Nhân vật Đồng Nai và những sự kiện liên quan

Bài mới

  • Triệu Gia Trang - nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống Từ đường Nhà thờ họ Triệu tại Triệu Gia Trang (ấp Vĩnh Hiệp, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu) vinh dự được Tổng Thư ký Liên hiệp UNESCO Thế giới ...
    Được đăng 07:17, 9 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chiêm ngưỡng tượng Phật ngọc lớn nhất thế giới tại Việt Nam Từ khối ngọc bích thô nặng 11,5 tấn được phát hiện tại Canada, trong hơn 1 năm các nghệ nhân Việt Nam đã chế tác thành công bức tượng ...
    Được đăng 04:35, 9 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Người điêu khắc tượng tài hoa Mới đây, nghệ nhân Nguyễn Văn Minh (xã Phước Tân, TP. Biên Hòa) đã được Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam trao bằng chứng nhận, phong tặng danh hiệu ...
    Được đăng 04:06, 9 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Hà mã đầu tiên sinh con tại Đồng Nai Sinh tự nhiên tại sở thú Vườn Xoài, hà mã con nặng 29 kg, được đặt tên là “Bé Xoài”. Hà mã con - Bé Xoài luôn theo sát bên mẹ ...
    Được đăng 19:14, 23 thg 12, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đi tìm nguồn gốc xôi chiên phồng Trong một lần tình cờ tôi được gặp bà Út Ha – được coi là người lưu giữ bí quyết chế biến ra món Xôi chiên phồng trứ danh, có nguồn ...
    Được đăng 01:13, 18 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 34. Xem nội dung khác »

Bài trong mục này


Triệu Gia Trang - nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống

đăng 07:13, 9 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 07:17, 9 thg 10, 2019 ]

Từ đường Nhà thờ họ Triệu tại Triệu Gia Trang (ấp Vĩnh Hiệp, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu) vinh dự được Tổng Thư ký Liên hiệp UNESCO Thế giới và Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam công nhận và trao bằng bảo trợ di tích lịch sử, văn hóa. Đây được xem là phần thưởng nhằm khích lệ Triệu Gia Trang góp phần vào công tác bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của dân tộc. Triệu Gia Trang cũng là đơn vị tư nhân đầu tiên được nhận bằng bảo trợ này.

Từ đường “Triệu Gia Trang”


Tọa lạc tại hương lộ 9, ấp Vĩnh Hiệp, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, Triệu Gia Trang mang đặc trưng của lối kiến trúc Phật giáo. Khách đến Triệu Gia Trang có thể lầm tưởng đây là một ngôi chùa, bởi sự bề thế, khang trang của nơi thờ tự này (toàn bộ Triệu Gia Trang tọa lạc trên diện tích 5 ha). Tuy nhiên, đây chỉ là nơi thờ tự mang tính tư nhân của ông Trịnh Hữu Hòa, chủ nhân Triệu Gia Trang. Nơi thờ tự này được ông đặt cho tên gọi là Nam Minh Ðiện. 

Ông Trịnh Hữu Hòa bên bức tượng Quan Âm Bồ Tát bằng ngọc bích lớn nhất thế giới


Tên gọi “Triệu Gia Trang” hẳn cũng gây không ít tò mò cho nhiều người. Triệu Gia Trang nguyên là tên gọi của Từ đường họ Triệu ở thôn Trí An, xã Nam Hoa, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Ðịnh. Năm 2000, ông Hòa chuyển vào Nam sinh sống. Nhận thấy con cháu họ Triệu ở phía Nam rất đông, trong đó nhiều người sinh sống ở Ðồng Nai, được bạn bè giới thiệu, ông đã mua đất ở ấp Vĩnh Hiệp và lập nên Triệu Gia Trang phía Nam.

Ông Hòa tâm sự: “Gốc của tôi là họ Triệu. Tuy nhiên, thời kháng chiến, khi cha tôi tham gia cách mạng đã phải đổi tên để đảm bảo bí mật, lúc đó ông lấy họ Trịnh. Vì vậy, con cháu trong gia đình chúng tôi hiện nay đều mang họ Trịnh cả. Tôi mong muốn Triệu Gia Trang không chỉ là nhà của con cháu trong dòng họ chúng tôi mà những ai mang họ Triệu đều có thể về đây để tưởng nhớ tổ tiên mình. Hằng năm, vào ngày 24 tháng Giêng, chúng tôi đều tổ chức ngày giỗ tổ của họ Triệu. Lễ giỗ này nhằm nhắc nhở con cháu nhớ đến nguồn gốc của tổ tiên. Ðặc biệt, chúng tôi muốn con cháu noi gương tổ tiên để làm nhiều việc tốt cho xã hội”.

Nơi gợi nhắc giá trị văn hóa truyền thống…

Có lối kiến trúc mang đậm nét Phật giáo, tuy nhiên Nam Minh Ðiện không đơn thuần chỉ là nơi thờ Phật mà chủ nhân của ngôi Ðiện thờ này còn thờ phụng nhiều bậc thánh nhân, tiên tổ, những người có công với đất nước theo tín ngưỡng dân gian của người Việt. Vào ngày mùng 10-3 hằng năm, Triệu Gia Trang đều tổ chức lễ Giỗ tổ Hùng Vương. 

Ông Trịnh Hữu Hòa giải thích: “Tôi lập nên nơi thờ tự này trước hết là để giáo dục cho con cháu trong gia đình về ý thức gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống của người Việt Nam. Sau nữa, tôi cũng mong muốn tinh thần này lan tỏa trong cộng đồng. Tín ngưỡng mà tôi đang thờ ở đây là tín ngưỡng của người Việt Nam, là tinh thần “uống nước nhớ nguồn”: con cái sinh ra phải nhớ ơn cha mẹ, ông bà, tổ tiên; xa hơn nữa là nhớ ơn các bậc thánh nhân, các anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước”. 

Kiến trúc của Triệu Gia Trang mang đậm nét Phật giáo nhưng chỉ là cơ sở tín ngưỡng gia đình


Ðược biết, việc thờ cúng của Triệu Gia Trang đều tổ chức theo nghi lễ truyền thống. Nếu là những lễ giỗ của gia đình thì do người trong gia đình ông Hòa thực hiện. Với những lễ khác thì những người làm lễ thường là chủ tế ở các Ðình được mời về. Ðặc biệt, một trong những nghi lễ thường được thể hiện ở Nam Minh Ðiện là hình thức hát Chầu Văn. Ðây là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam, là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (Ðạo Mẫu) và tín ngưỡng thờ Ðức Thánh Trần (Ðức Thánh Vương Trần Hưng Ðạo), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam… Ông Hòa cho biết: “Ðoàn hát Chầu Văn thường được mời từ ngoài Bắc vào, có khi nghi thức này đoàn hát Chầu Văn ở huyện Ðịnh Quán đảm nhiệm”.

Nơi nắm giữ nhiều kỷ lục

Tính đến thời điểm hiện nay, Triệu Gia Trang là nơi thờ tự tư nhân đầu tiên ở nước ta được nhận bằng bảo trợ của Tổng Thư ký Liên hiệp UNESCO Thế giới và Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam. Chủ nhân của Triệu Gia Trang cũng là người hiện đang nắm giữ nhiều kỷ lục. 

Tháng 4-2015, Hội đồng xác lập kỷ lục Việt Nam đã công nhận kỷ lục Việt Nam đối với 3 bộ tượng bằng ngọc bích được thờ tại Nam Minh Ðiện, gồm: Tượng Ðức Thánh Trần Hưng Ðạo bằng ngọc bích lớn nhất Việt Nam, ba pho tượng Tam tòa Thánh Mẫu bằng ngọc bích lớn nhất Việt Nam và Ấn Rồng bằng ngọc bích lớn nhất Việt Nam.

Trước đó, tháng 11-2012, Hiệp hội kỷ lục thế giới đã trao giấy chứng nhận bức tượng Phật Quan Thế Âm bằng ngọc bích lớn nhất thế giới cho ông Trịnh Hữu Hòa. Toàn bộ những công trình bằng ngọc bích đã được xác lập kỷ lục này được làm từ một khối ngọc bích nặng 11,5 tấn, có nguồn gốc từ Canada.

Ðược tin Tổng Thư ký Liên hiệp UNESCO Thế giới và Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam trao Bằng Bảo trợ Di tích lịch sử, văn hóa cho Từ đường Nhà thờ tổ họ Triệu tại Triệu Gia Trang, ông Hòa rất vui mừng vì: “Với việc trao bằng bảo trợ này, Liên hiệp các Hội UNESCO đã công nhận cơ sở thờ tự của chúng tôi là cơ sở tín ngưỡng có giá trị lịch sử, văn hóa và giáo dục truyền thống của người Việt Nam. Tôi hy vọng đây không chỉ là niềm vinh hạnh riêng cho gia đình, dòng họ chúng tôi mà còn là niềm vui chung của tất cả mọi người. Từ đây, Liên hiệp các Hội UNESCO sẽ có trách nhiệm tuyên truyền để nhân dân được biết về những giá trị văn hóa truyền thống này”.

Hải Yến - Thành Nhân

Chiêm ngưỡng tượng Phật ngọc lớn nhất thế giới tại Việt Nam

đăng 04:35, 9 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Từ khối ngọc bích thô nặng 11,5 tấn được phát hiện tại Canada, trong hơn 1 năm các nghệ nhân Việt Nam đã chế tác thành công bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát nặng 6,8 tấn với chiều cao 1,98m.


Bức tượng trên đang được an vị tại Nam Minh điện, thuộc ấp Vĩnh Hiệp, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Nơi thờ bức tượng là một khu lầu hình bát giác được dựng giữa một hồ sen thơm ngát.


Bức tượng có chiều cao 1,98m, rộng 1,53m, dày 1,08m, nặng 6,8 tấn, được tạc từ khối ngọc bích thô nặng 11,5 tấn.


Vào ngày 5/12/2012 bức tượng đã được Hiệp hội Kỷ lục Thế giới ghi nhận là “Bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát bằng ngọc bích lớn nhất thế giới”.


Bức tượng được chế tác trong hơn 1 năm bởi những người thợ Việt Nam với những đường nét hoàn hảo.


Tòa sen phía dưới được tạc bằng đá Saphia nặng 6 tấn.


Bệ đỡ bằng đá thạch anh trắng nặng 23 tấn được chạm nổi 9 con rồng. Tính cả bệ, bức tượng có chiều cao 4,3m.




Bức tượng đã nhận Giấy chứng nhận của Hiệp hội Kỷ lục Thế giới.


Nguyễn Cường

Người điêu khắc tượng tài hoa

đăng 04:02, 9 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 04:06, 9 thg 10, 2019 ]

Mới đây, nghệ nhân Nguyễn Văn Minh (xã Phước Tân, TP. Biên Hòa) đã được Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam trao bằng chứng nhận, phong tặng danh hiệu nghệ nhân ưu tú vì đã có công truyền dạy và bảo tồn nghề tiểu thủ công nghiệp điêu khắc đá. Anh chính là người điêu khắc nên bức tượng Quan Âm Bồ Tát bằng ngọc bích lớn nhất thế giới, hiện đặt tại Nam Minh Điện, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu.

Người có duyên tạc tượng Phật


Những ai đã có dịp được chiêm ngưỡng bức tượng Quan Âm Bồ Tát bằng ngọc bích lớn nhất thế giới do nghệ nhân Nguyễn Văn Minh điêu khắc sẽ không khỏi trầm trồ, ngưỡng mộ. Bức tượng không chỉ tinh xảo đến từng chi tiết mà còn rất có hồn, khiến cho người chiêm ngưỡng có cảm giác thân thiết đến kỳ lạ. Đó là điều mà không phải người thợ điêu khắc nào cũng làm được…

Chủ sở hữu bức tượng Quan Âm nổi tiếng nói trên là ông Trịnh Hữu Hòa, một Phật tử mộ đạo. Sau khi tìm mua được một khối ngọc bích nặng khoảng 11,5 tấn từ Canada, ông Hòa đã đi nhiều nước để tìm thợ chế tác. Ông đã đến “xứ sở” của những pho tượng Phật là Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc để tìm thợ. Tuy nhiên, việc tìm thợ chế tác tượng là rất khó khăn. Ông kể: “Tôi đã đến xưởng chế tác Phật ngọc của công ty chế tác Jade Thongtawee ở Thái Lan, đây là nơi chế tác tượng Phật ngọc nổi tiếng Vì Hòa bình Thế giới. Tuy nhiên, công ty cho biết là họ cũng chưa tạc tượng Phật Bà Quan Âm bao giờ. Họ yêu cầu khối ngọc phải được vận chuyển và mang đến xưởng của họ. Nếu tạc thì mất ít nhất 2 năm và mỗi tuần tôi phải sang nghiệm thu 1 lần”.

Tưởng như bế tắc, ông được người quen giới thiệu anh Nguyễn Văn Minh, chủ nhân của xưởng điêu khắc đá Lưu Sơn (xã Phước Tân, TP. Biên Hòa). Anh Minh là người đã từng tạc nhiều tượng Phật cho các chùa và khá nổi tiếng trong lĩnh vực này. Như có nhân duyên, ông Hòa tin tưởng giao phó “sinh mệnh” của khối ngọc quý cho nhóm thợ của anh Minh.

Anh Nguyễn Văn Minh bên pho tượng Quan Âm đang được thờ tại Nam Minh Điện


Anh Nguyễn Văn Minh chia sẻ: “Được tạc bức tượng Quan Âm bằng ngọc bích chính là một cơ duyên của tôi. Tôi có rất nhiều cảm xúc khi nhận được công trình này. Vui có, lo lắng có. Tôi cảm thấy trách nhiệm của mình rất lớn, không chỉ bởi vì giá trị vật chất của khối ngọc mà còn vì sự tin tưởng của anh Hòa đối với tôi”.

Khi bắt tay thực hiện công việc, anh Minh gặp phải rất nhiều khó khăn. Khó khăn lớn nhất chính là về mặt kỹ thuật. Loại ngọc bích này có cấu tạo rất cứng nên rất khó khăn trong việc tạc tượng. Hơn nữa, trong quá trình khoan cắt khối ngọc, chỉ cần vài giây không có nước thì tại điểm tiếp xúc sẽ bị nổ do nhiệt độ tăng lên. Áp lực lớn nhất của anh chính là “không được phép sai sót”, bởi chỉ cần 1 sơ suất nhỏ thì mọi công sức, tiền của trở thành con số không.

Nghệ nhân tài hoa

Khi khối ngọc thô 11,5 tấn về đến Việt Nam, các chuyên gia đánh giá khả năng chỉ có thể tạc được một bức tượng với kích thước khoảng 1,7m. Tuy nhiên, những gì mà anh Minh cùng các cộng sự đã làm được là điều ngoài mong đợi và dự đoán của nhiều người.

Ngoài bức tượng Quan Âm cao 1m98, rộng 1,53m, dày 1,08m, nặng 6,8 tấn, anh còn tạc được thêm 6 bức tượng khác bao gồm: Phật Thích Ca, Phật A di đà, tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo và 3 bức tượng Tam tòa Thánh mẫu. Tất cả những bức tượng này hiện đang giữ kỷ lục là tượng ngọc bích lớn nhất Việt Nam. Riêng bức tượng Quan Âm, từ tháng 11-2012 đã được Hiệp hội kỷ lục thế giới công nhận là tượng Quan Âm bằng ngọc bích lớn nhất thế giới. Những khối ngọc nhỏ còn lại, anh tiếp tục làm những đồ thờ cúng khác. Theo tính toán, khối ngọc 11,5 tấn hầu như không bị hao hụt, lãng phí chút nào, ngoại trừ khoảng 5% hao hụt là bụi ngọc không thể tận dụng được.

Để làm được điều “không tưởng” này, anh đã mất 2 tháng trời ngồi ngắm nhìn khối ngọc để tìm ra phương hướng. Cái khó của người nghệ nhân sau khi đã tách khối, định hình được khối ngọc là phải tìm được nơi đẹp nhất của khối ngọc để làm phần trọng tâm. Anh chia sẻ kinh nghiệm: “Ngọc bao giờ cũng có chỗ bị tì vết nên nghệ nhân phải khéo léo đưa những vết này vào phần phụ, phần chính của bức tượng phải là phần ngọc đẹp nhất. Tôi rất hài lòng khi phần đẹp nhất ấy chính là gương mặt của Phật Bà”.

Sau 18 tháng miệt mài với công việc, anh cùng nhóm thợ đã hoàn thành 7 bức tượng ngọc nêu trên. Quá trình thực hiện, cả anh và ông Hòa đều không nghĩ đến việc lập kỷ lục. Khi công trình hoàn thiện, khách đến tham quan (trong đó có nhiều khách nước ngoài) đã gợi ý cho hai người về điều này. Vì vậy, ông Hòa đã gửi hồ sơ đến tổ chức kỷ lục thế giới để xác minh và công nhận kỷ lục này.

Anh Minh vui vẻ cho biết: “Tôi tự hào vì đã làm được điều mà trên thế giới không nghĩ là ở Việt Nam có thể làm được. Việt Nam chúng ta là nước đi sau về công nghệ chế tác ngọc nhưng chúng tôi đã làm được điều mà những nghệ nhân khác trên thế giới không làm được”.

Người thầy tốt bụng

Anh Nguyễn Văn Minh sinh ra và lớn lên ở tỉnh Hà Nam. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, anh khăn gói đến Nam Định để học nghề điêu khắc, sau đó vào TP. HCM lập nghiệp. Năm 2008, anh về Biên Hòa mở xưởng điêu khắc đá.

Không chỉ giỏi nghề, anh nổi tiếng là người thầy tốt bụng. Xưởng của anh luôn có nhiều học viên đến xin học nghề . Không những không “giấu nghề”, anh còn dạy bảo rất tận tình cho các học trò. Ngoài ra, sau khi học nghề xong, các học trò còn được anh hỗ trợ công ăn việc làm cho đến khi nào “cứng nghề” mới thôi.

Học trò của anh đến từ nhiều vùng miền, nhưng chủ yếu là ở các tỉnh phía Bắc như: Yên Bái, Phú Thọ, Hà Nam, Nam Định, Thanh Hóa… Anh Túng Văn Hải (quê Thanh Hóa) cho biết: “Ở những nơi khác, người học nghề như chúng tôi thường chỉ được làm chân phụ việc, người ta giao gì làm nấy và tranh thủ “liếc mắt” học lỏm. Riêng thầy Minh rất tận tình với học trò. Chúng tôi đến đây học nghề được thầy chỉ bảo từng chút một. Ngoài việc lo cho chỗ ăn ngủ, hằng tháng thầy còn bồi dưỡng cho chúng tôi ít tiền để tiêu vặt. Khi “ra trường” lại được thầy hỗ trợ công việc làm ăn nên tôi cảm thấy rất yên tâm”.

Thành An

Hà mã đầu tiên sinh con tại Đồng Nai

đăng 19:14, 23 thg 12, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Sinh tự nhiên tại sở thú Vườn Xoài, hà mã con nặng 29 kg, được đặt tên là “Bé Xoài”. 

Hà mã con - Bé Xoài luôn theo sát bên mẹ. 


Bé Xoài được sinh tự nhiên ngày 19/11/2018, từ cặp hà mã nhập từ Châu Phi. Cặp hà mã này được khu du lịch nuôi và thuần dưỡng trong hơn hai năm. Việc mang thai hoàn toàn tự nhiên mà không có sự can thiệp của nhân viên vườn thú.

Đây cũng là hà mã con đầu tiên được sinh ra tại sở thú này và tỉnh Đồng Nai. Được 4 tuần tuổi, nó hoàn toàn khỏe mạnh và hiện bú sữa hà mã mẹ.

Hà mã (Hippopotamus amphibius) hiện là loài động vật hoang dã nằm trong sách đỏ thế giới có nguy cơ tuyệt chủng cao. 


Đây là tin rất vui đến toàn thể cán bộ nhân viên trong quá trình xây dựng phát triển sở thú Vườn Xoài. Nơi đây đã thuần dưỡng và nhân giống thành công nhiều loài quý như: hổ, sư tử, gấu đen, các loài linh dương và loài chim khác.

Sở thú cũng có nhiều loài thú quý hiếm được nhập từ châu Phi như báo đen, tê giác, gấu nâu, linh cẩu, hươu cao cổ, ngựa vằn, cá hải tượng, cùng các loài lông vũ như chim công, trĩ bảy màu, hồng hạc, thiên nga...

Trong vườn còn có nhiều loài thú quý hiếm khác. 


Vườn Xoài là sở thú bán hoang dã được phát triển và định hình hoàn toàn trong khuôn viên khu du lịch sinh thái cùng tên. Nhiều loài động vật quý hiếm đến từ các châu lục trên thế giới đã được nhập về nhằm mục đích bảo tồn, gây giống, trưng bày và giáo dục.

Cách TP HCM hơn một giờ đi xe, khu du lịch sinh thái này là điểm đến được nhiều du khách lựa chọn cho những ngày cuối tuần hay kỷ nghỉ lễ. Với tổng diện tích hơn 50 ha, bao phủ toàn bộ khu du lịch là màu xanh của cây, đan xen là các chuỗi dịch vụ phục vụ mọi nhu cầu của du khách trong và ngoài nước như: trạm dừng chân, tham quan vườn thú, giải trí dã ngoại, ẩm thực - nghỉ dưỡng và tổ chức sự kiện.

Khu du lịch sinh thái Vườn Xoài 
Địa chỉ: 537 Đinh Quang Ân, ấp Tân Cang, xã Phước Tân, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 
Hotline: 0942.968 163 – 0943.968 163 – 0947.968.163 
Email: letan.vuonxoai@gmail.com - Website: www.vuonxoai.vn 

Đi tìm nguồn gốc xôi chiên phồng

đăng 01:13, 18 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Trong một lần tình cờ tôi được gặp bà Út Ha – được coi là người lưu giữ bí quyết chế biến ra món Xôi chiên phồng trứ danh, có nguồn gốc từ Biên Hòa, Đồng Nai. Bà Út Ha tên thật là Đinh Thị Ha, ngụ ở phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa. Bà là người tiếp quản Tân Hiệp Quán nổi tiếng, do mẹ bà là bà Huỳnh Thị Sớm, sáng lập năm 1952. Xưa quán nằm ngay đường Hàm Nghi, Biên Hòa, cạnh bờ sông Đồng Nai hiền hòa, mà nay là đường Cách Mạng Tháng Tám. 

Theo lời kể của bà thì từ khi mở quán, mẹ bà thường bán những món ăn bình dân phục vụ thực khách lao động là chính như bánh mì, hủ tiếu…Rồi dần dần Tân Hiệp Quán phục vụ các món ăn ngon hơn, chế biến cầu kỳ hơn như bánh canh đầu cá, chả giò, nem nướng, bì cuốn… Lúc này khách vãng lai từ các tỉnh lân cận ghé ăn nhiều hơn, quán trở thành điểm dừng chân đón khách Sài Gòn, Vũng Tàu, miền Tây… Sức phục vụ lớn, cần nhân lực nhiều, quán phải thuê thêm đầu bếp.


Có một lần tình cờ, người đầu bếp của quán làm món xôi chiên dẹp như chiếc bánh nhỏ để mang đi lễ chùa, lễ đình. Người này phát hiện một góc xôi phồng to lên lạ lẫm. Mọi người đều ngạc nhiên, lại xem và bàn luận. Ấy là lần đầu tiên, những lần sau món xôi chiên này được làm đi làm lại. Mỗi lần lại rút ra những kinh nghiệm khá bổ ích, món xôi cũng ngon hơn, đẹp hơn, phồng to hơn và kỹ thuật chế biến chuyên nghiệp, thuần thục hơn. 

Bà chia sẻ rằng để xôi chiên được ngon, giòn mềm và không cứng, đầu tiên phải chú ý đến nếp, việc chọn nếp thơm, dẻo, ngon rất quan trọng. Sau là kỹ thuật nấu sao cho xôi được chín đều, không nhão cũng không cứng. Kế đến là khâu nhồi xôi, không để hạt nếp nguyên vẹn như xôi thông thường, quết chúng mịn hơn, trong nếp có pha thêm ít đường cho có vị ngọt, bột sau trộn được ngâm trong dầu ăn. Tuy nhiên khâu quan trọng hơn cả chính là chiên xôi. Xôi phải được chiên trong chảo gang, nhiệt độ lửa phù hợp, dùng và để dằn, xoay và lật xôi. Vá cũng phải làm bằng gang, và lưỡi vá bằng. Người chiên phải thật kiên nhẫn, dùng vá ép, và xoay miếng xôi thật khéo léo trên chảo dầu nóng cho xôi nở đều, không bị méo mó. Ngọn lửa cũng phải được điều chỉnh liên tục để bánh xôi chín và giòn. Khi chín, xôi vàng đều cả bên trong, lẫn bên ngoài, tròn phồng như trái banh. Cắt ra không có phần xôi dư, ăn giòn, nhưng vẫn giữ được độ mềm của nếp, vị ngọt nhẹ của đường, và dậy mùi sau khi chiên. 


Bà nhớ lại hồi xưa toàn chiên xôi bằng bếp củi, không kịp để phục vụ thực khách. Khách trực tiếp đến quán thưởng thức, còn muốn mua để mang về để biếu tặng. Vì vậy, ngoài phục vụ tại chỗ, quán chỉ phục vụ được mỗi bàn hai chiếc xôi phồng mang về. Tiếng thơm đồn xa, tiếng lành đồn xa, món ăn vừa lạ mắt, vừa ngon miệng được lan truyền khá rộng, dân Sài Gòn, Sông Bé cũng lặn lội tới quán để được thưởng thức món xôi này. Sau này, những người thợ nấu ăn của quán dời đi khắp vùng, họ mang theo cách chế biến tạo thành món Xôi chiên phồng. Ấy vậy mà món Xôi chiên phồng trứ danh của Tân Hiệp Quán vẫn ngon nức tiếng nhất. Món xôi này có thể ăn kèm với gà quay, gà chiên, thịt nướng… kèm miếng dưa leo hay vài loại rau thơm cho đỡ ngán. 

Năm 2014, bà được tham dự Chương trình xác lập kỷ lục “Nhiều người chiên xôi phồng nhất Việt Nam” do Hiệp hội du lịch Đồng Nai tổ chức để giới thiệu về nguồn gốc ra đời của món đặc sản này. Bà thực sự xúc động khi chứng kiến hơn 50 đầu bếp cùng tham gia chiên xôi phồng. Món ăn xuất xứ từ gia đình bà được vinh danh, được đón nhận và trở thành đặc sản một vùng. Với xôi chiên phồng, ăn không chỉ là thưởng thức cái ngon, cái lạ, mà nó là công sức, sự khéo léo, là kỹ thuật, nghệ thuật và tâm hồn của người đầu bếp.


Ngày nay xôi chiên phồng phổ biến cả trong Nam ngoài Bắc, hầu hết trong thực đơn của các nhà hàng lớn hay những cơ sở nấu ăn nhỏ đều có món xôi chiên phồng ăn kèm với gà quay, luộc hay nướng. Ngoài những sự kiện trong nước, xôi chiên phồng còn trở thành một món ăn Việt Nam nổi tiếng được giới thiệu ra nước ngoài trong các buổi giao lưu ẩm thực. Khách nước ngoài đã thực sự thán phục tài nghệ của các đầu bếp Việt Nam, ngắm nghía chiêm ngưỡng cách hô biến từ nắm bột đặc biệt thành chiếc bánh xôi to tròn, độc đáo, vừa thơm, vừa ngon.

Một ngày đi tìm “sự tích” xôi chiên phồng, cũng giống như món xôi chiên phồng, tình cờ, những rất đặc biệt. Văn hóa ẩm thực Việt thật sự có sức cuốn hút khó cưỡng, chân chất, đậm đà, độc đáo. Có lẽ sau dịp này, tôi sẽ lên đường tìm kiếm nguồn gốc những món ngon đặc sắc của địa phương nơi tôi sống để thấy được nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của những con người gần gũi bên tôi.

Mai Phương

Mạch nguồn hào khí Đồng Nai

đăng 20:59, 27 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:20, 18 thg 7, 2018 ]

320 năm qua, tên gọi Đồng Nai vinh danh trong sử dân tộc với hào khí Đồng Nai nức tiếng oai hùng, hiển hách. Trong đó, không thể không nhắc đến những con người với những tính cách nổi bật tạo nên hào khí Đồng Nai rất đỗi tự hào. 

Ông Nguyễn Đức Thùy (76 tuổi, ở hẻm 39, KP.3, phường Trung Dũng, TP.Biên Hòa) trông giữ mộ Trịnh Hoài Đức đã 25 năm. 


Tính cách của người Đồng Nai ra sao? Đó là những người vừa có sự hào sảng của một vùng đất luôn “mở lòng”, vừa có khí phách, tài ba, cương trực, dũng cảm của lớp người mở cõi. 

* Hào sảng Thủ Huồng 

Theo Đại Nam nhất thống chí, Thủ Huồng tên thật Võ Hữu Hoằng, sống ở châu Đại Phố, huyện Phước Chính, phủ Phước Long (nay là xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa) khoảng năm 1755. Ông xuất thân làm thơ lại, trong 20 năm làm việc đã thu tóm được nhiều tiền của. 

Thủ Huồng rất yêu vợ, sau khi vợ mất sớm nghe nói rằng ở chợ Mãnh Ma là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau, ông quyết đi tìm vợ và được đưa xuống âm phủ chơi. Ở cõi âm, ông tận mắt nhìn thấy những cực hình dành cho những kẻ phạm nhiều tội ác khi còn sống, trong số đó có một cái gông to mà cai ngục cho biết là để dành cho người tên gọi Thủ Huồng. 

Khi trở lại cõi dương, ông đem toàn bộ tài sản dùng vào việc bố thí, xây dựng những công trình phúc lợi, đặc biệt là làm nhà để giúp dân nghèo dừng chờ nước triều ở ngã ba sông. Sau, Thủ Huồng được vợ đưa xuống cõi âm lần nữa, thấy cái gông trước kia đã nhỏ lại rất nhiều. Từ đó, ông tiếp tục làm việc thiện, việc nghĩa cho đến khi mất. 

Sách Gia Định thành thông chí chép: Thuở ấy, dân cư còn thưa thớt, ghe đò hẹp nhỏ, hành khách thổi cơm, đun trà rất khổ, vì vậy có người phú hộ ở tổng Tân Chánh là Võ Thủ Hoằng kết tre lại làm bè, trên che lợp phòng ốc, sắm đủ bếp núc, gạo, củi, và đồ ăn để dưới bè cho hành khách tùy ý dùng mà không bắt phải trả tiền. Sau đó khách buôn cũng kết bè nổi bán đồ ăn nhiều đến 20, 30 chiếc, nhóm thành chợ trên sông, nên mới gọi xứ ấy là Nhà Bè. 

Ngày nay, ở Cù lao Phố có chùa Chúc Thọ tương truyền do Thủ Huồng xây dựng. Con rạch chạy ngang qua đường Bùi Hữu Nghĩa (phường Bửu Hòa) đi TP.Hồ Chí Minh do Thủ Huồng tổ chức nạo vét nên gọi là rạch Thủ Huồng, đồng thời cây cầu đá giữa Tân Vạn và chợ Đồn (Biên Hòa) do Võ Hữu Hoằng xây dựng đến nay vẫn còn. Ngã ba sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, nơi Thủ Huồng cho kết bè nổi để khách thương hồ có nơi ăn nghỉ đợi chờ con nước, sau biến thành chợ trên sông. Những cái tên bến Nhà Bè, sông Nhà Bè, huyện Nhà Bè... chính là để ghi dấu “nhà bè” do Thủ Huồng dựng. Câu ca dao “Nhà Bè nước chảy chia hai/ Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về” xuất phát từ tích trên. 

* Tài hoa Đào Trí Phú 

Đào Trí Phú sinh tại làng Phước Kiển, thuộc Long Thành, dinh Trấn Biên (nay thuộc xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch). Ông thi đỗ Cử nhân tại khoa thi Hương Gia Định năm 1825. Con đường làm quan của ông lần lượt trải qua các chức vị như: Thị lang bộ Hộ, kiêm quản Phủ doãn phủ Thừa Thiên,Tham tri bộ Hộ, Tham tri bộ Binh... 

Đặc biệt, Đào Trí Phú là một trong số rất ít người thời đó thông thạo ngoại ngữ, ông có thể giao tiếp được với người nước ngoài bằng tiếng Anh, Pháp lẫn tiếng Hoa, vì thế thường được vua Minh Mạng cử làm việc với đoàn sứ bộ các nước đến nước ta, hoặc đi công cán ở nước ngoài như: Trung Quốc, Philippines, Singapore… Ông từng khuyên nên học hỏi các nước châu Âu và Mỹ về các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là khí tài chiến đấu, được vua khen ngợi và nhiều lần cử theo đoàn sang Singapore mua kim khí, hóa phẩm. Đào Trí Phú là người đầu tiên mua tàu chạy hơi nước ở châu Âu đem về Việt Nam, trong đó có chiếc Điện Phi rất lớn, mua với giá 280 ngàn quan tiền. 

Nhờ những chuyến đi nước ngoài, đồng thời biết kinh thương nên ông tích lũy tài sản khá lớn. Tương truyền, áo mão cân đai của ông đều có gắn vàng lá. Vì thế năm 1848 ông bị đàn hặc là tham nhũng, bị cách chức. Năm 1854, An Phong công Nguyễn Phúc Hồng Bảo mưu đoạt ngôi vua không thành, bị bắt giam và chết trong ngục, Đào Trí Phú cũng bị kết tội theo phe phản loạn, xử lăng trì tại huyện Long Thành. Người thân ông phải cải họ trốn đi nơi khác, mãi đến sau này mới dám lấy lại họ Đào. 

* Trịnh Hoài Đức - nhân cách thanh liêm, cao trọng 

Tổ tiên của Trịnh Hoài Đức vốn là người tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc), theo Trần Thượng Xuyên vào sống ở Trấn Biên, vì thế ông sinh ra ở Biên Hòa. Năm Mậu Thân 1788, Trịnh Hoài Đức đậu khoa thi Nho học đầu tiên do chúa Nguyễn tổ chức ở Nam bộ. 


Trịnh Hoài Đức là người có năng lực và nhân cách đáng kính trọng. Trải qua 4 đời vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, ông từng giữ những chức vị cao của triều đình như Thượng thư (tương đương Bộ trưởng) của cả Bộ Lại (chức năng như Bộ Nội vụ) và Bộ Binh (Bộ Quốc phòng ngày nay), đồng thời sung chức Phó tổng tài Quốc sử giám, thăng Hiệp biện Học sĩ, là thầy dạy học của hoàng tử. Về mặt học thuật, ông là tác giả nhiều bộ sách, trong đó nổi tiếng nhất là Gia Định thành thông chí, ghi chép tỉ mỉ về địa lý, phong tục, tập quán, thành trì, sản vật… của cả vùng đất Nam bộ, được đánh giá như “bách khoa toàn thư” về Nam bộ và là tài liệu quý làm cơ sở nghiên cứu, tham khảo cho đến tận ngày nay. 

Chức vị cao, nhưng hơn 40 năm làm quan ông vẫn sống cuộc đời thanh liêm, chính trực, không tơ hào của công hay nhận biếu xén của người khác. Theo Đại Nam liệt truyện, khi ông về kinh thành Huế làm quan, vua mới biết ông không có được ngôi nhà để ở, vì thế ban cho 3 ngàn quan tiền và gỗ, gạch ngói để làm nhà. Trịnh Hoài Đức mất năm 1825 tại Huế, thọ 61 tuổi. Vua thương tiếc cho bãi triều 3 ngày, truy tặng ông là Thiếu bảo Cần chánh điện Đại học sĩ, phái Hoàng tử Miên Hoằng đưa linh cữu của ông về làng Bình Trước (nay ở hẻm 63, KP.3, phường Trung Dũng, TP.Biên Hòa). 

* Nguyễn Thị Tồn rạng danh tiết phụ 

Nhắc đến danh nhân Bùi Hữu Nghĩa, một trong 4 “rồng vàng Đồng Nai”, không thể không nhắc đến vợ ông là bà Nguyễn Thị Tồn. Bùi Hữu Nghĩa quê ở làng Long Tuyền (nay thuộc quận Bình Thủy, TP.Cần Thơ), từ nhỏ nhà nghèo nên được gởi lên Biên Hòa ở nhà Hộ trưởng Nguyễn Văn Lý (làng Mỹ Khánh, tổng Chánh Mỹ Thượng, nay thuộc phường Bửu Hòa) để theo học với thầy đồ Hoành, sau được ông Lý gả con gái là Nguyễn Thị Tồn. Bà Tồn buôn bán tảo tần để nuôi chồng ăn học. 

Bùi Hữu Nghĩa thi đậu giải nguyên năm 1835, được bổ làm Tri huyện Phước Chánh (nay là TP.Biên Hòa và một phần huyện Vĩnh Cửu), nhưng do tính tình thẳng thắn, liêm chính nên không được lòng quan trên, bị đổi về làm Tri huyện Trà Vang (Trà Vinh hiện nay). Tại đây, năm 1848 trong vụ án Láng Thé, ông vì bênh vực những người Khmer yếu thế nên bị quan trên là Bố chánh Truyện và Tổng đốc Trương Văn Uyển khép vào tội làm loạn, lạm phép giết người và xử tội chết. 

Nhận được tin dữ, bà Nguyễn Thị Tồn quá giang ghe bầu từ Biên Hòa vượt sóng gió hàng tháng trời ra Huế đến Tam pháp ty “kích cổ đăng văn” (đánh trống, đội đơn) kêu oan cho chồng. Vua Tự Đức giao cho Bộ Hình thẩm án, nhờ vậy Bùi Hữu Nghĩa khỏi tội tử hình nhưng phải quân tiền hiệu lực, đoái công chuộc tội. Bà Nguyễn Thị Tồn được vua Tự Đức ban võng điều có 4 lọng, nhưng ở đầu võng có gông nhỏ sơn son, ngầm ý khen bà là người trung trinh, gan dạ song cũng “nhắc khéo” bà kinh động đế đô. Hoàng thái hậu Từ Dũ cảm phục khí phách của người phụ nữ xứ Đồng Nai, không ngại khó khăn thân gái dặm trường đến kinh thành minh oan cho chồng nên hết lời khen ngợi bà là người tiết nghĩa, đáng mặt nữ lưu và ban cho tấm biển vàng “Tiết phụ khả gia”. 

Khi bà về đến Biên Hòa thì lâm bệnh nặng, qua đời. Lúc ấy Bùi Hữu Nghĩa đang sung quân ở An Giang nên không về được. Ông đau xót viết văn tế vợ: “Nơi kinh quốc ba hồi trống gióng, biện bạch này oan nọ ức, đấng hiền lương mắt thấy thảy đau lòng/ Chốn tỉnh đường một tiếng thét vang, hẳn hòi lẽ chánh lời nghiêm, lũ bạn đảng tai nghe đà khiếp vía… Ta nghèo, mình hay giúp đỡ; ta tội, mình biết kêu oan, trong triều ngoài quận đều khen mình mới thật là vợ/ Mình bịnh, ta không thuốc thang; mình chết, ta không chôn cất, non sông cười ta chẳng xứng gọi là chồng”… 


Bài học lớn từ câu đối ở mộ Trịnh Hoài Đức


Ở ngôi mộ cổ của Trịnh Hoài Đức, phía trước mộ có 2 cặp đối chữ Hán. Cặp đối phía ngoài mỗi vế 7 chữ: Sơn thủy hữu tình thành quyến thuộc/ Càn khôn vô vực thị gia hương (Sông núi có tình nghĩa trở thành người thân trong gia đình/ Trời đất không giới hạn chính là quê nhà của mình).


Cặp đối phía trong mỗi vế 5 chữ: Các nhân chính tẩu mã/ Cử thế kiên hành chu (Con người đường hoàng như cưỡi ngựa/ Xử thế ở đời như chèo thuyền).


Theo nhà nghiên cứu Lý Việt Dũng, muốn giải mã cặp đối này, phải hiểu đôi câu đối cổ của tiền nhân: Tâm như bình nguyên mục mã dị phóng nan thu/ Học như nghịch thủy hành chu bất tiến tất thoái (Tấm lòng như người cưỡi ngựa ở đất bằng, dễ phóng đi nhưng khó ghì cương lại/ Sự học như người chèo thuyền ngược nước, không tiến lên ắt sẽ thụt lùi).


Cái hay của câu đối trước mộ Trịnh Hoài Đức là thu gọn từ vựng câu đối 7 chữ còn 5 chữ mỗi vế (vốn rất khó trong thuật đăng đối) mà thể hiện sáng tạo bài học luân lý có triết lý giáo dục: Con người phải biết nén lòng, làm chủ được cái tâm của mình. Sự học phải biết cầu tiến, vượt khó để không tụt hậu. Nội dung các câu đối phù hợp với triết lý sống của Trịnh Hoài Đức, là bài học quý cho người hậu thế.


Tịnh Hà

Võ đường họ Mã trên đất Biên Hòa

đăng 20:54, 27 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cây bằng lăng nhỏ, nơi bà Chi đặt quán cà phê “cóc” trên đường 30-4 (hẻm 39, KP.3, phường Trung Dũng, TP.Biên Hòa), giờ to bằng một vòng tay. Thời gian cây trưởng thành cũng là từng đó năm thầy, trò phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn ở Biên Hòa chọn điểm này ngồi nhâm nhi cà phê tiếp giao bạn bè, môn đệ vào các buổi sáng. 

Lão võ sư Mã Thanh Hoàng trình diễn một thế võ Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn. 


Người đầu tiên truyền bá môn võ phái Hồng Mi Đạo Nhơn vào Biên Hòa là lão võ sư Mã Thanh Hoàng (tên thật là Đinh Quốc Hưng, 76 tuổi, Chưởng môn phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn tại TP.Biên Hòa). 

* Gắn bó với võ thuật cổ truyền 

Năm 1951, mới 9 tuổi lão võ sư Mã Thanh Hoàng được cha gửi về Sài Gòn để vừa học võ vừa học chữ. Nhờ mối quan hệ của cha, lão võ sư Hoàng được thọ giáo cố võ sư Mã Thanh Long cho đến khi ông đỗ tú tài 1 (tú tài bán phần). 

Được sư phụ cho phép vào năm 1968, lão võ sư Hoàng về lại vùng đất Biên Hòa để học tiếp tú tài 2 (tú tài toàn phần) và mở lò dạy võ cho con em lao động tại xã Bình Trước (nay thuộc TP.Biên Hòa). Sau khi đỗ tú tài 2, lão võ sư Hoàng xin vào làm viên chức tỉnh Biên Hòa, đồng thời vẫn tiếp tục nghiệp võ. 

Lớp đệ tử đầu tiên của lão võ sư Hoàng có khoảng 30 võ sinh. Các võ sinh đa phần là con em lao động, tiểu thương và cả trẻ bụi đời. Võ sinh thuộc gia đình có điều kiện thì lão võ sư Hoàng thu học phí, võ sinh nhà nghèo, trẻ lang thang, cơ nhỡ thì võ sư Hoàng nhận dạy miễn phí. 

Thời điểm năm 1968, khi võ đường phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn của võ sư Hoàng xuất hiện thì phong trào võ cổ truyền ở vùng đất Biên Hòa phát triển rất mạnh mẽ với sự có mặt của rất nhiều môn phái tên tuổi như: Tây Sơn Xuân Bình võ đạo (của võ sư Xuân Bình); Đông Sơn Hòa (của võ sư Châu Sà Mách); Bảo Long Tam Nhạn (của võ sư Hoàng Thiện Chí); Lam Sơn võ thuật đạo (của võ sư Nguyễn Văn Du)... 

Võ sư Hoàng kể ngày đầu mở võ đường chiêu nạp môn sinh ông cũng gặp rất nhiều khó khăn, điểm tập lúc thì được mở nơi tòa thị chính, lúc tại nơi khu phố nghèo, lúc thì chuyển về nhà cha mẹ để dạy... Tuy vậy, võ sư Hoàng cũng sớm đào tạo được đội ngũ môn sinh kế cận làm rạng danh môn phái như: võ sư, huấn luyện viên Mã Thanh Sơn, Mã Thanh Phát, Mã Thanh Lộc, Mã Thanh Châu, Mã Thanh Hiền... Trong số các học trò của lão võ sư, có người là liệt sĩ, cựu chiến binh, huấn luyện viên quốc gia. 

Sau năm 1975, các võ đường, phòng tập họ Mã trên địa bàn tỉnh xuất hiện ngày càng nhiều. Đến nay, lão võ sư Hoàng tự hào việc ông đã đào tạo được trên 20 võ sư cho môn phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn tại võ đường. Từ đó, các học trò của ông tiếp tục phát triển thêm hàng chục phòng tập trong và ngoài tỉnh với môn sinh hàng ngàn người, góp phần làm rạng danh tên tuổi của cố võ sư Mã Thanh Long. 

* Trọng nghĩa khinh tài 

“Cao nhân tắc hữu, cao nhân trị” câu thành ngữ này ngụ ý nói rằng “người giỏi ắt có người giỏi hơn”. Vốn là “cây đa, cây đề” trong giới võ thuật đất Biên Hòa, lão võ sư Hoàng càng ghét thói tự phụ, kiêu căng, khoe tài. Chính vì vậy, lão võ sư Hoàng luôn răn dạy đồ đệ luôn biết “trọng nghĩa khinh tài”, coi trọng đạo nghĩa, không màng vật chất, dùng võ thuật giúp người thế cô chứ không được bạo ác, bạo tàn. 

Lão võ sư Mã Thanh Hoàng cùng các môn sinh luyện tập vào năm 1969 tại Biên Hòa. 


Thời xưa, cha lão võ sư Hoàng theo nghề thuốc giúp dân nghèo vẫn nuôi được đàn con học hành tử tế. Còn lão võ sư Hoàng vì theo nghề võ nên đến bây giờ vẫn khó khăn, cuộc sống dựa vào đồng lương hưu trí và sự hiếu thảo của các con, các trò. Lão võ sư Hoàng tâm sự thời còn làm viên chức, lương của ông mỗi tháng dư mua 1 xe Honda Dame 50cc. Tuy vậy, vì phải bỏ chi phí ra lo cho học trò nghèo, phong trào nên lão võ sư Hoàng chẳng tích cóp được gì riêng cho bản thân. 


Hồng Mi Đạo Nhơn có nguồn gốc từ Thiếu lâm Trung Hoa thuộc chi phái Hồng Mi do Mã Thanh Khôn sáng lập tại Đài Loan (Trung Quốc). Người đưa võ học Thiếu lâm Hồng Mi vào Việt Nam là Huỳnh Kim Hên (tên hiệu là Mã Thanh Long, sinh năm 1910, mất năm 1976), là thầy của lão võ sư Mã Thanh Hoàng. Tiếp nối truyền thống môn phái, lão võ sư Hoàng cùng các đồ đệ tiếp tục đưa môn phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn hòa nhập vào Hội Võ thuật cổ truyền tỉnh Đồng Nai và Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam.

 Cái mà lão võ sư Hoàng có được giờ không phải tiền tài mà là uy đức. Bởi vì, ông luôn biết lấy chữ “nhẫn” làm đầu khi xử lý tình huống. Lão võ sư Hoàng kể lúc ông mới mở võ đường, một võ sư người Hàn Quốc hỏi ông có biết công phá không? Ông trả lời không. Rồi ông lấy nửa cục gạch cầm trên tay và hạ tấn thấp để cho vị võ sư kia công phá. Nắm đấm của vị võ sư Hàn Quốc đánh ra, lão võ sư Hoàng nhanh nhẹn lách người và đưa đầu gạch vào mang tai đối phương rồi khẽ nói: “Con nhà võ không phải là cây cột điện, cây chuối đứng im cho người khác dùng sức công phá”. Cách xử sự của lão võ sư Hoàng làm vị võ sư Hàn Quốc kinh ngạc, thán phục về sự khiêm tốn của ông. 

Với tâm niệm của người dạy võ, lão võ sư Hoàng cho rằng người thầy phải dạy đạo đức trước cho trò rồi mới dạy võ thuật. Bởi vì, người học võ nếu lấy võ thuật làm sức mạnh thì sức mạnh đó không vững bền. Ngược lại, người học võ nếu biết lấy tình thương, lòng nhân ái, đạo đức làm sức mạnh thì sức mạnh mới bền lâu. 

Mỗi buổi sáng, lão võ sư Mã Thanh Hoàng giữ thói quen ngồi quán cà phê cóc của bà Chi để các trò tiện thể ghé vào thăm hỏi sức khỏe, trao đổi công việc. Còn những người lao động nghèo thì tiện bề gặp gỡ lão sư phụ họ Mã xin thuốc xoa bóp, trị thương vì biết tính ông quen với việc “lấy phú tế bần” (chỉ lấy tiền thuốc của người khá để hỗ trợ lại người nghèo) mấy chục năm nay. 

Đoàn Phú

Cổ thụ xanh tươi suốt 7 thế kỷ ở rừng Cát Tiên

đăng 02:32, 26 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cổ thụ Gõ đỏ tại Vườn quốc gia Cát Tiên là loài gỗ quý, thuộc danh mục nguy cấp, cần được bảo vệ. Trải qua 7 thế kỷ, cây vẫn xanh tốt và được canh giữ nghiêm ngặt. 

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, cây Gõ đỏ tại Vườn quốc gia Cát Tiên (huyện Tân Phú, Đồng Nai) đã hơn 700 tuổi, cao 30 m và có đường kính thân ở phần dưới gần 4 m. 


Cổ thụ 700 tuổi thuộc loài Gõ đỏ Afzelia Xylocarpa. Loài cây này phân bổ chủ yếu ở rừng Việt Nam và các nước Lào, Thái Lan, Campuchia. Gõ đỏ là loài gỗ quý hiếm thuộc danh mục nguy cấp, cần được bảo vệ, có tên trong sách đỏ Việt Nam. 


Cổ thụ sống qua 7 thế kỷ còn có tên gọi khác là "cây Gõ bác Đồng". Theo cán bộ kiểm lâm làm việc tại Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên, 27 năm trước (1988), cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng về công tác tại vườn và đến thăm cây Gõ. Thấy cây phát triển tốt, ông khen ngợi và khuyên cán bộ vườn phát huy tinh thần bảo vệ rừng. Về sau, cán bộ vườn quyết định đặt tên cho cổ thụ là "cây Gõ bác Đồng" để kỷ niệm và nhắc nhở thế hệ sau về trách nhiệm giữ rừng. 


Ở độ cao 5 m, thân cổ thụ chia thành nhiều ngọn với tán lá xum xuê. Nhiều loài chim thường kéo về cây làm tổ, trú ngụ. 


Rêu mọc kín trên thân cổ thụ. 


Để giúp du khách có điều kiện vào thăm cây Gõ 700 tuổi, ngành chức năng sử dụng đá ong ghép thành con đường nhỏ nối từ đường bộ hành bìa rừng đến gốc cây. Con đường quanh co trong rừng rậm luôn phủ kín rêu xanh. 


Trên thân cổ thụ có nhiều loài thực vật sống ký sinh. 


Vỏ cây ẩm ướt có rêu mọc tạo điều kiện để nhiều côn trùng ẩn nấp, sinh sống. Ngành chức năng cho du khách tham quan cổ thụ nhưng cấm các hành vi săn bắt, can thiệp vào sự phát triển tự nhiên của cây và các sinh vật. 


Trải qua 7 thế kỷ, cây Gõ đỏ vẫn xanh tốt và trở thành "báu vật" của VQG Cát Tiên. 


Bộ rễ của cây cắm chặt vào đất giúp cây đứng vững trong nhiều thế kỷ. Nhiều rễ nổi trên mặt đất, có đường kính gần 0,8 m. 


Trên cổ thụ, nhiều thân của loài dây leo có đường kính gần 20 cm cuốn chặt vào cây. 


Ông Nguyễn Văn Diện, Giám đốc Vườn quốc gia Cát Tiên cho biết, cây Gõ bác Đồng được cán bộ vườn lập hồ sơ theo dõi và quản lý nghiêm ngặt. Cây sinh trưởng tốt vì môi trường tự nhiên được đảm bảo. Những năm gần đây, Trung tâm Giáo dục môi trường và dịch vụ (VQG Cát Tiên) tổ chức tuyến tham quan cây Gõ để tuyên truyền đến du khách ý thức bảo vệ rừng. Nhiều chuyên gia, trung tâm bảo tồn thiên nhiên trên thế giới về thăm và nghiên cứu cổ thụ 700 tuổi. 


Ngọc An

Đồng Nai, nơi nổi danh kèn đồng

đăng 01:17, 26 thg 12, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nếu bây giờ cần một dàn nhạc kèn có quy mô hơn 1.500 nhạc công để biểu diễn thì ở Việt Nam, trừ quân đội với những dàn quân nhạc chuyên nghiệp, chỉ có Đồng Nai là địa phương duy nhất có thể huy động được. 

Trong khi nhạc công của các đoàn quân nhạc đều do Nhà nước, quân đội đào tạo chính quy và ăn lương như những chiến sĩ thì nhạc công kèn ở Đồng Nai chủ yếu là nông dân. Từ niềm say mê âm nhạc, họ tự trang bị nhạc cụ và chấp nhận gian khổ học kèn.

Bỏ trăm triệu sắm kèn 

Hiện nay, một nhạc cụ trong dàn nhạc kèn thường có giá dao động từ 3 triệu đến 70 triệu đồng tùy loại. Nhưng trong từng loại nhạc cụ, giá cũng dao động tùy hãng/nước sản xuất, tùy “đời”, như saxophone chẳng hạn, có chiếc 10 triệu đồng nhưng cũng có cái đến 50 triệu đồng. Loại kèn rẻ nhất trong một dàn nhạc, kèn đã qua sử dụng nhiều năm, nếu mua lại cũng có giá không dưới 5 triệu đồng. Cả tỉnh Đồng Nai hiện có hơn 50 đội nhạc kèn từ các xứ đạo Thiên Chúa tập trung ở các khu vực Kiệm Tân (huyện Thống Nhất), Hố Nai, Tân Mai, Tam Hiệp (TP Biên Hòa), mỗi đội kèn có số lượng, quy mô nhạc công khác nhau. Đội ít nhất khoảng 20 người. Những đội nhạc kèn lớn ở các giáo xứ như Dốc Mơ, Đức Long, Tân Mai, Ngọc Đồng… có trên 70 nhạc công. Nếu lấy bình quân mỗi đội có 30 nhạc công và mỗi cây kèn trị giá 5 triệu đồng thì tổng tài sản nhạc cụ kèn ở Đồng Nai đã là 7,5 tỉ đồng! 

Ông Phan Trung Tâm, 84 tuổi, trưởng ban nhạc kèn giáo xứ Dốc Mơ (xã Gia Tân, huyện Thống Nhất), hiện còn giữ được nhiều cây kèn đã xuất hiện tại Việt Nam hơn 3/4 thế kỷ. Ông nói rằng đó là những bảo vật vô giá, không bao giờ bán. Đa phần các loại kèn như trompet, clarinet, saxo, contrabass, trombone, econ… trong các dàn nhạc ở Đồng Nai được sản xuất từ Pháp, Đức và có tuổi đời khá cao. Một số kèn mới trang bị sau này có xuất xứ từ Hàn Quốc, Trung Quốc thường có giá mềm hơn kèn… Tây. 

Chưa có một thống kê chính thức để có thể hình dung về quy mô tài sản của người dân Đồng Nai từ sinh hoạt âm nhạc này bởi đây là việc làm khó. Nhưng đánh giá đầy đủ gia tài văn hóa phi vật thể này như tay nghề của hàng ngàn nhạc công không chuyên, trình độ biểu diễn của những ban nhạc kèn dân lập mà Nhà nước không tốn công đào tạo và đầu tư ở Đồng Nai… lại càng khó hơn. 

Những “nghệ sĩ nông dân” Đồng Nai trong một buổi tập thổi kèn đồng.


Ông Phan Trung Tâm và cây kèn được ông mang từ miền Bắc vào năm 1954. 


Vỏ nông dân, hồn nghệ sĩ

Năm 1989, lần đầu tiên ở Đồng Nai, một liên hoan đồng ca hợp xướng đã đưa lên sàn diễn hàng ngàn diễn viên không chuyên mà theo đánh giá của giới chuyên môn, trình độ biễu diễn loại hình âm nhạc bác học này của họ không quá chênh với giới chuyên nghiệp. 

Từ liên hoan này và nhiều liên hoan sau đó, đồng ca - hợp xướng được biết đến như là thế mạnh đặc biệt trong đời sống văn hóa ở Đồng Nai bên cạnh nhạc kèn, xuất phát từ đặc điểm của một tỉnh có tỉ lệ đồng bào theo đạo Thiên Chúa cao nhất nước. 

Cũng từ nỗ lực của ngành văn hóa cách nay gần 20 năm, một số liên hoan nhạc kèn đã được tổ chức tại Đồng Nai. Dàn nhạc kèn của giáo xứ Ngọc Đồng (phường Tân Hòa, TP Biên Hòa) đã được chọn đại diện Đồng Nai tham gia liên hoan nhạc kèn chuyên nghiệp toàn quốc và giành được giải đặc biệt. 

Nhiều năm qua, các đội nhạc kèn ở Đồng Nai bên cạnh phục vụ các nghi thức tôn giáo dịp lễ lớn cũng còn tham gia biểu diễn cho địa phương trong các sự kiện quan trọng như bầu cử, giao quân, lễ đón nhận các giải thưởng, tham gia nhiều hoạt động văn nghệ của địa phương và giúp đỡ bà con nhân dân trong các dịp tang ma, cưới xin… Nhiều nhạc công các đội kèn đã trở thành các hạt nhân văn nghệ quần chúng cũng như nhạc công chuyên nghiệp ở Đồng Nai trong hơn 30 năm qua. 

Anh Lâm Quang Đăng sinh năm 1960, học thổi kèn từ năm 11 tuổi, đến nay chơi được cả clarinet lẫn saxophone cho đội kèn giáo xứ Dốc Mơ (xã Gia Tân, huyện Thống Nhất) cho biết: “Nhạc kèn là nghệ thuật tập thể nên từng cá nhân phải tập luyện thường xuyên và cả đội phải luôn tập với nhau dưới sự chỉ đạo của một người giỏi chuyên môn nên rất vất vả”. 

Có thể nói đối với hầu hết nhạc công không chuyên ở Đồng Nai, nhạc kèn là niềm vui, niềm yêu thích và cả sự hy sinh! Hy sinh đầu tiên là bỏ tiền sắm kèn, mặc dù cũng có một số nơi nhạc cụ kèn là tài sản chung của giáo xứ hoặc do giáo dân đang ở nước ngoài gửi tặng. Hy sinh lớn nhất của các nhạc công là mất nhiều thời gian tập dượt trong điều kiện thiếu thốn và phục vụ không có thù lao. Họ giống như những nghệ nhân dân gian dù biểu diễn loại hình âm nhạc bác học, những nghệ nhân chỉ hưởng “thù lao” bằng tiếng vỗ tay, bằng niềm yêu quý của bà con trong thôn xóm, họ đạo. Và có lẽ đó cũng là lý do hiện nay nhiều bạn trẻ không thích đến với nhạc kèn theo niềm yêu thích của các thế hệ cha anh mình. 

Nguy cơ mai một 

Tuổi đời bình quân của các đội nhạc kèn ở Đồng Nai hiện nay là 52. Cá biệt có nhiều đội kèn như ban kèn xứ Gia Yên (xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất) cả 30 thành viên đều có tuổi từ 55 trở lên! Anh Bùi Đức Thân, đội trưởng đội kèn Gia Yên, giải thích: “Kèn là nhạc cụ đơn âm trong khi ngày nay có quá nhiều nhạc cụ điện tử hiện đại dễ học nên đa số thanh niên không hào hứng học kèn. Với lại họ thấy vào đội kèn thì không có quyền lợi gì mà mất quá nhiều thời gian tập dượt, phục vụ”. 

Anh Bùi Thế Thông, một nhạc sĩ hiện sinh sống ở vùng Kiệm Tân, cũng nhận định: “Chất lượng chuyên môn của nhiều đội kèn ở Đồng Nai hiện nay còn yếu và khó nâng lên được vì anh em vẫn tập với bài bản cũ. Những người có học hành tử tế về âm nhạc trước đây để chỉ đạo các đội kèn đã lần lượt qua đời. Các bạn trẻ thì không muốn theo nhạc kèn vì giờ họ có quá nhiều thứ để chơi. Học saxo ở TP.HCM may ra có thể biểu diễn sân khấu chứ ở vùng quê thì làm gì kiếm ra tiền. Nhưng thực ra đây không phải là lý do chính vì đa phần anh em tham gia hội kèn mấy chục năm nay đều mang tinh thần phục vụ giáo hội”. 

Khó có thể lý giải hết những nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mai một do không có lực lượng kế thừa của đời sống nhạc kèn ở Đồng Nai. Anh Bùi Đức Thân nói thêm: “Thời chúng tôi còn trẻ thì ngành văn hóa có tổ chức các liên hoan kèn cũng sôi nổi. Phong trào lúc đó lên lắm nhờ các địa phương cạnh tranh nhau. Nhưng cách tổ chức còn máy móc, ví dụ như quy định số bài nhạc tham gia thi quá hạn chế và điều đáng nói nhất là giải thưởng… không đủ tiền cho anh em uống nước trong một buổi tập nên sau này khi tổ chức tiếp thì anh em không muốn tham gia nữa. Có thể nói anh em nhạc kèn ở Đồng Nai chưa thực sự có một “sân chơi” để cọ xát, giao lưu và phục vụ…”. 

Nhiều năm qua nhạc kèn đã có những đóng góp trong đời sống văn hóa tinh thần của người Đồng Nai. Sinh hoạt âm nhạc cũng như đội ngũ những người chơi kèn không chuyên ở Đồng Nai là những tài sản văn hóa đặc biệt cần được giữ gìn và phát huy. 

Nhạc kèn đối với nhiều nơi trên thế giới là món hàng sang trọng nhưng ở Đồng Nai nó có sức sống mãnh liệt trong đời sống bình dân. Điểm độc đáo ấy xem ra sẽ bị đánh mất trong một thời gian không xa nữa nếu hôm nay những giá trị ấy chưa được đặt đúng chỗ… 

Loại kèn oai hùng kén người chơi


Dàn nhạc kèn thường gồm các nhạc khí thuộc bộ kèn gỗ và kèn đồng, kèm theo một ít nhạc khí gõ, không dùng đến bộ dây. Thành phần gồm: oboe, clarinet, basson, saxophone, cornes, trompet, trombone, các nhạc khí bộ gõ như trống, cymbales. Dàn nhạc kèn ở các xứ đạo trong tỉnh Đồng Nai thiên về nhạc kèn đồng (ochestre fanfare) hơn. Khá giống với  các dàn nhạc quân đội, kèn đồng chiếm vị trí chủ yếu để tạo âm lượng lớn, tiếng vang xa, mạnh về ngợi ca, hành khúc, sự trang trọng, lễ nghi…


Không phải ai cũng chơi được nhạc kèn. Một số nhạc cụ như trompet chẳng hạn cũng cần có sức khỏe tốt, biết lấy hơi bụng. Và mỗi người học kèn thì sẽ chọn một số loại kèn phù hợp với… miệng của mình.



PHAN VĂN TÚ 

Nguyễn Tất Nhiên: Một đời thơ bi thiết

đăng 01:58, 7 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:59, 7 thg 6, 2017 ]

Nguyễn Tất Nhiên là một hiện tượng của văn học miền Nam những năm 1970-1975. Tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 18 tuổi, với những hình ảnh và ngôn từ khá lạ lẫm. Ngay lập tức, một số bài trong tập thơ này đã được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ bài Vì tôi là linh mục tuyệt hay: “Vì tôi là linh mục/ Giảng lời tình nhân gian.../ Một tín đồ duy nhất/ Đã thiêu hủy lầu chuông…/ Vì tôi là linh mục/ Không biết rửa tội người/ Nên âm thầm lúc chết/ Tội mình còn thâm vai”… Riêng nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ một loạt thơ Nguyễn Tất Nhiên thành những ca khúc rất được yêu thích.

Đòi nhuận bút những bài thơ phổ nhạc

Tôi quen Nguyễn Tất Nhiên khoảng đầu năm 1971, khi Nhiên đến tòa soạn tặng tôi tập thơ Thiên tai. Sau đó tôi thường gặp Nhiên ở nhà Du Tử Lê. Gọi là nhà nhưng đó chỉ là một căn phòng nhỏ trong cư xá Bưu Điện, đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai), nơi vợ chồng Du Tử Lê thuê ở tạm trong thời gian chờ mua nhà ở làng báo chí. Căn phòng chỉ rộng chừng vài chục mét vuông mà chị Thụy Châu, vợ Du Tử Lê, vừa làm nơi nấu nướng, ăn ngủ, tiếp khách. Vậy mà mỗi lần Nhiên đến ngủ lại, chiếm cái bàn viết của anh Lê, ngồi làm thơ, cả đêm uống trà, cà phê, hút thuốc khói bay mù mịt cả căn phòng. 

Theo lời Du Tử Lê thì anh là người chọn và đưa những bài thơ Nguyễn Tất Nhiên cho Phạm Duy phổ nhạc. Nổi tiếng nhưng Nhiên vẫn nghèo kiết xác. Rồi không biết ai “xúi” Nhiên đòi Phạm Duy trả tác quyền mấy bài thơ phổ nhạc bởi Nhiên khá ngây thơ, chẳng quan tâm chuyện gì ngoài chuyện làm thơ. Về sau tôi mới biết là do Lê Cung Bắc. Lê Cung Bắc kể chuyện anh quen Nhiên: Một lần anh đến Biên Hòa, vừa xuống xe thì có một thanh niên cao, gầy, rất lãng tử bước đến hỏi: “Có phải anh là Lê Cung Bắc?”, Bắc gật đầu. Lê Cung Bắc bấy giờ là diễn viên kịch nói tên tuổi, thường xuất hiện trên truyền hình nên nhiều người biết. Chàng thanh niên tự giới thiệu là Nguyễn Tất Nhiên. Bắc đã đọc và thích thơ Nhiên nên từ đó hai người thân với nhau. Biết được chuyện Phạm Duy phổ nhạc thơ Nhiên nhưng không hỏi và cũng không trả đồng nhuận bút nào, Lê Cung Bắc bèn đưa Nhiên đến gặp Chu Tử, chủ bút nhật báo Sóng Thần, bởi Bắc có tên trong nhóm chủ trương báo này. Nhà văn Chu Tử, tác giả những tiểu thuyết nổi tiếng Sống, Yêu, Ghen, Loạn… cùng gốc người Bắc và cũng trạc tuổi Phạm Duy, vốn không ưa Phạm Duy nên ông “phang” ngay một bài khá cay trên mục Ao thả vịt của ông! 

Một thời gian sau tôi thấy Nguyễn Tất Nhiên chạy một chiếc xe Honda nữ còn mới, nhìn rất tức cười. Bởi chiếc xe dành cho nữ khá thấp trong khi Nhiên cao lều khều, người gầy, chân tay dư thừa lòng khòng. Nhiên bảo tiền nhuận bút thơ mình Phạm Duy phổ nhạc đấy. Tôi cũng không hỏi thêm Phạm Duy trả hay ai trả và trả bao nhiêu. Sau này, khoảng cuối năm 1974, khi tôi gặp Phạm Duy trong lần ông lên Buôn Ma Thuột trình diễn chung với một ca sĩ du ca nổi tiếng người Mỹ, tôi hỏi chuyện này, Phạm Duy bảo chắc người in nhạc ông trả chứ ông đâu biết mặt mũi Nguyễn Tất Nhiên ra sao đâu! 

Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên (thứ hai từ trái qua) và các bằng hữu tại tư gia ở Westminster, Hoa Kỳ. 


Vẫn lơ ngơ chân không chạm đất 

Sau ngày 30-4-1975 vài tháng, Nguyễn Tất Nhiên từ Biên Hòa xuống Sài Gòn thăm tôi. Nhiên gầy hơn, cao lêu nghêu và đen nhẻm. Vẫn đôi dép lẹp xẹp, áo bỏ ngoài quần, trông còn lè phè hơn xưa. Nhiên bảo lúc này làm việc ở Hợp tác xã Xe lam. Bữa nay được nghỉ, Nhiên đi Sài Gòn mua ít đồ, tiện ghé thăm tôi. Tối đó Nhiên ở lại, hai thằng ngồi lai rai hết mấy xị đế ở hành lang căn gác tôi ở trọ. Và cùng ngủ ngồi bởi nơi tôi ở ghép trên đường Nguyễn Huỳnh Đức (Phú Nhuận) nhà chật chội, khá đông người, không có chỗ cho hai đứa. Từ đó tôi không gặp Nhiên. Khoảng đầu những năm 1980, tôi nghe tin Nhiên vượt biên, sang định cư ở Pháp, rồi sau lại nghe Nhiên sang Mỹ. Nhiên lấy vợ tôi không hay nhưng tin Nhiên mất tới tôi rất nhanh, qua một người bạn từ Mỹ về báo. 

Mãi đến năm 2014 tôi qua Mỹ mới được nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ và đạo diễn Nguyễn Hoàng Nam, em trai Nguyễn Tất Nhiên, đưa tôi đến thăm mộ Nhiên. Không tìm đâu ra nén nhang, tôi xin Nguyễn Lương Vỵ điếu thuốc, đốt gắn trên mộ bạn nằm dưới bóng cổ thụ trong Vườn Vĩnh Cửu, nghĩa trang Westminster, California tĩnh mịch, yên bình. 

Những câu thơ tiên tri về bi kịch cuộc đời 

Tôi được nghe kể lại, thời gian sau khi ly hôn Nguyễn Tất Nhiên sống cô độc trên chiếc xe hơi cũ, lang thang vô định. Trong xe của Nhiên lúc nào cũng có một bịch khoai tây sống để ăn tạm khi đói. Rồi một ngày người ta tìm thấy anh nằm chết trên xe đậu trong sân một ngôi chùa. Tôi nghe mà lòng nghẹn đắng, thương bạn. Tôi nhớ bạn tôi vốn có nét mặt khắc khổ, ít khi thấy hắn cười, có cười thì nụ cười méo xệch. Thơ cũng như người. Thơ Nguyễn Tất Nhiên khi trẻ là những bài thơ thất tình đã được Phạm Duy phổ nhạc. Nhân vật Duyên trong Khúc tình buồn là một bạn học lớp đệ ngũ, đệ tứ (lớp 8, lớp 9) khi mới 14-15 tuổi. Cô Bùi Thị Duyên hiện định cư ở Michigan, Hoa Kỳ. Cô cho biết chỉ là bạn học thôi nhưng Hải (NTN) thích và làm thơ tặng thì mình nhận. Nhưng vẫn thường nói với Hải bấy giờ mình mãi mãi chỉ là bạn thôi. Và Hải cũng gật đầu. Khi lớn hơn một chút, thơ Nguyễn Tất Nhiên bi thiết não lòng. Khi mới hai mươi, Nguyễn Tất Nhiên đã có những câu thơ bi thiết định mệnh: Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ/ Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian/ Phải đau theo từng hớp rượu tàn/ Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định…” (Giữa trần gian tuyệt vọng, 1972). Bốn câu thơ này được khắc trên mộ bia Nguyễn Tất Nhiên. Cả bài thơ tặng sinh nhật vợ sắp cưới cũng là những vần thơ sầu thảm như một lời tiên tri về những bi kịch sẽ đến: “Khổ đau oằn nặng sinh thời/ Yêu ai tôi chỉ có lời thở than…/ Lôi người té sấp, gian nan/ Lỗi tôi, ừ đó, muôn phần lỗi tôi!”. 

Minh khúc 90, Nguyễn Tất Nhiên làm sau khi ly hôn, nhiều câu đọc lên mà nghe nhói lòng: “Đường không gian - đã phân ly/ Đường thời gian - đã một đi không về/ Những con đường mịt sương che/ Tôi vô định lái chuyến xe mù đời/ Cu Tí ngủ gục đâu rồi?/ Băng sau nhìn lại bời bời nhớ con...”. Những câu thơ xé lòng của một thi sĩ đi đến tận cùng nỗi bi thiết. 

Chuyện cái bút danh 

Về chuyện bút danh Nguyễn Tất Nhiên, sau này tôi nghe nói sau khi Nhiên chết, ở Mỹ có người bàn tán về cái bút danh ngộ nghĩnh Nguyễn Tất Nhiên. Chính Nguyễn Tất Nhiên kể với tôi là khoảng năm 1969, lần đầu gặp Du Tử Lê, nhà thơ thần tượng của anh bấy giờ, tại quán Cái Chùa (La Pagode), Sài Gòn, anh rụt rè hỏi: “Cái bút hiệu Hoài Thi Yên Thi bạn em bảo hơi “sến” phải không anh?”. Du Tử Lê buột miệng: “Tất nhiên”. Rồi hỏi: “Họ Nguyễn hả?”. Hải gật đầu. Du Tử Lê bảo: “Thì lấy Nguyễn Tất Nhiên đi!”. Và từ đó bút danh Nguyễn Tất Nhiên đi theo anh đến hết cuộc đời như một định mệnh nghiệt ngã. Khởi đầu từ tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970 đến khi thi sĩ nằm chết lặng lẽ trong chiếc xe hơi cũ ở sân chùa khu Garden Grove, California mùa thu năm 1992, ở tuổi 40. 


Nguyễn Tất Nhiên tên thật Nguyễn Hoàng Hải, sinh năm 1952 tại Biên Hòa. Khi mới học đệ tứ (lớp 9 bây giờ) Trường Trung học Ngô Quyền, anh đã có thơ in chung trong tập Nàng thơ trong mắt. Và hai năm sau, anh có tập thơ riêng Dấu mưa qua đất. Cả hai tập thơ này đều với bút hiệu Hoài Thi Yên Thi. Tập thơ Thiên tai với bút danh Nguyễn Tất Nhiên xuất bản năm 1970 đã đưa tên tuổi anh thành một khuôn mặt đặc biệt của thi ca bấy giờ. Nguyễn Tất Nhiên có ba em trai: Nguyễn Hoàng Đệ (chết lúc nhỏ), Nguyễn Hoàng Nam hiện là đạo diễn điện ảnh và Nguyễn Hoàng Thi là ca sĩ-nhạc sĩ. Cả hai hiện định cư ở Hoa Kỳ với cha mẹ.


PHẠM CHU SA

1-10 of 34

Comments