơi cho 700 trẻ em từ 2 đến 5 tuổi. Ảnh: Thông Hải 


“Do mục đích xây dựng trường cho con em công nhân nên chúng tôi phải tính toán đến thiết kế làm sao cho chi phí thấp nhất, sử dụng vật liệu đơn giản nhưng vẫn đảm bảo các công năng và tính bền vững của công trình. Thiết kế xanh là lựa chọn tốt nhất về sự hòa hợp với thiên nhiên. Chi phí xây dựng mỗi mét vuông khoảng 500 USD, bao gồm phí hoàn thiện và trang thiết bị. Đó là chi phí thấp ở nước ta hiện nay”. 

(Kiến trúc sư Võ Trọng Nghĩa)

Trên 70% diện tích khuôn viên Trường được trồng cây xanh. Trường có 18 phòng học và những phòng chức năng như: phòng âm nhạc, hội họa, y tế, nhà bếp, thể dục, trò chơi... Ngôi trường có thể đáp ứng được nhu cầu học tập và vui chơi cho 700 trẻ em từ 2 đến 5 tuổi.

Thiết kế của ngôi trường chú trọng đến việc tiết kiệm năng lượng. Bao quanh phía ngoài các phòng là dàn cây leo xanh mướt. Tất cả các căn phòng đều được thiết kế thoáng mát, đảm bảo ánh sáng, tận dụng sự thông gió và cây xanh giảm nhu cầu sử dụng điều hòa không khí. Các thiết bị như pin năng lượng mặt trời, máy lọc nước, cửa thông gió, sử dụng nguồn nước tái tạo để tưới cây... được tận dụng để mang lại tính bền vững cao nhất cho công trình.

Điểm nhấn của trường mầm non “Những bông hoa nhỏ” là các thiết kế đều tận dụng tối đa cho việc vui chơi và học tập của các em nhỏ. Tại không gian ngoài trời, ở từng đoạn của mái vòng là từ mảng cỏ cây, những vườn rau giống như một nông trại giúp các em nhỏ có thể trải nghiệm nông nghiệp và cung cấp một phần thực phẩm sạch cho bữa ăn trong Trường. Đây cũng là sân chơi ngoài trời thú vị và rất an toàn dành cho con trẻ dù các em đang ở độ tuổi tinh nghịch vì được bảo vệ bằng một hàng rào an toàn và chắc chắn. Thiết kế xanh giáo dục cho trẻ hiểu tầm quan trọng của thiên nhiên, của nông nghiệp.


Ngôi trường được xây cho các trẻ em của công nhân của Công ty giày da Pouchen. Ảnh: Thông Hải


Giờ ăn trưa của các bạn nhỏ tại Trường mầm non Những bông hoa nhỏ. Ảnh: Thông Hải


Ba lô của trẻ từng lớp được để ngăn nắp. Ảnh: Thông Hải


Cách trang trí độc đáo ở mỗi lớp học. Ảnh: Thông Hải


Trẻ em vui chơi tại không gian ngoài trời. Ảnh: Thông Hải


Các em nhỏ vui chơi tại không gian ngoài trời của Trường mầm non Những bông hoa nhỏ. Ảnh: Thông Hải 


Với thiết kế độc đáo, tính ứng dụng cao, bền vững và không gian thiên nhiên, các kiến trúc sư hàng đầu của thế giới tại RIBA đánh giá rất cao công trình Trường mầm non Những bông hoa nhỏ và đề cử là 1 trong 30 kiến trúc tiêu biểu trên thế giới của năm. Đây là điều vinh dự khi thiết kế này đã vượt qua những thiết kế của hàng trăm công ty ở 50 quốc gia trên toàn cầu. Trước đó, công trình Trường mầm non Những Bông hoa nhỏ đã giành chiến thắng trong cuộc thi “Thiết kế của năm 2015" trên ArchDaily (Tạp chí hàng đầu về kiến trúc trên thế giới) bình chọn. Đây là cuộc bình chọn quy tụ 31.000 kiến trúc sư trên toàn thế giới tham dự với hơn 3.000 thiết kế được gửi tới tranh tài. 


RIBA là một giải thưởng kiến trúc danh giá do Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh tổ chức nhằm tôn vinh các công trình ấn tượng tại vương quốc Anh. Năm nay, Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh quyết định tổ chức giải thưởng quốc tế đầu tiên để vinh danh các tác phẩm, công trình kiến trúc trên toàn thế giới. Giải thưởng kiến trúc RIBA sẽ  được công bố vào tháng 12/2016.

 

Bài: Nguyễn Oanh - Ảnh: Thông Hải & Tư Liệu

Đời người qua nhịp trống chầu

đăng 03:17, 14 thg 12, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Kiểm tra từng chiếc đinh đóng trên thành trống, ông Hồ Văn Ổi (76 tuổi, ngụ KP.5, phường Bửu Hòa, TP.Biên Hòa) là Hương cổ (người đánh trống trong dịp lễ tế) của đình Tân Bản (KP.5, phường Bửu Hòa) nói với chúng tôi “Từ xưa, có việc gì cần họp dân đều phải đánh trống để mọi người kéo tới đình làng. Bây giờ, trống chiêng không còn sử dụng để họp dân nữa, nhưng với chúng tôi đó là một phần lịch sử không bao giờ bị lãng quên của vùng đất này…”.

Cổng đình Tân Bản. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


* Truyền đời đánh trống chầu

Trong tiết trời đầu xuân mát dịu, ông Ổi chậm rãi thắp nhang trầm ở các lư hương bên trong đình, rồi khệ nệ khiêng cái trống chầu ra ngoài sân để lau bụi. “Trống là linh hồn của các buổi lễ tế, là thứ được gióng lên ngoài trận tiền, trong các dịp lễ hội, vì vậy trống phải thường xuyên được kiểm tra để tránh gặp sự cố trong khi sử dụng. Như cái trống này, theo như những người giữ đình đời trước kể lại thì nó đã có từ lúc đình được nhận sắc phong của vua Tự Đức vào năm 1852, tôi cũng không rõ lắm mà chỉ biết nó đã được sử dụng từ rất lâu rồi…”, ông Ổi đưa tôi xem những chiếc trống đang được cất giữ trong đình.

Ông Võ Văn Hoàng, Chánh tế đình Tân Bản khai trống đầu xuân vào mùng 4 tết.


Không nhớ từ lúc nào mà gia đình ông Hồ Văn Ổi đã nhiều đời giữ chức Hương cổ ở đình Tân Bản. Chỉ biết từ khi còn rất nhỏ, ông say sưa coi ông nội mình đánh trống mỗi dịp lễ và hát bội trong đình. Rồi cha ông cũng là chức sắc trong đình làng, giờ tới phiên ông lại tiếp tục đảm nhận công việc đó. “Truyền thống rồi cậu à, con tôi sang năm cũng ra phụ việc ở đình làng, phải là những người có tuổi, ít nhất là hơn 50, khi đã có những trải nghiệm của một nửa đời người rồi mới ra làm việc cho làng được. Giữ đình, làm lễ phải lựa những người nào thực sự gắn bó với đất, với người nơi đây thì họ mới dành hết tâm huyết cho việc chung của làng được…” - ông Ổi tâm sự.


“Người đánh trống chầu là người phải nắm tất cả những nghi lễ của đình, vì vậy phải trải qua thời gian làm Chánh tế trong đình rồi mới được làm Hương cổ. Từ khi trở thành chức sắc trong đình, phải mất thêm 12 năm nữa để trở thành người đánh trống trong mỗi buổi tế…” - ông Hồ Văn Mai cho biết.
Để được giữ vị trí Hương cổ phải mất gần 20 năm tham gia việc làng, từ thành viên tới chức việc, chức sắc rồi sau cùng là Hương cổ. Ông Ổi đã tham gia việc làng ở đình Tân Bản từ những năm 90 của thế kỷ trước, ông cho biết cái khó trong việc đánh trống chầu là phải nắm bắt được hết khi nào thì phải đánh, khi nào thì ngưng, phải theo trình tự trong khi hành lễ.

Trống có nhiều loại, dùng cho những dịp, những việc khác nhau, trống tế, trống chầu, trống đại… và mỗi loại trống đều có một cách đánh riêng, một tư thế đánh sao cho tiếng trống vang xa nhất. “Thực ra không có nhiều quy định về kích thước của các loại trống, chỉ là người đời trước truyền lại thì người đời sau cứ giữ lấy thôi. Trống chầu ở đình chúng tôi thì có từ rất lâu rồi, trống được làm từ thân cây gỗ nguyên, đục ruột rồi phủ da trâu lên đó. Vì vậy âm thanh của chiếc trống này rất đặc biệt và dĩ nhiên là chỉ sử dụng trong những dịp lễ hay có đoàn hát tới. Còn khi dùng trong việc cúng tế thì phải sử dụng trống riêng” - ông Hồ Văn Mai (68 tuổi, ngụ K.P5, phường Bửu Hòa) em họ ông Ổi, Hương cổ đình làng Tân Bản, cho biết.

* Một thời vàng son

Đình Tân Bản. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Ông Ổi cất chiếc trống đã được lau xong vào trong đình rồi quay sang nói chuyện với chúng tôi, ông kể mỗi lần có gánh hát về diễn, người cầm chầu phải ăn mặc nghiêm chỉnh với áo thụng, khăn chít đầu, ngồi trước hàng khán giả, gần sân khấu và phải nhìn thấy tận hai bên “cánh gà”. Khi đó, người cầm chầu là đại diện cho ý kiến của bà con, của chức sắc trong làng và có nhiệm vụ “thưởng chầu” cho đào kép trong suốt quá trình hát. “Người ta nói cầm chầu là một trong bốn cái dại, vì nếu trong lúc đào kép hát mà chấp sự “thưởng chầu” không đúng lúc hoặc không đúng nhịp thì ra về sẽ bị đoàn hát trách móc. Nếu nặng hơn thì đoàn hát giận không quay lại hát cho làng nghe nữa. Đó cũng là lý do tại sao phải mất gần 20 năm mới được giữ vị trí Hương cổ trong làng. Mấy người trẻ quá nhiều khi mê coi hát, mê cô đào lại bỏ quên việc chính của mình là “thưởng chầu” cho họ, ra về họ giận thì lại mất vui…” - ông Ổi cười, kể lại cho chúng tôi nghe những chuyện ngày còn nhỏ ông đi coi hát ở đình.

Tới đúng giờ hát, chấp sự hai tay cầm hai dùi trống quay mặt hướng về đình vái thần và chào khán giả rồi ngồi xuống cầm chầu, mặt hướng về sân khấu. Suốt buổi hát, chấp sự túc trực xem để điều khiển tiếng trống và quan trọng nhất là phải biết “thưởng chầu” đúng lúc để tỏ thái độ tôn trọng và khích lệ người diễn. Một đoạn diễn hay, một khúc hát được mọi người tán thưởng, nhưng phải có tiếng “thưởng chầu” vang lên đều đặn thì mới thật sự là một đêm diễn thành công. 

Chấp sự cầm chầu phải nắm chắc kiến thức về nghệ thuật hát bội, vì cần phải chủ động điểm câu cho nghệ sĩ rất chuẩn. Đến những những đoạn cao trào, khi câu hát ngân lên rồi thả xuống, hoặc khi diễn viên thể hiện chi tiết đắt giá, tiếng trống chầu không đơn giản chỉ vang lên từng tràng dài mà nhịp trống còn phải có sức dồn nén, hối hả và lay động. Người cầm chầu chính là người góp phần làm tăng sức hấp dẫn của một buổi diễn.

Nhà vỏ ca đình Tân Bản. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Ông Bùi Văn Lang (71 tuổi, ngụ KP.5, phường Bửu Hòa) là Hương lễ của đình Tân Bản nói thêm, phần lớn Hương cổ trong đình phải là người có sức khỏe tốt vì trong lúc hành lễ phải đánh trống suốt 2 tiếng đồng hồ. Thường những người giữ chức Hương cổ đều vào độ tuổi 70 nên sức khỏe không còn như lúc mới vào làm việc trong đình. “Mới hôm trước đi đám tang, có ông vì không chịu nổi nhang khói mà trong lúc đánh trống bị ngất xỉu phải đem ra ngoài cho thoáng mới tỉnh lại được đó. Ở vị trí nào thì sức khỏe cũng là điều quan trọng, không thể đang cử hành lễ mà ông Hương cổ lại ngất xỉu được nên chúng tôi phải luôn có người túc trực để thay thế khi có chuyện xảy ra” - ông Lang cho biết.
Khi ban quý tế đình Tân Bản đến đông đủ, bên bình nước trà, mọi người bắt đầu nói chuyện về tết của gia đình mỗi người. Nhưng khi nhắc đến chuyện mời gánh hát về diễn cho bà con xem thì không khí bỗng dưng chùng xuống, mỗi người đều thở dài có vẻ như luyến tiếc. Thấy chúng tôi không hiểu, ông Ổi giải thích: “Ngày xưa còn có đông người coi, trẻ con hồi đó cũng thích đi xem hát như người lớn chứ không như bây giờ. Hát bội phần lớn diễn vào buổi tối, đến khuya mới xong, giờ chỉ còn người già đến coi, nhiều lúc họ mệt rồi bỏ về chỉ còn đào hát ở trên sân khấu, chấp sự cầm chầu và vài người chịu khó ở lại. Lắm lúc nghĩ mà buồn nhưng không trách ai được, thời đại giờ có nhiều thứ hấp dẫn hơn là đi xem hát. Một lần mời đoàn hát về là tốn rất nhiều tiền, nếu như bà con ai cũng chịu coi thì chúng tôi cũng cố gắng vận động mọi người đóng góp để mời đoàn hát về cho bằng được. Nhưng còn mấy ai thích coi nữa ngoài mấy ông già chúng tôi…” - ông Ổi thở dài luyến tiếc.

Thường thì phải mất nhiều năm để một người mới vào có thể nắm được hết những quy tắc trong việc đánh trống dịp lễ tế. Và còn mất nhiều năm hơn nữa mới có thể tự tin cầm chầu ở những đêm hát bội, vì chấp sự không chỉ là người “thưởng chầu” mà còn là người giữ “linh hồn” cho cả buổi diễn, là người chắp mối liên hệ giữa người diễn và người xem. “Đó, khổ vậy đó mà thằng cháu tôi ở nhà vẫn đòi tôi nói ông Ổi dạy đánh trống để sau này được cầm chầu…” - ông Lang cười rất tươi, một không khí vui vẻ át đi những tiếng thở dài luyến tiếc vừa rồi.

Nắng vẫn vàng ươm trên tán lá xum xuê che mát sân đình, trước mắt tôi những người ở bên kia cái dốc cuộc đời đang âm thầm gìn giữ những giá trị văn hóa, lịch sử của vùng đất này.

Đăng Tùng

Bác sĩ Nguyễn văn Hoài, Người thầy thuốc hiến trọn đời mình cho một hạng người bạc phước

đăng 19:47, 21 thg 7, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Tôi đến đó vào một buổi sáng đẹp trời nhằm lúc cuối năm.

Nắng vừa đủ để giữ lại chút lạnh ban mai, còn vương trong bầu không khí bình yên của khu nghĩa địa.

Và dưới tàng cây cổ thụ, phần mộ của người bác sĩ giám đốc Việt đầu tiên của Dưỡng trí viện như tươi cười với lớp sơn tươi, vôi mới. Lòng tôi cũng thấy vui vui khi ngắm ảnh bán thân của người quá cố gắn ở trước mộ phần: nét mặt, đường môi tỏa một niềm thanh thản lâng lâng. Với người an nghỉ nơi đây, quả là sống ở, thác về. Sống, ở với lớp người xấu số để chăm sóc, vỗ về cả một phần tư thế kỉ, thác, về bầu bạn với mãi mãi với những bịnh nhân tứ cố vô thân hoặc quê hương cách xa diệu vợi mà đành gởi thân ở tại chốn này. Lời của bác sĩ giám đốc hiện tại bỗng trở lại trí tôi:

“Quí báo nói đến Dưỡng trí viện mà không nhắc đến bác sĩ Nguyễn Văn Hoài, là một điều chưa dầy đủ. Nếu ông không cương quyết và kiên nhẫn dùng cả lí và tình để thuyết phục người đại diện của của ủy ban nhân dân tỉnh bộ Biên Hòa thì Dưỡng trí viện này đã chịu chung một số phận với Dưỡng trí viện Vôi ở Bắc: chỉ là những đống gạch ngói ngổn ngang…”

Đêm cuối tháng 10 năm 1945 ấy, thật là đêm mà số phận của Dưỡng trí viện như chỉ mành treo chuông.

Người đại diện của ủy ban nhân dân tỉnh bộ Biên Hòa đưa ra lịnh vườn không nhà trống. Nhà, trại ở đây, quân đội Pháp viễn chinh đến đồn trú tiện lợi vô cùng, cần phải triệt phá và dời Dưỡng trí viện vô… rừng.

Người y trưởng cho biết rằng bịnh nhân người Pháp đã đưa đi xa, và đã cho ra bớt những bịnh nhân có thể sống ở ngoài. Mấy trăm bịnh nhân hiện còn nếu bỏ cái thế giới này vốn tạo ra cho họ thì thế nào cũng trở nên nguy hiểm và phá rầy xã hội thêm. Nhà cầm quyền Pháp không dại gì mà làm một việc thất nhân tâm như thế. Còn ta mà hành động như vậy là lợi cho địch trong việc tuyên truyền của chúng. Từ ngày Nhật đảo chánh, ban Quản trị đã vất vả nhiều để chạy ăn từng bữa cho mấy trăm người bịnh, một mai phải “dựng” viện dưỡng trí ở giữa rừng, thì đó là một cách giết mòn họ bằng cái đói. Chưa kể việc coi giữ họ trong hoàn cảnh ấy, gần như là không thể được. Và số người mất hẳn trí khôn hay nửa mê nửa tỉnh ấy mà đi lang thang trong rừng, bụi thì bất lợi cho cuộc chiến tranh du kích: họ sẽ vô tình tiết lộ bao nhiêu bí mật…

Người đại diện tỉnh bộ nghe xuôi tai, và khi ủy ban phải rút lui trước quân đội Pháp, Dưỡng trí viện Biên Hòa chỉ mất đi một số thuốc men, mà không mất một viên gạch, một miếng ngói nào.


Thì ngày nay, nói đến Dưỡng trí viện này mà chẳng nhắc đến người y sĩ điều trị, trong suốt mười lăm năm (1930-1945), người y trưởng giám đốc mười năm kế đó (1945-1955), quả là một điều thiếu sót, đúng như lời nhận xét của người giám đốc giờ đây.


Cho nên sau khi chúng tôi mời các bạn chuyện trò cùng giám đốc suốt một buổi sáng, sau khi đưa các bạn vào “thế giới người điên” cả một buổi chiều, chúng tôi thấy có bổn phận cùng các bạn tìm hiểu con người mà chính phủ đã lấy tên để đặt cho cái Dưỡng trí viện duy nhất của toàn nước Việt chúng ta.

Người trai Vĩnh Long (1) ấy thật là một người kì cục. Lắm người thân (trong vòng bà con cũng như trong vòng bè bạn, thuộc viên) đã nửa đùa nửa thật gán cho cái tĩnh từ …”gàn”.

Không “gàn” sao, sau sáu năm tốt nghiệp được thuyên chuyển về chẩn y viện Sài gòn (2), lại “động lòng chữ nghĩa”, tạm rời nghề thầy thuốc để sang Pháp học tại đại học đường Sorbonne.

Không “gàn” sao mà khi trở về nước, năm 1930 lại xin bổ nhậm tại nhà thương điên Biên Hòa (3), vì “không ai chịu đến nơi ấy, thì mình đến vậy”.

Nhưng một khi tự nguyện vào cái “thế giới người điên” nọ, thì người thầy thuốc tuổi vừa trên “tam thập” ấy lại tỏ ra sáng suốt hơn người thường.

Ông đọc trong sách báo, ông học ở các bậc đàn anh, ông quan sát bịnh nhân trong mấy năm trời, để quyết tâm hiến trọn đời mình làm sao cho cái “địa ngục nhốt người điên” biến thành cõi “thiên đường” cho người đi dưỡng trí.

Đường đi được sửa sang, cây cỏ bông hoa được trồng thêm, tượng mĩ thuật được đặt ở giữa bồn hoa này, ở góc vườn nhỏ nọ, các lối lại qua sạch sẽ đến đỗi một du khách ghi trong quyển sổ Vàng của viện (trang 177, ngày 25-12-1953): “Cầm một mảnh giấy con, tôi không biết bỏ vào đâu!” Và dưới thời chánh phủ quốc gia Trần Văn Hữu, người lèo lái “con thuyền dưỡng trí viện” đã cực lực tranh đấu để khỏi bớt khẩu phần bịnh nhân vì lí do: tiết kiệm ngân quĩ quốc gia.

Cố tạo một “thiên đường” vật chất, mà nhất là cố gây một “thiên đường” tâm tình.

Người bịnh bước vô đây, không còn là một “kẻ phải nhẫn nhục”, một “ca”, một “đơn vị”, mà là một tiểu vũ trụ cần phải tìm hiểu lần hồi. Và trong việc ni, ít ai chịu khó bằng con người của Khoa học, của Tâm lí học và của Thần học (4) này: hỏi thân nhân người bịnh trước, rồi hỏi người bịnh, lúc họ mê, lúc họ tỉnh, khi sáng khi họ vừa thức dậy, khi trưa họ toan nằm nghỉ và cả nửa đêm! Người thích thơ, thì có sổ để gửi gắm ý tình. Người thích vẽ, thì đã có màu, có vải…

Sự tận tụy và tình thương của người điều khiển đối với bịnh nhân đã truyền sang các nhân viên, và từ khi thời cuộc khiến ông phải “chen vai vô vác” cái gánh nặng do ông giám đốc người Pháp để lại, thì tình tương thân tương ái giữa những người có trách nhiệm trong việc sống còn của Dưỡng trí viện lại càng thêm chặt chẽ.

Vì người giám đốc Việt đầu tiên này vừa là một nhà khoa học vừa là một kẻ tu hành. Một kẻ tu hành không chấp nê, và rất tôn trọng tín ngưỡng của người khác.

Tìm hiểu hoàn cảnh mỗi thuộc viên để giúp đỡ, để khuyên lơn, ông như một người anh cả của đại gia đình Dưỡng trí viện, một người anh cả nghiêm minh và rộng lượng.

Người giám thị đầu hai thứ tóc ấy nói với tôi :

“Vì thời cuộc lộn xộn năm 1945 tôi thôi làm và lên Nam Vang tìm sanh kế. Hai năm sau, ông già bà già tôi thấy mình sắp yếu, muốn tôi về làm việc lại để gần nhau. Ông biết được, viết thơ cho tôi, rồi lo mọi giấy tờ để tôi sớm về với gia đình. Nhờ ông tận tình giúp đỡ mà tôi được gần gũi mẹ cha già và được làm lại ở đây.”

Một giám thị khác, làm lâu năm nhất, cho tôi biết, trong mấy năm “đen tối” 1946 – 47 phòng Nhì của Pháp đã phải bực mình với bác sĩ Hoài: ông cực lực binh vực nhân viên nào bị bắt một cách oan uổng. Vài nhân viên bị bắt, bị một nhà cầm quyền trong tỉnh cho tra tấn để buộc họ khai cho ông tiếp tế cho Việt Minh hầu thỏa chút hiềm riêng, nhưng không một ai chịu mở miệng khai gian cho người chủ và ân nhân của họ, một người mà họ biết rõ chỉ sống chết cho Dưỡng trí viện, không màng gì đến lợi, danh, một người mà đời như chữ I.

Chữ I ngay thẳng.
Chẳng vì ai,
Chẳng tùy ai,
Chẳng khuất ai,
Mãi mãi ta theo ánh sáng…(5)

Người y tá có tuổi ấy ngậm ngùi:

“Ông Hoài lúc nào cũng binh vực nhân viên, và nhất là người bịnh. Chính phủ hơn mười năm trước định bớt khẩu phần bịnh nhân, ông mạnh dạn chống lại: “Họ là hạng người xấu số nhất, tâm đã rối, trí đã loạn rồi nay lại làm cho bao tử họ thiếu ăn, để cho cơ thể họ suy mòn, ảnh hưởng không hay đến tâm trí họ thì có khác gì giết phức họ đâu.

“Xin cấp trên tìm cách “tiết kiệm” ở những nơi khác.”

Và nhắc đến ông, người thủ môn già ấy mơ màng :

“Tôi còn nhớ nhiều lần, có những ông già bà cả nghèo khó ở miệt dưới lên thăm con phải ở lại đêm. Ông biết được, bảo người nhà nấu cơm thêm, mời họ ăn, tặng tiền về xe, và ông nhờ y tá cho họ uống thuốc ngừa cảm vì tuổi lớn, đường xa…!”

Nắng đã chan hòa khắp khu nghĩa địa. Vài con chim sẻ ríu rít trên cây gõ lâu đời. Chiếc ảnh lớn bằng sứ của người mà đời sống đã dính liền với đời của Dưỡng trí viện như sáng lên, và cái cười nhẹ thoáng ở đôi môi sao như vừa hết sức gần người lại như vừa vô cùng thoát tục. Tôi nhớ lại đã gặp ảnh này ở nhiều nhà nhân viên trong cư xá Dưỡng trí viện, và cùng một lúc, tôi nhớ lại lời một số bịnh nhân lâu đời : “Bác sĩ Hoài à? Ổng tử tế lắm mà! Quên sao được.”

Và tôi mơ màng tưởng tượng lại cảnh nơi đây, trên bảy năm về trước, ngày 31-5-1953 (6): một cái quan tài, một đám đông người đưa, tất cả nhân viên Dưỡng trí viện thọ tang, và những bịnh nhân quỳ xuống, (7) khóc, khi quan tài chầm chậm đi qua.. Và hẳn lúc sống trên dương gian cũng như khi nằm trong lòng đất, không bao giờ người thấy cô đơn.
___________
Chú thích của tác giả:

(1) Ông sanh tại Long Châu, tỉnh Vĩnh Long, ngày 7-6-1898.

(2) Ông được bổ nhậm ngạch y sĩ ngày 16-4-1919, và được bổ nhậm ở Tây Ninh, Trảng Bàng, Tam Bình (Vĩnh Long), rồi Long Xuyên.

(3) Nhận việc ngày 16-1-1930.

(4) Ông nghiên cứu tất cả các tôn giáo, nhất là Phật giáo và quan tâm đến những gì dính líu đến siêu hình.

(5) Trích trong bài thơ “Phong hóa chữ I” của cố bác sĩ Nguyễn Văn Hoài.

(6) Ông mất sáng ngày 28-5-1955, lúc 5 giờ, vì đứt gân máu ở tim. Ông để lại các tác phẩm: Lược khảo về các vấn đề Hòa bình, 1950 (Pháp và Việt văn). Điên? Dưỡng trí viện? , 1952 (quyển sách đầu tiên của người Việt nói về bịnh điên và Dưỡng trí viện),Adolf Hitler, 1952 (xét như một bịnh nhân tâm trí, bằng Pháp văn), Về sự tổ chức Dưỡng trí viện miền Nam nước Việt, 1954 (luận về bác sĩ Y khoa, bằng Pháp văn) và nhiều bản thảo trong đó có tập : “…Từ bịnh tâm trí đến sự giết người“.

(7) Một người Pháp đưa đám nói lại với phóng viên báo Journal d’ Extrême-Orient (số 1989, ngày thứ năm 2-6-1955: “Chưa bao giờ tôi thấy người đưa đám mà trầm ngâm và đau xót thật tình như vậy!” Và một nhà mô phạm ở Đô thành, bạn và cưu bịnh nhân, đã cạo trọc đầu từ ấy đến nay để khóc người tri kỉ.

NGUIỄN NGU Í.
Nguồn : Tạp chí Bách Khoa số 149. Năm thứ 7 – Ngày 15-3-63.

 

 

 

"Vườn Kiều" độc nhất vô nhị ở Việt Nam

đăng 04:31, 3 thg 10, 2014 bởi Pham Hoai Nhan

Đền thờ cụ Nguyễn Du trong vườn Kiều


Ở khu phố 4 (phường Bình Đa, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) có khu vườn vô cùng lạ mắt mang đậm chất truyện Kiều. Người dân trong vùng vẫn quen gọi đây là “biệt thự vườn Kiều” hay vườn thơ, vườn Kiều. Chủ nhân khu vườn lạ lùng ấy vốn là nông dân nuôi heo có tiếng Phạm Văn Khoát (bút hiệu Bá Khoát, SN 1933)

Vườn Kiều độc nhất vô nhị

Về phường Bình Đa, hỏi vườn Kiều ai đều biết. Đó là khu vườn rộng chừng 3.000m2 nằm trong một con hẻm tĩnh lặng. Vừa bước vào đầu ngõ, du khách được chào đón bởi hai câu thơ: “Vườn Kiều đón khách du xuân/ Đọc thơ ngắm cảnh thương thân nàng Kiều”. Cảnh vật tại đây được chủ nhân bài trí đậm nội dung truyện Kiều như tượng Kim Trọng trên lưng ngựa, tượng hai chị em nàng Kiều e ấp trước mộ Đạm Tiên… Kế bên, chủ nhân dựng thêm tượng bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương với chú thích “Người tình của Nguyễn Du”.

Đi sâu vào vườn Kiều, sẽ bắt gặp đền thờ Đại thi hào Nguyễn Du do chính tay ông Khoát thiết kế và xây dựng. Mỗi năm vào ngày 16/9, ông và những người yêu mến truyện Kiều lại tổ chức đám giỗ tưởng nhớ tác giả Nguyễn Du tại đây. Dẫn khách đến đâu, chủ nhân đều giải thích tỉ mỉ những cảnh vật được trưng bày mang nội dung gì.

Chẳng hạn như trong truyện Kiều có loại cây nào, ông chủ khu vườn đều sưu tầm mang về trồng bằng được. Hiện cả khu vườn có hơn 100 tượng động vật, giống cây như thế. Không chỉ trang trí khu vườn bằng cây cối, ông Khoát còn xây dựng những công trình được nhắc đến trong truyện Kiều như Liễu Chương Đài, Am Các Tự hay nhà của Hoạn Thư. Dưới mỗi bức tượng hay cây cảnh đều có chú thích bằng chính thơ trích ra từ truyện Kiều. Ví như cây Mai và Trúc được chú thích: “Muôn ngàn người thấy cũng yêu/ Xôn xao anh yến, dập dìu trúc mai”. Tỉ mỉ hơn, ông Khoát còn đề rõ rõ câu thơ mình trích ra nằm ở câu thứ bao nhiêu.

Tượng chị em Thuý Kiều trước mộ Đạm Tiên


Không chỉ trong vườn, ngay tường rào cũng trở thành diện tích khắc họa ngót nghét 20 chương trong truyện Kiều. Ông không quên thanh minh, vì tường rào chỉ dài 200m nên chỉ chép đủ 20 bức điêu khắc tương đương 20 chương. Những bức tường này do chính tay ông Khoát thiết kế. Kỳ công hơn, ông chủ vườn Kiều còn cho người đào ao thả sen và xây gác nhỏ giữa hồ lấy tên “Lầu Ngưng Bích”, nơi Thuý Kiều từng ngồi ngắm cảnh. 

Ông Khoát chia sẻ cơ duyên xây dựng nên khu vườn Kiều. “Lúc 32 tuổi, tôi bị suy tim và được khuyên thường xuyên tắm biển. Mỗi năm phải tắm ít nhất 15 ngày nên có thời gian đọc truyện Kiều. Rồi dần dần tôi cảm nhận được nội dung ẩn chứa bên trong”, chủ khu vườn nói. Thế rồi ông Khoát bắt đầu nghiền ngẫm từng câu từng chữ, tìm đọc đủ 104 điển tích trong truyện Kiều. Còn về khu vườn, chủ nhân bộc bạch, có nhiều cách thể hiện tình yêu truyện Kiều như phổ nhạc, vẽ tranh. 

Riêng ông muốn lập khu vườn tạo thú vui tuổi già. Ý tưởng ấy được biến thành hiện thực vào năm 1996 khi ông dứt bỏ cơ bản công việc làm ăn và hoàn thiện trong những năm sau đó. Hiện tại chủ nhân khu vườn vẫn tiếp tục cải tạo vườn Kiều để những du khách đến đây thực sự hoà mình vào câu chuyện trong truyện Kiều, cảm nhận hết nội dung tác phẩm.
“Vua” nuôi heo trở thành chủ vườn thơ 

Bộc bạch tâm sự, ông Khoát cho biết cảm thấy rất vui từ khi nghiên cứu truyện Kiều. Càng vui hơn khi hội Kiều học là nơi trao đổi về truyện Kiều được thành lập vào năm 2011. Đây được xem là diễn đàn giới nghiên cứu đưa ra quan điểm mới nhất về tác phẩm làm nên tên tuổi Đại thi hào Nguyễn Du. Ông Khoát bật mí, ngày giỗ năm nay sẽ ra mắt văn phòng đại diện hội Kiều học ở Đồng Nai, lấy nơi làm việc là lầu Ngưng Bích.

Chân dung ông lão mê truyện Kiều


Thông tin bất ngờ ít ai biết đó là chủ vườn Kiều vốn được biết đến với biệt danh “Vua” nuôi heo. Kể về bí mật này, ông Khoát tươi cười: “Tôi nuôi heo từ năm 1963. Có được biệt danh trên nhờ vào năm 1993, đài phát thanh truyền hình Đồng Nai mời tôi diễn vai trong bộ phim “vua nuôi heo” tham dự cuộc thi sản xuất giỏi. Phim đạt được giải 3 toàn quốc. Tên gọi “Vua” nuôi heo gắn luôn vào cuộc đời từ đó. Tôi cảm thấy vui bởi tên gọi có phần kỳ quái này lại hợp với nghề nghiệp của bản thân”.

Ngoài đời thường, ai cũng thừa nhận ông Khoát xứng đáng với “chức” “Vua” nuôi heo. Từ trang trại nhỏ ban đầu, người đàn ông này đã gầy dựng thành công ty chăn nuôi Thanh Bình. Ông kể: “Tôi vốn quê ngoài miền Bắc di cư vào Nam từ năm 1954. Nhận thấy nghề nuôi heo phù hợp nên đã đeo đuổi. Lúc đầu chỉ nuôi vài chục con, sau đó tăng lên 300 con và trên 10.000 vào lúc cao điểm”. Trang trại ông Khoát từng được các đối tác nước ngoài kí kết hợp tác làm ăn. Không chỉ làm giàu cho bản thân, ông Khoát còn tạo việc làm cho người dân địa phương, giúp họ ổn định cuộc sống. 

Bất ngờ hơn khi biết người đàn ông giỏi làm kinh tế, đam mê nghệ thuật này chỉ học hết lớp 5. Ông bộc trực chia sẻ, do không thi đỗ kì thi chuyển cấp đành bỏ học vào miền Nam lập nghiệp. Thời gian này, ông Khoát kiên trì theo học hệ bổ túc nâng trình độ học vấn đến lớp 9. 

Ông mê thơ đến mức bỏ tiền túi tự thưởng cho mình chuyến xuất ngoại sang Trung Quốc, tìm đến những nơi mà nhân vật Thuý Kiều từng đi qua như Giang Tô, sông Tiền Đường, Vô Tích, Châu Thai để thoả trí tò mò. Chưa hết, ông còn tự lập bản đồ riêng về hành trình cuộc đời của nhân vật nữ “hồng nhan bạc mệnh” Thuý Kiều. Từ khi nhường chức giám đốc trại heo cho con trai, ông Khoát “bán” phần đời còn lại cho truyện Kiều. 

Giải nghệ nghề nuôi heo hơn gần 20 năm nay, nỗi trăn trở lớn nhất của ông Khoát là niềm tiếc nuối bởi trang trại do mình sáng lập đã chuyển sang nuôi gà. Giải thích việc chuyển đổi vật nuôi, ông Khoát nói: “Bây giờ người nuôi heo sử dụng thuốc tăng trưởng nhiều quá khiến những người nuôi heo trung thực như tôi không cạnh tranh lại. Bởi vậy đành thay đổi, chuyển sang nuôi gà”.

Bùi Yên

Trịnh Hoài Đức - Sứ thần tài hoa

đăng 08:08, 6 thg 8, 2014 bởi Pham Hoai Nhan

Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825) là một danh thần thời Nguyễn Ánh mới khởi nghiệp đồ vương. Lăng mộ của ông hiện nằm trong một con hẻm nhỏ thuộc P.Trung Dũng, Biên Hòa, Đồng Nai. 

Đem thân đền ơn nước 

Lăng mộ nằm trong khu vực khu phố 3, tuy khuất trong khu dân cư, cạnh con hẻm nhỏ nhưng vẫn tạo được sự chú ý của người qua đường bởi quy mô hoành tráng, bề thế… Nghe nói trước năm 1975, hằng năm vào dịp lễ Thanh minh, con cháu hậu duệ của Trịnh Hoài Đức từ nhiều nơi quy tụ về cúng viếng rất trang trọng nhưng về sau không còn duy trì. 


Lăng mộ Trịnh Hoài Đức và phu nhân tại Biên Hòa, Đồng Nai - Ảnh: H.Đ.N 


Năm 1998, nhân kỷ niệm 300 năm miền đất Biên Hòa - Đồng Nai, mộ Trịnh Hoài Đức được trùng tu, tôn tạo, những ngôi nhà dân xâm phạm di tích được giải tỏa, lăng mộ được bảo vệ bằng tường thành bờ bao chắc chắn, nhưng khi chúng tôi đến thăm (cuối năm 2012), người quản trang là một cựu chiến binh đã dẫn chúng tôi đi một vòng để thấy bờ tường có dấu hiệu bị nghiêng, nứt lún ở góc bên phải lăng mộ. Hai ngôi mộ chính (của Trịnh Hoài Đức và phu nhân họ Lê) vẫn giữ được kết cấu nguyên thủy: xây bằng đá ong tô hợp chất, nấm mộ hình voi phục, xung quanh có gờ hình móng ngựa. Phía trước mộ ông có bia đá, khắc câu đối: “Trí thân tòng hứa quốc/Đáo xứ tiện thành gia” (Đã đem thân đi đền ơn nước/Thì nơi đâu cũng có thể xem là nhà). Phía trước cổng vào mộ cũng có bức bình phong lớn khắc chữ Hán ghi vắn tắt phẩm tước của Trịnh Hoài Đức và phu nhân. Thời gian và người lập bia cũng được ghi rõ: “tháng 11 năm Ất Dậu, các con là Trịnh Thiên Lễ Nhiên, Trịnh Thiên Nhiên Bảo và Trịnh Thiên Bảo phụng lập”.


Trịnh Hoài Đức sinh năm 1765, tự là Chi Sơn, hiệu là Cấn Trai. Tổ tiên ông vốn là người Phúc Kiến (Trung Quốc). Khi nhà Thanh thay nhà Minh, vì không chịu thần phục Thanh triều nên ông nội của Trịnh Hoài Đức đưa con cháu sang Việt Nam lập nghiệp. Cha Trịnh Hoài Đức kết hôn với một người Việt và sinh ra Trịnh Hoài Đức nhưng khi người con mới 10 tuổi thì ông bố mất. Mẹ ông là người đảm đang, đã dắt con đến thọ giáo thầy đồ Võ Trường Toản. Tại lớp học của thầy, Trịnh Hoài Đức có hai bạn học là Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tĩnh. Cả ba đều nổi tiếng về văn chương, thi phú. Họ lập nên Bình Dương thi xã cùng nhau xướng họa không thua kém gì Chiêu Anh các do Mạc Thiên Tứ lập ra tại miền Hà Tiên. Người đương thời rất nể phục ba ông, họ gọi là Gia Định tam gia. Năm 1788, chúa Nguyễn Ánh mở khoa thi ở Gia Định, cả ba ông đều ứng thí và cùng đỗ đạt.


Con đường hoạn lộ của Trịnh Hoài Đức thênh thang từ đó. Ông lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy cai trị của nhà Nguyễn, có lúc được cử làm thượng thư của cả hai bộ: Lại (nội vụ) và Binh (quốc phòng). Nhiều lần, ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc.


Trong lần đi sứ đầu tiên nhân vua Gia Long lên ngôi (1802), ông có làm tập thơ Quan quang tập (tức Bắc sứ thi tập - trong Cấn Trai thi tập), mà theo thạc sĩ Lê Quang Trường (Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM) đã toát ra được phong thái ung dung tao nhã của một sứ thần Việt Nam trong giao tế, đối đáp với các nhân sĩ Trung Quốc bằng sự tự hào dân tộc, đồng thời cũng nói lên tâm sự của một sứ thần người Việt gốc Hoa đã sinh ra, chịu ơn và thấm nhuần đạo lý văn hóa của dân tộc Việt tại mảnh đất miền Nam. Trịnh Hoài Đức còn ứng xử khéo léo đối với triều đình Mãn Thanh khi họ không chịu phê chuẩn quốc hiệu, còn với tư cách một văn sĩ khi giao lưu với các nhân sĩ Trung Hoa ông lại tỏ ra rất tài hoa và lịch thiệp. Trong bài Sứ hành tự thuật, Trịnh Hoài Đức còn nói đến sự ứng biến của ông khi nói tiếng Quảng Đông, khi nói tiếng Bắc Kinh, và chuyện ông phải để râu để giữ gìn quốc thể.


Nguồn gốc “Nông Nại đại phố”


Hiện nay chúng ta vẫn hay nghe mấy từ cổ “Nông Nại đại phố” để chỉ miền Cù lao Phố (Đồng Nai) mà không biết xuất xứ, thì ở đoạn chú thích từ một bài thơ trong tập thơ Quan quang tập, chúng ta mới hiểu ra: “Sứ đoàn đến tỉnh Hồ Nam, gặp mặt quan Tuần phủ Cao Kỷ, sau khi nói chuyện xong, Cao cầm lòng tay tôi, xem tướng chỉ tay, nhân hỏi rằng: Sứ bộ là người Nông Nại, cái tên Nông Nại ấy, xưa nay chưa từng nghe thấy, nay xem cách đi đứng nói năng của đoàn sứ bộ, thật là những người có văn hóa, giống với phong tục của Trung Quốc, so với sứ giả trước đây từ An Nam đến thật khác xa, ngỡ rằng Nông Nại là một nước xưa nào khác, văn học, phong tục, cương vực, thổ sản thế nào? Tôi bèn nói rành rọt hết, được đãi trà rồi lui. Thành Gia Định, thường gọi là Đồng Nai, thổ âm Quảng Đông gọi là Nông Nại. Đến khi quan Khổn thần là Tuần phủ Quảng Đông hỏi thăm biết được duyên cớ, khi lên đường, ông viết tấu là đoàn sứ nước ta là người Nông Nại, không phải là người Giao Chỉ An Nam như trước đây, cho nên những nơi sứ bộ đến, từ kinh, tỉnh, phủ, huyện đến sĩ dân, quan lại kiểm tra đều vì điều ấy mà tiếp đãi rất chu đáo, mà cái tên Nông Nại cũng được ghi chép vào sử quán vậy”.


Trịnh Hoài Đức mất năm 1825, thọ 61 tuổi. Vua Minh Mạng hết sức thương tiếc, truyền nghỉ triều 3 ngày, truy tặng ông chức Thiếu bảo Cần chánh Đại học sĩ, ban tên thụy là Văn Khác, phái hoàng thân Miên Hoằng đến nhà riêng tế lễ lại cho đưa linh cữu về Gia Định như nguyện vọng của ông. Ngày đưa tang, lại cho 400 lính Thần sách hộ tống linh cữu ra bến sông Hương. Về đến Gia Định, quan Tổng trấn là Lê Văn Duyệt thân hành đón tiếp và tế lễ, sau đó Lê Văn Duyệt còn hộ tống linh cữu về chôn cất ở quê mẹ ông - làng Bình Trước (dinh Trấn Biên, tức Biên Hòa ngày nay).


Trong kho tàng trước tác đồ sộ của Trịnh Hoài Đức thì Cấn Trai thi tập và Gia Định thành thông chí là đặc biệt có giá trị. Riêng bộ Gia Định thành thông chí (6 quyển) được coi là bộ sách được viết sớm nhất, đầy đủ nhất về địa hình, sông núi, cương vực, văn hóa phong tục, sản vật, giao thông, thành trì của xứ Đồng Nai - Gia Định trong thời đầu mở nước. Ngay khi người Pháp nhòm ngó đất Nam kỳ, họ đã dịch Gia Định thành thông chí ra tiếng Pháp (1863) để tìm hiểu và theo dõi.


Hà Đình Nguyên

Cây tung

đăng 22:09, 2 thg 7, 2014 bởi Pham Hoai Nhan

Rừng Nam Cát Tiên có nhiều cây cổ thụ: đa, gõ, tung... Gây ấn tượng với những đứa trẻ lần đầu biết đến rừng là cây tung.


Rể cây tung lan dài và tỏa ra như chiếc cánh.





Ba mình không lấy làm lạ, ông nói rằng xưa kia khi ông còn nhỏ ở trong rừng già Long Khánh - Xuân Lộc có nhiều cây tung lắm. Do rể tung cao và rộng như một tấm vách nên người dân tận dụng 2 mặt rễ để làm 2 mặt vách rất kiên cô và che thêm chút đỉnh là làm thành một túp nhà để ở.


Ở cái thời nhà tranh vách đất thì một bức vách thiên nhiên như thế này quả là... hàng xịn!


Đó là chuyện hồi Ba mình còn nhỏ, tức là khoảng thập niên 1930 - 1940. Từ hồi mình lớn lên ở Long Khánh tới giờ không nghe nói ở đâu có cây tung hết. Chắc người ta đã phá rừng trồng cà phê, chôm chôm... hết rồi. Bạn nào ở Long Khánh, Xuân Lộc biết thêm về chuyện này kể mình nghe với.


Giờ muốn thấy cây tung phải lên tuốt trên rừng Nam Cát Tiên. Hơi xa (khoảng 150 km, nếu đi từ TPHCM) nhưng cũng đáng để du lịch một chuyến, vì rừng nguyên sinh Nam Cát Tiên có lắm điều hay chứ không phải chỉ có cây tung.


Còn nếu không có thời giờ thì chỉ mất 30 phút thôi cũng có thể chiêm ngưỡng và chụp hình với cây tung. Cây tung này tuy không to bằng cây ở Nam Cát Tiên, nhưng cũng khá già và... đẹp lão. Đó là cây tung trong... Thảo Cầm Viên Sài Gòn!




Phạm Hoài Nhân

Huyền thoại già làng Tơ Tơ

đăng 01:44, 4 thg 3, 2013 bởi Nhân Phạm Hoài

Bên dòng suối Samach (xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai), có một nhà sàn nho nhỏ nép mình dưới những tán cây đại thụ. Đó là ngôi nhà của già làng Tơ Tơ, “báu vật sống” của người dân tộc Châu Ro, người từng một thời khiến quân thù bao phen điên đầu.

NGƯỜI HÙNG NĂM XƯA

Tỉnh lộ 761 như một dải lụa mềm uốn lượn giữa đại ngàn, có lúc nằm chênh vênh giữa lưng trời, lẫn trong mây, lúc lại hối hả đổ xuống con suối đang reo ồn ào. Rừng núi Mã Đà, nơi có chiến khu Đ một thời oanh liệt, đẹp như một bức tranh. Sau nửa ngày vượt gần 200 cây số, cuối cùng, chúng tôi cũng đã đến xã Phú Lý trong bộ dạng toàn thân lấm lem bụi đường. Già làng Tơ Tơ đã quá nổi tiếng ở vùng này, nên tìm đến nhà ông chẳng khó khăn gì. Lúc tôi đến, già làng đang ngồi dưới bậc cầu thang được ghép bằng cây rừng lên nhà sàn, đôi mắt nhắm nghiền. Quanh chân nhà sàn, mấy chú heo đang đủng đỉnh kiếm ăn, bầy gà xúm xít tìm mồi, trên cây, tiếng chim ríu rít. Khung cảnh thật yên bình. Cố gắng bước nhẹ nhưng chưa lại gần tôi đã giật mình khi nghe già làng cất tiếng: “Con từ xa đến?”. Tôi gật đầu chào và giới thiệu vắn tắt.

Già làng Tơ Tơ (tiếng Châu Ro) còn có tên là Nguyễn Văn Nổi, bởi cha ông người Kinh ở Ninh Bình, chỉ có mẹ người Châu Ro. Là con thứ 5 trong gia đình nên mọi người thường gọi ông là Năm Nổi. Năm nay đã bước sang tuổi 84, khuôn mặt quắc thước, nước da săn chắc, đôi mắt sáng tinh anh, chòm râu dài, trắng như cước… xem ra, già làng còn đủ sức leo vài quả đồi.


Già làng đang hồi tưởng lại ký ức hào hùng năm xưa


Dẫn tôi lên nhà sàn, già làng bảo: “Tau được Chính phủ xây nhà cho rồi, nhưng tau thích ở nhà này hơn”. Vừa bước lên sàn, đập vào mắt tôi là hàng chục tấm huân chương, huy chương, những tấm hình lồng trong khung kính treo san sát trên vách. Trong số đó, có hình già làng chụp chung với nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải, Đại tướng Mai Chí Thọ… và nhiều cán bộ cao cấp khác mà ông từng tiếp tế trên đồi Củ Chụp năm xưa. “Đó là những tài sản quí của tau, của bà con”. Ngưng một lát như để ký ức ùa về, già làng nói tiếp: "Năm 1946, nhờ có bộ đội đến rừng Mã Đà lập căn cứ mà người Châu Ro biết đọc, biết viết, biết ăn sạch, uống sạch và biết đoàn kết nữa. Hồi đó, hết Pháp đến Mỹ, tụi nó biết rừng núi Mã Đà che chở, dân làng nuôi giấu bộ đội nên chúng nó làm dữ lắm. Trên trời thì máy bay ném bom, dưới đất bộ binh, biệt kích bố ráp truy bắt bộ đội. Rừng núi này hứng biết bao nhiêu bom đạn tụi nó rồi. Thương rừng, thương cây lắm”.

Năm 1946, khi chiến khu Đ thành lập, Năm Nổi mới chỉ là chàng thanh niên 17 tuổi, nhưng nhờ người cha giác ngộ từ nhỏ nên chàng thanh niên này đã sớm tìm được con đường đi đúng cho mình. Cậu không ngừng băng rừng, lội suối để tiếp tế, làm giao liên cho bộ đội.

Năm 1959, chiến khu Đ bị 20.000 quân địch bao vây dài ngày, mọi ngả đường vào chiến khu đều bị chặn khiến bộ đội có nguy cơ đói vì hết lương thực. Lúc này, sau khi vắt óc suy nghĩ, chàng trai Năm Nổi mới sực nhớ trong chiến khu có một quả đồi rất nhiều củ chụp, một loại củ có thể thay thế cơm. Vui mừng, Năm Nổi vùng dậy, thông báo cho bà con đi đào củ này cho bộ đội. Nhờ củ chụp của Năm Nổi và bà con mà bộ đội ta đã giải quyết được vấn đề lương thực, đánh bại trận trận càn của địch. Cũng từ đó, quả đồi này được đặt tên là đồi Củ Chụp.

BÁU VẬT SỐNG CỦA NGƯỜI CHƠ RO

Có thể nói, ngôi nhà sàn của già làng Tơ Tơ là một bảo tàng văn hóa - lịch sử của người Châu Ro với hơn 200 hiện vật. Từ những công cụ truyền thống của đồng bào như gùi đi nương, xà gạc, roi mây đuổi hổ, cung tên… đến những kỷ vật chiến đấu như cuộn dây mìn, ống đá lửa (gồm hai cục đá và bùi nhùi) để nhóm lửa nấu cơm tiếp tế cho bộ đội.



Già làng Tơ Tơ với cây xà gạc nổi tiếng


Thấy tôi chăm chú nhìn chiếc xà gạc treo trên vách, già làng lấy xuống giới thiệu: “Cây xà gạc này cùng với cây roi mây kia là 2 thứ bảo bối của tau. Nó đã nhiều lần giúp tau thoát khỏi vuốt cọp rồi. Riêng cây xà vừa là vũ khí đánh hổ vừa dùng để giấu tài liệu”. Cây xà gạc có phần lưỡi hơi cong, phần cán được làm bằng ống tre già, dài chừng 1 m, ruột rỗng nhỏ đút vừa ngón tay cái. “Tài liệu mang cho bộ đội cuộn lại nhét vào đó. Nhiều lần tụi nó gặp tau, khám người không phát hiện được gì. Nó không thể biết được đâu”, già làng Năm Nổi cười nói.

"Lúc trẻ, già làng Tơ Tơ là một “mãnh thú” của rừng, gan dạ, không sợ cọp, cũng không sợ quân giặc, là một anh hùng của bà con. Chính nhờ có già mà tất cả bà con trong làng đều một lòng đi theo cách mạng. Bây giờ, già làng lại ra sức bảo tồn các giá trị văn hóa của làng, sát cánh cùng chính quyền tổ chức tuyên truyền các chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước cho bà con… Nếu mỗi làng dân tộc mà có một già làng như Năm Nổi thì tốt biết mấy”, bà Phan Thị Nguyệt, Phó Chủ tịch UBND xã Phú Lý.


Nghe danh đã lâu nên tôi ngỏ ý muốn được xem ông biểu diễn bài quyền đả hổ. Già làng không nói gì, cầm cây xà gạc bước xuống sân. Và, chỉ vài giây sau, trước mặt tôi không còn ông già 84 tuổi nữa mà là một người đàn ông tráng kiện. Ông biểu diễn bài quyền bằng những động tác uyển chuyển, mềm mại như múa, biến hóa vi diệu. Vài phút sau, ông ngừng tay. Tôi thấy sắc mặt ông không thay đổi, chỉ có vầng trán lấm tấm mồ hôi và hơi thở mạnh hơn. Điều đó chứng tỏ, sức khỏe của ông còn khá tốt. “Bây giờ thú rừng ít lắm, có cũng không được săn bắn đâu. Nhưng cái này đã gắn bó với người Châu Ro từ bao đời nay. Cho nên, mình phải giữ để cho con cháu biết tổ tiên mình thôi”, già làng nói.

Trong số những kỷ vật thời kháng chiến, có lẽ, ghi công nhiều nhất là những mũi tên tẩm độc. Già làng bảo, thời Pháp, súng của mình ít lắm. Cho nên, phải dùng loại vũ khí truyền thống này. Chỉ bó tên treo tòng ten trên vách, già làng bảo mũi tên đó ngày xưa đã giết hàng trăm tên giặc, chúng được tẩm một loại chất độc pha chế từ mấy loại lá rừng. Nhưng chỉ mình ông biết công thức pha chế và giải độc. Tôi hỏi: “Già có nhớ đã giết bao nhiêu tên không?”, già lắc đầu: “Nhiều lắm, không nhớ hết được”.

Hai vợ chồng già làng Năm Nổi là người biết nhiều truyện cổ tích, thần thoại của người Chơ Ro nhất hiện nay. Không chỉ thế, hai ông bà còn biết làm và chơi giỏi những nhạc cụ dân tộc như đàn môi, đàn lá, đàn Gonk’ka, hát những bài dân ca truyền thống dân tộc mình. “Đám trẻ bây giờ không còn thích mấy thứ này nữa. Tau buồn lắm. Phải cố mà giữ thôi”, già nói.


Khương Hồng Thủy


--- Tổng hợp các thông tin về văn hóa và du lịch Việt Nam tại www.amazingvietnam.vn ---

Tôi muốn khóc thương đời điêu tàn

đăng 00:20, 8 thg 2, 2012 bởi Nhân Phạm Hoài   [ đã cập nhật 03:49, 8 thg 2, 2012 ]

Lê Hựu Hà là một nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh. Chúng ta biết nhiều đến những ca khúc của ông: Tôi muốn, Yêu người yêu đời, Vào hạ... Sáng 11/5/2003 ông được phát hiện đã chết tại nhà riêng trong tình trạng thi hài bắt đầu thối rữa, trong nhà không có ai. Giám định pháp y cho biết ông đã từ trần vào chiều 9/5/2003.

Người bạn tôi hỏi: Sao viết về Biên Hòa nhiều mà không viết về Lê Hựu Hà, một người con của đất Biên Hòa? Tôi không tin, vì đã đọc ở đâu đó lời Lê Hựu Hà: "Tôi là dân Sài Gòn chính gốc. Gia đình rất khó nên không dễ gì đến với âm nhạc. Từ nhỏ đến lớn ông bà già chỉ muốn tôi làm viên chức nhà nước. Thế là tôi trở thành một viên chức ngân hàng mấy chục năm. Tuy nhiên vì yêu âm nhạc từ thuở nhỏ, nên ban ngày thì làm việc, ban đêm tôi lén học nhạc, rồi làm nhạc công ở các club và sau đó chính thức hoạt động âm nhạc chủ yếu ở lĩnh vực biểu diễn. Còn sáng tác ca khúc, trước tiên tôi viết cho chính tôi. Tôi dùng âm nhạc để giải toả những tình cảm khi vui, khi buồn của chính mình". 

Bạn tôi khẳng định: "Lê Hựu Hà sinh ở Biên Hòa, lúc nhỏ học ở trường tiểu học Nguyễn Du, vì chính má tôi là cô giáo dạy Lê Hựu Hà ở đó".

Rồi tôi tìm ra thông tin: Nhạc sĩ Lê Hựu Hà sinh ngày 5 tháng 6 năm 1946 tại làng Bình Ý, Công Thanh, Biên Hòa, là anh cả trong một gia đình 3 trai và 2 gái. Đã theo thân sinh là ông Lê Hữu Khoẻ xuống Sài Gòn lập nghiệp.

Vâng, vậy là nhạc sĩ Lê Hựu Hà sinh ra và trãi qua thời niên thiếu ở Biên Hòa (nay nơi đó là huyện Vĩnh Cửu, thuộc tỉnh Đồng Nai), nhưng gần trọn cuộc đời ông đã gắn với Sài Gòn.


Tôi xin mượn lời trong website của nhạc sĩ Trần Quang Hải (trưởng nam của giáo sư Trần văn Khê) để giới thiệu tiểu sử của Lê Hựu Hà:

LÊ HỰU HÀ
(1946-2003)

Nhạc sĩ Lê Hựu Hà - tác giả của một loạt ca khúc: Vào hạ, Hãy yêu như chưa yêu lần nào, Yêu em, Hãy vui lên bạn ơi... đột ngột ra đi vào lúc 8 giờ ngày 11/5 tại căn nhà của mình nằm trong hẻm 98 Hồ Hảo Hớn, Q.1, TP.HCM.

Nhạc sĩ Lê Hựu Hà sinh năm 1946, được nhiều nhạc sĩ đi trước đánh giá là một trong những người Việt hoá nhạc trẻ Âu Mỹ đầu tiên. Anh bắt đầu hoạt động âm nhạc có thể tính từ năm 1965 với ban nhạc Hải Âu tại Đại hội nhạc trẻ Taberd. Đến đầu thập niên 1970 anh nổi lên cùng với ban nhạc Phượng Hoàng. Các ca khúc do anh sáng tác được phổ biến lúc này là: Tôi muốn, Lời người điên, Hãy nhìn xuống chân...


Sau khi Phượng Hoàng tan rã, anh thành lập ban Mây Trắng và tung ra ca khúc mới như: Hãy ngước mặt nhìn đời, Đôi khi ta muốn khóc. Sau năm 1975, ban Hy Vọng (gồm Mạnh Tuấn, Huỳnh Hiệp, Bảo Chân, Lý Được, Minh Hải, Quốc Dũng và các ca sĩ Sĩ Thanh, Tuyết Loan, Trang Kim Yến) của Lê Hựu Hà là lực lượng hùng hậu nhất so với các ban nhạc đương thời. Phiêu Bồng là địa chỉ cuối cùng của Lê Hựu Hà hoạt động dưới hình thức ban nhạc.


Không chỉ sáng tác các ca khúc có giai điệu, tiết tấu hiện đại của nhạc trẻ Phương Tây, nhạc sĩ Lê Hựu Hà còn là một trong những nhạc sĩ khá chuyên tâm trong việc dịch chuyển, biên soạn lời Việt cho các ca khúc quốc tế, anh đã viết lời Việt khoảng gần 100 ca khúc, nổi tiếng có bản: Đồng xanh, Những lời dối gian, Ngày hôm qua, Không có em...


Một Chốn Riêng Của Lê Hựu Hà
  

Ở Sài Gòn, vào văm 1958, những cuộc trò chuyện về âm nhạc say mê đến hàng giờ của ba gã học sinh Trường Kỳ, Nam Lộc và Lê Hựu Hà có thể coi là trang mở đầu của cuốn lịch sử pop – rock Việt Nam về sau này.

Tại sao có một loại nhạc mà tiết điệu của nó lại trẻ trung đến thế? Tại sao nó có những lối trình bày ca khúc lại phóng khoáng và tự do đến thế? Tại sao âm nhạc Việt Nam cứ mãi bám với lối hát, với ca khúc chậm rãi và đều đều như vậy? Tại sao…? Những câu hỏi như thế cứ vây quanh cậu học sinh Lê Hựu Hà nhưng dường như không có ai có thể trả lời vào lúc ấy. Hơn bao giờ hết, những câu chuyện về Paul Anka với album Diana hay Brenda Lee với Sweet nothing, I'm in mood for love… đã bán được một triệu đĩa ở tuổi 15 đã theo vào giấc mộng của Lê Hựu Hà hằng đêm. Âm thầm từ đó, những ca khúc nhạc trẻ đầu tay của Hựu Hà đã ra đời vào năm 17 tuổi. Nhưng dĩ nhiên, anh chỉ dám hát riêng cho mình cho đến khi lập ban nhạc sinh viên mang tên Hải Âu, thì một vài ca khúc ấy mới được thể nghiệm với dàn nhạc điện tử. Đây cũng là một ban nhạc trẻ có khuynh hướng Việt hóa pop – rock (lúc đó còn đang học lơp 11), sau này cũng đã trở thành một trong những ca sĩ rất nổi tiếng của Việt Nam – đó là Thanh Lan. 

Mãi cho đến năm 1966, ban Hải Âu của Lê Hựu Hà mới có dịp trình làng với công chúng trẻ qua đại nhạc hội học sinh – sinh viên ở Trường Taberd. Tuy không gây tiếng vang như các ban Les Fanatics của Công Thành, Spotlights của Tuấn Ngọc, Les Vampires của Đức Huy… nhưng Lê Hựu Hà đã làm giới trẻ Sài Gòn lúc đó bất ngờ về một khái niệm còn rất mới: người Việt vẫn có thể tạo ra cho một lối chơi pop – rock của riêng mình. Năm 1970, Hựu Hà lập ban Phượng Hoàng cũng với phong cách đó, mà lúc bắt đầu được mọi người hào hứng đón nhận. Phong cách này như được chắp cánh với sự tham gia của Nguyễn Trung Cang và Elvis Phương. 

Sau năm 1975, nhạc sĩ Lê Hựu Hà tiếp tục niềm say mê của mình, tuy có chựng lại ít nhiều. Các tác phẩm của anh vẫn thầm lặng ra đời. Và dù thời gian đã đi qua suốt các chặng đường nhiều đổi thay của nhạc trẻ với rock'n 'roll rồi swinging pop… cho đến heavy rock, grunge…, nhạc sĩ Lê Hựu Hà vẫn trung thành với phong cách mà anh đã chọn. Vì vậy, trong thế giới âm nhạc riêng của người Việt, vẫn có đâu đó một góc nhỏ rất riêng của nhạc sĩ Lê Hựu Hà.

Thông tin cuối cùng về Lê Hựu Hà có liên quan đến Đồng Nai: Ông được an táng tại nghĩa trang xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai, kề cận mộ thân phụ ông.

Như vậy nhạc sĩ Lê Hựu Hà sinh ra và an nghỉ ngàn thu trên mảnh đất Biên Hòa. 


Mộ Lê Hựu Hà ở Vĩnh Cửu, Đồng Nai. Ảnh: Trần Đăng Chí


Âm nhạc của ông vẫn sống mãi với mọi người, mọi nơi.
Hãy cùng nghe lại ca khúc Tôi muốn của Lê Hựu Hà, bạn nhé:

Tìm lại tác giả phù điêu chợ Bến Thành

đăng 08:05, 8 thg 1, 2012 bởi Nhân Phạm Hoài   [ đã cập nhật 08:23, 8 thg 1, 2012 ]

Nằm ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, chợ Bến Thành đã trở nên quá quen thuộc với mỗi người dân Sài Gòn, cũng như đối với du khách trong và ngoài nước. Theo dòng thời gian, kiến trúc của chợ Bến Thành có nhiều thay đổi. Tuy thế, dáng vẻ và phần đầu của mặt tiền chợ vẫn giữ được như xưa. Trong lòng nhiều thế hệ, chợ như là một biểu tượng của Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh cho dù điều đó chưa được chính thức công nhận.

Quen thuộc là vậy, có thể nhiều người quan sát thấy những bức phù điêu trang trí chợ Bến Thành với hình con bò, con cá đuối, nải chuối...

Nhưng có lẽ, ít người biết tác giả của những bức phù điêu đó là ai?


Tìm lại người xưa

Trong quá trình tìm về lịch sử trường Mỹ nghệ Biên Hòa, cũng như dòng gốm Biên Hòa xưa. Tôi cũng may mắn tìm gặp lại được hai nghệ nhân gốm Biên Hòa, những người đã trực tiếp gắn những bức phù điêu ở chợ Bến Thành năm xưa.

Mùa hè năm 2007, qua lời giới thiệu của một chị làm trong ngành gốm, tôi được gặp ông Nguyễn Trí Dạng (Tư Dạng), một nghệ nhân gốm Biên Hòa xưa, hiện sống tại phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa. Qua vài lời nói chuyện làm quen. Tôi liền hỏi ông ngay: “Cháu nghe nói trường mình, trường Mỹ nghệ Biên Hòa, ngày xưa có làm phù điêu trang trí cho chợ Bến Thành?”. Ông Tư Dạng trả lời ngay: “Đúng, làm năm 1952, mẫu là sáng tác của ông Mậu; tôi và một người bạn là hai người trực tiếp lên Sài Gòn gắn những bức phù điêu đó”

Nguyễn Trí Dạng (trái) và Võ Ngọc Hảo, hai nghệ nhân đã trực tiếp gắn những bức phù điêu chợ Bến Thành

Được gợi về những năm tháng xa xưa, ông hào hứng kể lại vô số chuyện cũ. Chuyện về những người thầy, những thợ bạn và những sản phẩm gốm Biên Hòa xưa. Đó là những chuyện không xưa lắm, nhưng lớp trẻ ngày nay khó hình dung về một ngôi trường nổi tiếng một thời với dòng gốm mỹ nghệ Biên Hòa. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống về gốm mỹ nghệ, nên từ rất nhỏ ông đã có dịp tiếp xúc với những người nghệ nhân của trường Bá nghệ, càng quan sát ông càng đam mê những đất, men. Năm 14 tuổi, ông vào học trường Mỹ nghệ Biên Hòa, sau 4 năm học tập, ông tốt nghiệp năm 1950, và cũng là khóa học trò cuối cùng của trường dưới sự điều hành của ông bà Balick. Sau khi ra trường, ông làm việc liên tục tại Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa cho đến khi được tuyển vào trường Kỹ thuật Biên Hòa, năm 1966, để làm thầy dạy ban gốm của trường. Cả đời ông gắn liền với nghề gốm, hiện nay ở tuổi 76, ông vẫn làm những sản phẩm gốm cho những đơn hàng nhỏ, lẻ.

Gặp được người nghệ nhân thứ nhất, tôi tiếp tục đi tìm người nghệ nhân thứ hai đã tham gia gắn những bức phù điêu đó. Sau nhiều cuộc tìm kiếm, cùng với sự   hướng dẫn chỉ đường của ông Tư Dạng, tôi cũng tìm được người nghệ nhân này, gặp được ông tại Cù Lao Phố (Biên Hòa) vào một ngày trung tuần tháng 10. Ông là Võ Ngọc Hảo, sinh năm 1932 tại Tân Thành, Biên Hòa. Vào học trường Mỹ nghệ Biên Hòa năm 1945, sau bốn năm học tập, ông tốt nghiệp ban gốm của trường vào ngày 11.07.1949. Sau khi tốt nghiệp, ông ra làm thợ cho Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa đến năm 1961, sau đó ông làm cho công ty cấp nước thành phố đến khi nghỉ hưu. Hiện nay, ông sống tại Bình Lục, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Tại Cù Lao Phố, vào một ngày tháng 10.2007, hai người nghệ nhân mỹ nghệ Biên Hòa năm nào, sau nhiều năm xa cách, ngày nào lên gắn những phù điêu tóc hãy còn xanh nay mái đầu đã bạc. Gặp lại, hai ông ôn lại những kỷ niệm năm xưa về mái trường Mỹ nghệ, nay chỉ còn trong ký ức. Và nhớ lại những ngày đi gắn những bức phù điêu, đó là những kỷ niệm không thể nào quên. Người viết bài này được phép ngồi cạnh hai vị nghệ nhân, dịp này xin thuật lại đôi điều về những ký ức đó!

Ký ức còn lại

Phù điêu hình bò và heo (cửa Đông)

Tôi đọc được một trang nhật ký của một nghệ nhân mỹ nghệ Biên Hòa ghi: “Ngày 1.9 (âm lịch) mưa cả ngày. Qua ngày 2.9 nước lên lẹ cấp kỳ. Nước xuống lần cho tới ngày 17.9. Đâu về đó”. Đó là những dòng chữ ghi lại nhật ký trận lũ lịch sử Nhâm Thìn (1952) tại Biên Hòa.

Phù điêu hình bò và vịt (cửa Đông)

Sau trận lũ lụt Nhâm Thìn, ba ông Phạm Văn Ngà (Ba Ngà), Nguyễn Trí Dạng (Tư Dạng) và Võ Ngọc Hảo được Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa cử lên Sài Gòn để gắn những bức phù điêu chợ Bến Thành. Những bức phù điêu này được nhà thầu chợ Bến Thành đặt trường Mỹ nghệ Biên Hòa làm. Thầy Lê Văn Mậu được giao sáng tác theo đơn đặt hàng, được sự giúp của những người thầy và những nghệ nhân lành nghề bên Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa như: Sáu Sảnh, Tư Ngô, Hai Sáng, chủ Thạch, anh Tóc... Thầy Lê Văn Mậu sáng tác trực tiếp lên đất, sau đó chỉnh sửa với sự góp ý của những người nghệ nhân. Rồi những bức phù điêu đó, nhằm để tránh những sự vênh méo ở những sản phẩm có độ nung cao như gốm Biên Hòa, chúng được cắt ra theo từng miếng nhỏ riêng, để đem mang đi chấm men, đi nung. Lò đốt bằng củi thỉnh thoảng gây “hỏa biến” ở những đồ gốm, đặc biệt có ở những bức phù điêu chợ Bến Thành những màu men trắng ta, trắng ngà ngà vàng mỡ gà rất đẹp, rất hiếm gặp. Do những miếng nhỏ của những bức phù điêu được đặt ở nhiệt độ không đều nhau, tuy trong cùng một lò nung, nên khi ra lò nó có miếng màu nhạt, màu đậm là vậy.


Phù điêu hình cá đuối và nải chuối (cửa Tây)

Trước khi đóng thùng mang lên Sài Gòn bằng những chiếc xe công nhông. Những mẫu gốm của phù điêu chợ Bến Thành được mang từ trường trong (ngày nay là địa điểm trường CĐ Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai) ra sắp ngoài trường ngoài (ngày nay là địa điểm trụ sở UBND tỉnh Đồng Nai), bởi lò nung gốm được đặt ở trường trong. Những mẫu gốm của phù điêu được đem sắp ngay chỗ cột cờ, chỗ văn phòng thầy Mã Phiếu (trưởng phòng hành chánh trường Mỹ nghệ Biên Hòa) bước ra, sắp ra ở đó. Thầy Lê Văn Mậu, chắp tay sau lưng, đi qua đi lại coi xem tấm nào nó bị vênh mới cho đục sau lưng cho nó mỏng để cho nó bằng. Xong xuôi đâu đó mới xếp vào thùng chuyển lên Sài Gòn. Rồi xuống dưới đó, chợ Bến Thành, nhà thầu khi họ xây dựng họ chừa lại những mảng tường cho mình để gắn những phù điêu. Và họ cũng làm sẵn cho mình những giàn giáo, những cô công nhân trộn cho những hồ vữa sẵn để mình chỉ tập trung gắn những phù điêu. Ông Phạm Văn Ngà, người thợ cả chỉ đạo gắn những bức phù điêu cho hai người thợ trẻ, ông Tư Dạng và Hảo, làm những công việc cần làm để gắn những bức phù điêu lên. Từng tấm, từng tấm, gắn từ những tấm ở dưới trước rồi dùng những cây chỏi để giữ cho nó gắn chặt với hồ vữa, đến khi hoàn thành một bức phù điêu, kiểm tra lại xem chổ nào còn hở thì trét hồ cho kín. Nhìn thấy công việc cũng không khó khăn lắm, cộng với nhiều công việc đang đợi mình ở Biên Hòa, nên ông Ba Ngà về trước, để lại những tấm phù điêu đó cho hai người thợ trẻ tiếp tục công việc.

Phù điêu hình bò và cá (cửa Nam)

Những thuận lợi ban đầu, khi ở Sài Gòn họ tạo điều kiện cho mình, nhưng bên cạnh đó gặp cũng không ít khó khăn. Ở cái cửa chính kế ga xe lửa, chổ này về khuya cá biển về họ mần rầm rầm hơi nó bốc lên mà nó hôi tanh, muốn ói vậy, trong khi đó mình phải ngủ trên... những chiếc đồng hồ nơi cửa chính này. Ban ngày thì nắng chang chang, sáng có sương mù tối đến mưa phùn, những giấc ngủ lạnh buốt là thế nhưng những người nghệ nhân Biên Hòa này luôn cố gắng để hoàn thành công việc được giao. Theo trí nhớ của hai nghệ nhân gốm, thì thời gian hoàn thành 12 bức phù điêu cho bốn cửa của chợ Bến Thành khoảng hai tháng trở lại chứ không có hơn, cũng mau lắm!

Phù điêu hình vịt (cửa Bắc)

Khi những bức phù điêu đã tương đối hoàn tất thì người thợ cả Ba Ngà xuống xem, chỉnh sửa lại đôi chổ còn thiếu sót. Hai người thợ trẻ hoàn thành công việc được giao, họ phấn khởi, đó là những kỷ niệm một thời nay khó phai mờ trong ký ức!

Lê Văn Mậu - tác giả những bức phù điêu

Lê Văn Mậu (1917 - 2003) là một nhà giáo nhân hậu và một điêu khắc gia tài hoa. Sinh năm 1917 tại Vĩnh Long. Năm 1930, lên Sài Gòn ở nhà người cậu là bác sĩ Quế để học trung học. Sau khi đậu Diplôme vào năm 1934, Lê Văn Mậu lên Biên Hòa xin học điêu khắc trong dịp hè với ông Balick, hiệu trưởng trường Mỹ nghệ. Ông bà Balick là thân chủ bác sĩ Quế nên rất quí thầy và sắp xếp cho thầy ở Cù Lao Phố. Khi ông Balick hứa sẽ xin cho thầy học bổng học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thì thầy quyết định bỏ học ban tú tài mà theo học trường Mỹ nghệ. Trong thời gian học ở đây, những mẫu sáng tác của thầy được Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa chọn để đưa vào sản xuất. Sau những năm tháng học tập, thầy đậu hạng nhất kì thi tốt nghiệp khóa ngày 2.7.1937.

Đoàn Trường Kỹ thuật Biên Hòa tham dự khóa hội thảo về giáo dục năm 1965 tại Sài Gòn (Lê văn Mậu đầu tiên, bên trái)

Được ông Balick giới thiệu, cuối năm 1937, thầy đã vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương không phải qua thi tuyển. Năm 1940, báo Pháp La volonté indochinoise nhận xét phê bình:

“Tác phẩm Đám rước của ông Mậu, do cách bố cục và sự tìm tòi trong cách thể hiện, đã báo hiệu một nghệ sĩ tài năng”. Sau nhiều trăn trở tính suy, mùa hè năm 1942, thầy quyết định thôi học một năm trước khi thi tốt nghiệp, ông hiệu trưởng E. Jonchère cho thầy một chứng chỉ với nhận xét rất tốt.

Theo thư mời của ông Balick, Lê Văn Mậu trở thành giáo viên dạy môn điêu khắc và môn vẽ cho trường Mỹ nghệ Biên Hòa kể từ năm 1944, là người thế chân cho thầy Nhứt (Đặng Văn Quới) nghỉ hưu. Từ đó thầy gắn bó với trường Mỹ nghệ, với Biên Hòa tròn nửa thế kỷ. Cuộc đời nhà giáo của thầy phẳng lặng êm đềm. Năm 1963, thầy được cử làm hiệu trưởng trường Mỹ nghệ Biên Hòa, nhưng với tên mới là trường Kỹ thuật Biên Hòa.

Năm 1973, trường Kỹ thuật Biên Hòa có sự xáo trộn, thầy xin thôi chức hiệu trưởng và thầy thuyên chuyển về trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn làm giảng viên môn điêu khắc. Sau 1975, thầy tiếp tục dạy tại trường cũ, nhưng có tên mới là ĐH Mỹ thuật Tp.HCM, cho đến khi nghỉ hưu.

Ông Nguyễn Hoàng, hiệu trưởng nhận xét: “Ông là người thầy đã đóng góp nhiều công sức để đào tạo cho đội ngũ điêu khắc ở miền Nam trước và sau giải phóng”.

Trong sự nghiệp sáng tác của mình thầy Lê Văn Mậu đã sáng tác hàng trăm tác phẩm lớn nhỏ. Hiện nay được lưu giữ trân trọng tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Đồng Nai, sưu tập tư nhân trong và ngoài nước. Chỉ xin kể một số tác phẩm tiêu biểu của thầy: Đức mẹ Maria (1951, Nhà thờ Biên Hòa), Napoléon xem binh thư (1954, Pháp), Phật Thích Ca (1954, Chùa Xá Lợi), Bóng xế tà (1964, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh), Đại thần Phan Thanh Giản (1964, Vĩnh Long), Tượng trưng tài nguyên và kinh tế Biên Hòa (1967), Anh hùng Nguyễn Trung Trực (1968, đặt trước chợ Rạch Giá), Đài phun nước Cá hóa long (1968 - 1970, Công trường Sông Phố, Biên Hòa), Hùng Vương dựng nước (1989, Khách sạn Continental, Thành phố Hồ Chí Minh)… Thầy ba lần làm tượng VIP đáng nhớ: tượng Cựu hoàng Bảo Đại (1948), tượng Tổng thống Ngô Đình Diệm (1959) và tượng Bà Sáu Thiệu (1970-1973). Và thầy đã sáng tác rất nhiều mẫu mã phục vụ cho những sản phẩm gốm mỹ nghệ Biên Hòa.

Bài và ảnh: Nguyễn Minh Anh (Cựu sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai)

Lâm Trung trại và vụ phá khám Biên Hòa 1916

đăng 03:10, 21 thg 11, 2011 bởi Nhân Phạm Hoài   [ đã cập nhật 05:36, 21 thg 11, 2011 ]

Trong phong trào kháng Pháp ở miền Nam, có một số hội kín ra đời (mang danh nghĩa là Thiên Địa Hội). Lâm Trung trại ở Biên Hòa là một tổ chức như thế. Lâm Trung trại do một số người dân yêu nước ở tỉnh Biên Hòa cũ bí mật lập ra. Lâm Trung Trại được thành lập tại ngọn Rạch Đông (nay thuộc xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).

Thành phần sáng lập gồm có: Năm Hi (được bầu làm thủ lĩnh), Tư Hổ, Bảy Đen, Ba Hầu, Sáu Huyền (cùng ở Tân Trạch), Ba Thứ, Năm Thanh (cùng ở Tân Lương, nhưng quê gốc ở Tân Uyên), Ba Nghi, Năm Rùa (cùng ở Tân Khánh), Hai Mạnh (ở Tân Uyên), Mười Lợi (ở Lò Gạch), Hai Cẩm (ở Biên Hòa),...

Vụ phá khám Biên Hòa, 1916

Tháng 8 năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, vì Pháp phải đương đầu với Đức, nên kiệt quệ lần hồi. Do cần quân số, năm 1915 và 1916, thực dân Pháp ở Việt Nam đã nhiều lần ra lệnh bắt lính, để đưa sang đấy tham chiến. Điều này, đã làm cho người dân Việt bị áp bức thêm căm phẩn.

Nhân cơ hội đó, thành phần nồng cốt của Lâm Trung Trại quyết định mở cuộc tấn công khám đường Biên Hòa và một số nơi khác (để giải cứu số người bị bắt lính, và cũng để phân tán lực lượng của đối phương) vào đêm ngày 12 tháng Giêng (âm lịch) năm Bính Thìn (1916). Sau khi bàn bạc, các hội viên nòng cốt nhận nhiệm vụ khởi sự tại các vùng như sau:
  • Năm Hi (thủ lĩnh), Tư Hổ, Ba Hầu, Hai Lựu, Ba Vạn ở vùng Tân Trạch
  • Ba Thứ và Năm Thanh ở vùng Tân Lương.
  • Ba Nghi, Năm Rùa và Hai Sở ở vùng Tân Khánh và Bà Trà.
  • Hai Cầm ở Bến Cá.
  • Mười Lợi ở Lò Gạch.
  • Mười Sót, Mười Tiết, Bếp Đầy, Lào Lẹt (gốc người Lào), Bảy Phát, Hai Danh, cùng nhận mục tiêu chính, đó là phá khám Biên Hòa để giải cứu những tù nhân chính trị và dân lành bị bắt oan.
Cuộc khởi sự ở các nơi diễn ra đúng kế hoạch, tuy nhiên, chỉ giải cứu được một số thanh niên bị bắt lính ở Tân Khánh; và ở mũi tấn công khám Biên Hòa, nhờ nội ứng, đã giải cứu được một số tù nhân. Cũng vì thành phần ô hợp, thiếu kinh nghiệm chiến đấu, vũ khí thô sơ; nên tất cả các mũi tấn công đều bị đối phương nhanh chóng đè bẹp. Nhiều hội viên bị bắn chết và bị bắt sống tại trận. Trong số bị bắt sống, có Mười Sót và Mười Tiết, là hai người chỉ huy mũi tấn công khám đường Biên Hòa.
 
Theo phương án đã định sẵn phòng khi thất bại, số hội viên tháo chạy được liền tập trung tại chùa làng Tân Trạch (Biên Hòa). Sau đó, cả nhóm định đi tấn công đồn Sơn Đá, để giải cứu những người vừa bị bắt. Thế nhưng vừa tờ mờ sáng, quân Pháp được trang bị đầy đủ, từ tỉnh lỵ Biên Hòa đã rầm rộ kéo đến chùa. Nhờ hay trước, các hội viên đều chạy thoát. Chỉ có cụ Cả Thắm, cha của Tư Hổ, vì già yếu không chạy kịp nên bị bắt, bị tra tấn. Thương cha, Tư Hổ ra nạp mình. Sau, vì bị ruồng bố quá, Năm Hi, Ba Hầu, Hai Lựu, Lào Lẹt, Hai Sở, Ba Vạn, Bảy Phát, Hai Danh,... cũng đều lần lượt sa vào tay đối phương.

Bị xét xử
 
Tháng 3 năm 1916, tức khoảng hai tháng sau kể từ đêm nổ ra vụ phá khám Biên Hòa, tất cả số hội viên và người dân bị bắt đều bị đưa ra xét xử trước tòa “Áo đỏ” (tức Tòa đại hình của Pháp) với tội danh “phiến loạn, cướp của và giết người”. Cuối cùng, số người bị cáo buộc là chủ mưu và bị kết án nặng nhất có:
  • Án tử hình, gồm: Mười Sót, Mười Tiết, Ba Hầu, Năm Hi, Hai Lựu, Hai Sở, Lào Lẹt, Bảy Phát, Bếp Đầy.
  • Án 20 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo, gồm: Tư Hổ và Ba Vạn.
Mấy hôm sau, lúc tờ mờ sáng, 9 hội viên bị kết án tử hình, bị đem ra bắn chết tại pháp trường ở phía tây Dốc Sỏi (Biên Hòa). Các thân xác ấy đều bị vùi chung trong một hầm tại bãi “Cây gỏ cụt”, cách chỗ bắn khoảng 50m. Về sau, khi đào đất, có tù nhân tìm gặp hầm. Hay được, những người dân ở gần đó hùn tiền mua cho mỗi xác một chiếc chiếu.
 
Trăm năm sau: Chùa Cô Hồn
 
Chùa Cô Hồn (Bửu Hưng tự)
 
Cảm động trước tấm lòng yêu nước của các nghĩa sĩ Lâm Trung trại, người dân địa phương đã xây dựng ngôi miếu nhỏ trên triền đồi nhằm tưởng nhớ và thờ cúng những linh hồn sĩ tử.
 
Đến năm 1920, nhân dân địa phương góp tiền của, công sức xây dựng ngôi miếu thành ngôi chùa có tên gọi Bửu Hưng tự, nhưng người dân vẫn quen gọi theo tên cũ là chùa Cô Hồn.
 
Chùa Bửu Hưng được UBND tỉnh Đồng Nai xếp hạng di tích lịch sử từ năm 1979.
 
Ngày nay, chùa Bửu Hưng nằm gần cổng sân bay Biên Hòa, trên đường Phan Đình Phùng, phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa. 
 
Người dân Biên Hòa vẫn thường xuyên viếng chùa. Có người gọi là chùa Bửu Hưng, cũng nhiều người gọi là chùa Cô Hồn, nhưng lịch sử bi tráng về xuất xứ chùa và tên gọi chùa Cô Hồn có lẽ đang chìm dần vào dĩ vãng...
Phạm Hoài Nhân
(theo tư liệu từ Wikipedia & Phan Đình Dũng)

1-10 of 24

Comments