Nhân vật Đồng Nai và những sự kiện liên quan

Bài mới

  • Đi tìm nguồn gốc xôi chiên phồng Trong một lần tình cờ tôi được gặp bà Út Ha – được coi là người lưu giữ bí quyết chế biến ra món Xôi chiên phồng trứ danh, có nguồn ...
    Được đăng 01:13, 18 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mạch nguồn hào khí Đồng Nai 320 năm qua, tên gọi Đồng Nai vinh danh trong sử dân tộc với hào khí Đồng Nai nức tiếng oai hùng, hiển hách. Trong đó, không thể không nhắc ...
    Được đăng 01:20, 18 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Võ đường họ Mã trên đất Biên Hòa Cây bằng lăng nhỏ, nơi bà Chi đặt quán cà phê “cóc” trên đường 30-4 (hẻm 39, KP.3, phường Trung Dũng, TP.Biên Hòa), giờ to bằng một ...
    Được đăng 20:54, 27 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cổ thụ xanh tươi suốt 7 thế kỷ ở rừng Cát Tiên Cổ thụ Gõ đỏ tại Vườn quốc gia Cát Tiên là loài gỗ quý, thuộc danh mục nguy cấp, cần được bảo vệ. Trải qua 7 thế kỷ, cây vẫn ...
    Được đăng 02:32, 26 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đồng Nai, nơi nổi danh kèn đồng Nếu bây giờ cần một dàn nhạc kèn có quy mô hơn 1.500 nhạc công để biểu diễn thì ở Việt Nam, trừ quân đội với những dàn quân ...
    Được đăng 01:17, 26 thg 12, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 30. Xem nội dung khác »

Bài trong mục này


Đi tìm nguồn gốc xôi chiên phồng

đăng 01:13, 18 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Trong một lần tình cờ tôi được gặp bà Út Ha – được coi là người lưu giữ bí quyết chế biến ra món Xôi chiên phồng trứ danh, có nguồn gốc từ Biên Hòa, Đồng Nai. Bà Út Ha tên thật là Đinh Thị Ha, ngụ ở phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa. Bà là người tiếp quản Tân Hiệp Quán nổi tiếng, do mẹ bà là bà Huỳnh Thị Sớm, sáng lập năm 1952. Xưa quán nằm ngay đường Hàm Nghi, Biên Hòa, cạnh bờ sông Đồng Nai hiền hòa, mà nay là đường Cách Mạng Tháng Tám. 

Theo lời kể của bà thì từ khi mở quán, mẹ bà thường bán những món ăn bình dân phục vụ thực khách lao động là chính như bánh mì, hủ tiếu…Rồi dần dần Tân Hiệp Quán phục vụ các món ăn ngon hơn, chế biến cầu kỳ hơn như bánh canh đầu cá, chả giò, nem nướng, bì cuốn… Lúc này khách vãng lai từ các tỉnh lân cận ghé ăn nhiều hơn, quán trở thành điểm dừng chân đón khách Sài Gòn, Vũng Tàu, miền Tây… Sức phục vụ lớn, cần nhân lực nhiều, quán phải thuê thêm đầu bếp.


Có một lần tình cờ, người đầu bếp của quán làm món xôi chiên dẹp như chiếc bánh nhỏ để mang đi lễ chùa, lễ đình. Người này phát hiện một góc xôi phồng to lên lạ lẫm. Mọi người đều ngạc nhiên, lại xem và bàn luận. Ấy là lần đầu tiên, những lần sau món xôi chiên này được làm đi làm lại. Mỗi lần lại rút ra những kinh nghiệm khá bổ ích, món xôi cũng ngon hơn, đẹp hơn, phồng to hơn và kỹ thuật chế biến chuyên nghiệp, thuần thục hơn. 

Bà chia sẻ rằng để xôi chiên được ngon, giòn mềm và không cứng, đầu tiên phải chú ý đến nếp, việc chọn nếp thơm, dẻo, ngon rất quan trọng. Sau là kỹ thuật nấu sao cho xôi được chín đều, không nhão cũng không cứng. Kế đến là khâu nhồi xôi, không để hạt nếp nguyên vẹn như xôi thông thường, quết chúng mịn hơn, trong nếp có pha thêm ít đường cho có vị ngọt, bột sau trộn được ngâm trong dầu ăn. Tuy nhiên khâu quan trọng hơn cả chính là chiên xôi. Xôi phải được chiên trong chảo gang, nhiệt độ lửa phù hợp, dùng và để dằn, xoay và lật xôi. Vá cũng phải làm bằng gang, và lưỡi vá bằng. Người chiên phải thật kiên nhẫn, dùng vá ép, và xoay miếng xôi thật khéo léo trên chảo dầu nóng cho xôi nở đều, không bị méo mó. Ngọn lửa cũng phải được điều chỉnh liên tục để bánh xôi chín và giòn. Khi chín, xôi vàng đều cả bên trong, lẫn bên ngoài, tròn phồng như trái banh. Cắt ra không có phần xôi dư, ăn giòn, nhưng vẫn giữ được độ mềm của nếp, vị ngọt nhẹ của đường, và dậy mùi sau khi chiên. 


Bà nhớ lại hồi xưa toàn chiên xôi bằng bếp củi, không kịp để phục vụ thực khách. Khách trực tiếp đến quán thưởng thức, còn muốn mua để mang về để biếu tặng. Vì vậy, ngoài phục vụ tại chỗ, quán chỉ phục vụ được mỗi bàn hai chiếc xôi phồng mang về. Tiếng thơm đồn xa, tiếng lành đồn xa, món ăn vừa lạ mắt, vừa ngon miệng được lan truyền khá rộng, dân Sài Gòn, Sông Bé cũng lặn lội tới quán để được thưởng thức món xôi này. Sau này, những người thợ nấu ăn của quán dời đi khắp vùng, họ mang theo cách chế biến tạo thành món Xôi chiên phồng. Ấy vậy mà món Xôi chiên phồng trứ danh của Tân Hiệp Quán vẫn ngon nức tiếng nhất. Món xôi này có thể ăn kèm với gà quay, gà chiên, thịt nướng… kèm miếng dưa leo hay vài loại rau thơm cho đỡ ngán. 

Năm 2014, bà được tham dự Chương trình xác lập kỷ lục “Nhiều người chiên xôi phồng nhất Việt Nam” do Hiệp hội du lịch Đồng Nai tổ chức để giới thiệu về nguồn gốc ra đời của món đặc sản này. Bà thực sự xúc động khi chứng kiến hơn 50 đầu bếp cùng tham gia chiên xôi phồng. Món ăn xuất xứ từ gia đình bà được vinh danh, được đón nhận và trở thành đặc sản một vùng. Với xôi chiên phồng, ăn không chỉ là thưởng thức cái ngon, cái lạ, mà nó là công sức, sự khéo léo, là kỹ thuật, nghệ thuật và tâm hồn của người đầu bếp.


Ngày nay xôi chiên phồng phổ biến cả trong Nam ngoài Bắc, hầu hết trong thực đơn của các nhà hàng lớn hay những cơ sở nấu ăn nhỏ đều có món xôi chiên phồng ăn kèm với gà quay, luộc hay nướng. Ngoài những sự kiện trong nước, xôi chiên phồng còn trở thành một món ăn Việt Nam nổi tiếng được giới thiệu ra nước ngoài trong các buổi giao lưu ẩm thực. Khách nước ngoài đã thực sự thán phục tài nghệ của các đầu bếp Việt Nam, ngắm nghía chiêm ngưỡng cách hô biến từ nắm bột đặc biệt thành chiếc bánh xôi to tròn, độc đáo, vừa thơm, vừa ngon.

Một ngày đi tìm “sự tích” xôi chiên phồng, cũng giống như món xôi chiên phồng, tình cờ, những rất đặc biệt. Văn hóa ẩm thực Việt thật sự có sức cuốn hút khó cưỡng, chân chất, đậm đà, độc đáo. Có lẽ sau dịp này, tôi sẽ lên đường tìm kiếm nguồn gốc những món ngon đặc sắc của địa phương nơi tôi sống để thấy được nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của những con người gần gũi bên tôi.

Mai Phương

Mạch nguồn hào khí Đồng Nai

đăng 20:59, 27 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:20, 18 thg 7, 2018 ]

320 năm qua, tên gọi Đồng Nai vinh danh trong sử dân tộc với hào khí Đồng Nai nức tiếng oai hùng, hiển hách. Trong đó, không thể không nhắc đến những con người với những tính cách nổi bật tạo nên hào khí Đồng Nai rất đỗi tự hào. 

Ông Nguyễn Đức Thùy (76 tuổi, ở hẻm 39, KP.3, phường Trung Dũng, TP.Biên Hòa) trông giữ mộ Trịnh Hoài Đức đã 25 năm. 


Tính cách của người Đồng Nai ra sao? Đó là những người vừa có sự hào sảng của một vùng đất luôn “mở lòng”, vừa có khí phách, tài ba, cương trực, dũng cảm của lớp người mở cõi. 

* Hào sảng Thủ Huồng 

Theo Đại Nam nhất thống chí, Thủ Huồng tên thật Võ Hữu Hoằng, sống ở châu Đại Phố, huyện Phước Chính, phủ Phước Long (nay là xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa) khoảng năm 1755. Ông xuất thân làm thơ lại, trong 20 năm làm việc đã thu tóm được nhiều tiền của. 

Thủ Huồng rất yêu vợ, sau khi vợ mất sớm nghe nói rằng ở chợ Mãnh Ma là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau, ông quyết đi tìm vợ và được đưa xuống âm phủ chơi. Ở cõi âm, ông tận mắt nhìn thấy những cực hình dành cho những kẻ phạm nhiều tội ác khi còn sống, trong số đó có một cái gông to mà cai ngục cho biết là để dành cho người tên gọi Thủ Huồng. 

Khi trở lại cõi dương, ông đem toàn bộ tài sản dùng vào việc bố thí, xây dựng những công trình phúc lợi, đặc biệt là làm nhà để giúp dân nghèo dừng chờ nước triều ở ngã ba sông. Sau, Thủ Huồng được vợ đưa xuống cõi âm lần nữa, thấy cái gông trước kia đã nhỏ lại rất nhiều. Từ đó, ông tiếp tục làm việc thiện, việc nghĩa cho đến khi mất. 

Sách Gia Định thành thông chí chép: Thuở ấy, dân cư còn thưa thớt, ghe đò hẹp nhỏ, hành khách thổi cơm, đun trà rất khổ, vì vậy có người phú hộ ở tổng Tân Chánh là Võ Thủ Hoằng kết tre lại làm bè, trên che lợp phòng ốc, sắm đủ bếp núc, gạo, củi, và đồ ăn để dưới bè cho hành khách tùy ý dùng mà không bắt phải trả tiền. Sau đó khách buôn cũng kết bè nổi bán đồ ăn nhiều đến 20, 30 chiếc, nhóm thành chợ trên sông, nên mới gọi xứ ấy là Nhà Bè. 

Ngày nay, ở Cù lao Phố có chùa Chúc Thọ tương truyền do Thủ Huồng xây dựng. Con rạch chạy ngang qua đường Bùi Hữu Nghĩa (phường Bửu Hòa) đi TP.Hồ Chí Minh do Thủ Huồng tổ chức nạo vét nên gọi là rạch Thủ Huồng, đồng thời cây cầu đá giữa Tân Vạn và chợ Đồn (Biên Hòa) do Võ Hữu Hoằng xây dựng đến nay vẫn còn. Ngã ba sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, nơi Thủ Huồng cho kết bè nổi để khách thương hồ có nơi ăn nghỉ đợi chờ con nước, sau biến thành chợ trên sông. Những cái tên bến Nhà Bè, sông Nhà Bè, huyện Nhà Bè... chính là để ghi dấu “nhà bè” do Thủ Huồng dựng. Câu ca dao “Nhà Bè nước chảy chia hai/ Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về” xuất phát từ tích trên. 

* Tài hoa Đào Trí Phú 

Đào Trí Phú sinh tại làng Phước Kiển, thuộc Long Thành, dinh Trấn Biên (nay thuộc xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch). Ông thi đỗ Cử nhân tại khoa thi Hương Gia Định năm 1825. Con đường làm quan của ông lần lượt trải qua các chức vị như: Thị lang bộ Hộ, kiêm quản Phủ doãn phủ Thừa Thiên,Tham tri bộ Hộ, Tham tri bộ Binh... 

Đặc biệt, Đào Trí Phú là một trong số rất ít người thời đó thông thạo ngoại ngữ, ông có thể giao tiếp được với người nước ngoài bằng tiếng Anh, Pháp lẫn tiếng Hoa, vì thế thường được vua Minh Mạng cử làm việc với đoàn sứ bộ các nước đến nước ta, hoặc đi công cán ở nước ngoài như: Trung Quốc, Philippines, Singapore… Ông từng khuyên nên học hỏi các nước châu Âu và Mỹ về các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là khí tài chiến đấu, được vua khen ngợi và nhiều lần cử theo đoàn sang Singapore mua kim khí, hóa phẩm. Đào Trí Phú là người đầu tiên mua tàu chạy hơi nước ở châu Âu đem về Việt Nam, trong đó có chiếc Điện Phi rất lớn, mua với giá 280 ngàn quan tiền. 

Nhờ những chuyến đi nước ngoài, đồng thời biết kinh thương nên ông tích lũy tài sản khá lớn. Tương truyền, áo mão cân đai của ông đều có gắn vàng lá. Vì thế năm 1848 ông bị đàn hặc là tham nhũng, bị cách chức. Năm 1854, An Phong công Nguyễn Phúc Hồng Bảo mưu đoạt ngôi vua không thành, bị bắt giam và chết trong ngục, Đào Trí Phú cũng bị kết tội theo phe phản loạn, xử lăng trì tại huyện Long Thành. Người thân ông phải cải họ trốn đi nơi khác, mãi đến sau này mới dám lấy lại họ Đào. 

* Trịnh Hoài Đức - nhân cách thanh liêm, cao trọng 

Tổ tiên của Trịnh Hoài Đức vốn là người tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc), theo Trần Thượng Xuyên vào sống ở Trấn Biên, vì thế ông sinh ra ở Biên Hòa. Năm Mậu Thân 1788, Trịnh Hoài Đức đậu khoa thi Nho học đầu tiên do chúa Nguyễn tổ chức ở Nam bộ. 


Trịnh Hoài Đức là người có năng lực và nhân cách đáng kính trọng. Trải qua 4 đời vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, ông từng giữ những chức vị cao của triều đình như Thượng thư (tương đương Bộ trưởng) của cả Bộ Lại (chức năng như Bộ Nội vụ) và Bộ Binh (Bộ Quốc phòng ngày nay), đồng thời sung chức Phó tổng tài Quốc sử giám, thăng Hiệp biện Học sĩ, là thầy dạy học của hoàng tử. Về mặt học thuật, ông là tác giả nhiều bộ sách, trong đó nổi tiếng nhất là Gia Định thành thông chí, ghi chép tỉ mỉ về địa lý, phong tục, tập quán, thành trì, sản vật… của cả vùng đất Nam bộ, được đánh giá như “bách khoa toàn thư” về Nam bộ và là tài liệu quý làm cơ sở nghiên cứu, tham khảo cho đến tận ngày nay. 

Chức vị cao, nhưng hơn 40 năm làm quan ông vẫn sống cuộc đời thanh liêm, chính trực, không tơ hào của công hay nhận biếu xén của người khác. Theo Đại Nam liệt truyện, khi ông về kinh thành Huế làm quan, vua mới biết ông không có được ngôi nhà để ở, vì thế ban cho 3 ngàn quan tiền và gỗ, gạch ngói để làm nhà. Trịnh Hoài Đức mất năm 1825 tại Huế, thọ 61 tuổi. Vua thương tiếc cho bãi triều 3 ngày, truy tặng ông là Thiếu bảo Cần chánh điện Đại học sĩ, phái Hoàng tử Miên Hoằng đưa linh cữu của ông về làng Bình Trước (nay ở hẻm 63, KP.3, phường Trung Dũng, TP.Biên Hòa). 

* Nguyễn Thị Tồn rạng danh tiết phụ 

Nhắc đến danh nhân Bùi Hữu Nghĩa, một trong 4 “rồng vàng Đồng Nai”, không thể không nhắc đến vợ ông là bà Nguyễn Thị Tồn. Bùi Hữu Nghĩa quê ở làng Long Tuyền (nay thuộc quận Bình Thủy, TP.Cần Thơ), từ nhỏ nhà nghèo nên được gởi lên Biên Hòa ở nhà Hộ trưởng Nguyễn Văn Lý (làng Mỹ Khánh, tổng Chánh Mỹ Thượng, nay thuộc phường Bửu Hòa) để theo học với thầy đồ Hoành, sau được ông Lý gả con gái là Nguyễn Thị Tồn. Bà Tồn buôn bán tảo tần để nuôi chồng ăn học. 

Bùi Hữu Nghĩa thi đậu giải nguyên năm 1835, được bổ làm Tri huyện Phước Chánh (nay là TP.Biên Hòa và một phần huyện Vĩnh Cửu), nhưng do tính tình thẳng thắn, liêm chính nên không được lòng quan trên, bị đổi về làm Tri huyện Trà Vang (Trà Vinh hiện nay). Tại đây, năm 1848 trong vụ án Láng Thé, ông vì bênh vực những người Khmer yếu thế nên bị quan trên là Bố chánh Truyện và Tổng đốc Trương Văn Uyển khép vào tội làm loạn, lạm phép giết người và xử tội chết. 

Nhận được tin dữ, bà Nguyễn Thị Tồn quá giang ghe bầu từ Biên Hòa vượt sóng gió hàng tháng trời ra Huế đến Tam pháp ty “kích cổ đăng văn” (đánh trống, đội đơn) kêu oan cho chồng. Vua Tự Đức giao cho Bộ Hình thẩm án, nhờ vậy Bùi Hữu Nghĩa khỏi tội tử hình nhưng phải quân tiền hiệu lực, đoái công chuộc tội. Bà Nguyễn Thị Tồn được vua Tự Đức ban võng điều có 4 lọng, nhưng ở đầu võng có gông nhỏ sơn son, ngầm ý khen bà là người trung trinh, gan dạ song cũng “nhắc khéo” bà kinh động đế đô. Hoàng thái hậu Từ Dũ cảm phục khí phách của người phụ nữ xứ Đồng Nai, không ngại khó khăn thân gái dặm trường đến kinh thành minh oan cho chồng nên hết lời khen ngợi bà là người tiết nghĩa, đáng mặt nữ lưu và ban cho tấm biển vàng “Tiết phụ khả gia”. 

Khi bà về đến Biên Hòa thì lâm bệnh nặng, qua đời. Lúc ấy Bùi Hữu Nghĩa đang sung quân ở An Giang nên không về được. Ông đau xót viết văn tế vợ: “Nơi kinh quốc ba hồi trống gióng, biện bạch này oan nọ ức, đấng hiền lương mắt thấy thảy đau lòng/ Chốn tỉnh đường một tiếng thét vang, hẳn hòi lẽ chánh lời nghiêm, lũ bạn đảng tai nghe đà khiếp vía… Ta nghèo, mình hay giúp đỡ; ta tội, mình biết kêu oan, trong triều ngoài quận đều khen mình mới thật là vợ/ Mình bịnh, ta không thuốc thang; mình chết, ta không chôn cất, non sông cười ta chẳng xứng gọi là chồng”… 


Bài học lớn từ câu đối ở mộ Trịnh Hoài Đức


Ở ngôi mộ cổ của Trịnh Hoài Đức, phía trước mộ có 2 cặp đối chữ Hán. Cặp đối phía ngoài mỗi vế 7 chữ: Sơn thủy hữu tình thành quyến thuộc/ Càn khôn vô vực thị gia hương (Sông núi có tình nghĩa trở thành người thân trong gia đình/ Trời đất không giới hạn chính là quê nhà của mình).


Cặp đối phía trong mỗi vế 5 chữ: Các nhân chính tẩu mã/ Cử thế kiên hành chu (Con người đường hoàng như cưỡi ngựa/ Xử thế ở đời như chèo thuyền).


Theo nhà nghiên cứu Lý Việt Dũng, muốn giải mã cặp đối này, phải hiểu đôi câu đối cổ của tiền nhân: Tâm như bình nguyên mục mã dị phóng nan thu/ Học như nghịch thủy hành chu bất tiến tất thoái (Tấm lòng như người cưỡi ngựa ở đất bằng, dễ phóng đi nhưng khó ghì cương lại/ Sự học như người chèo thuyền ngược nước, không tiến lên ắt sẽ thụt lùi).


Cái hay của câu đối trước mộ Trịnh Hoài Đức là thu gọn từ vựng câu đối 7 chữ còn 5 chữ mỗi vế (vốn rất khó trong thuật đăng đối) mà thể hiện sáng tạo bài học luân lý có triết lý giáo dục: Con người phải biết nén lòng, làm chủ được cái tâm của mình. Sự học phải biết cầu tiến, vượt khó để không tụt hậu. Nội dung các câu đối phù hợp với triết lý sống của Trịnh Hoài Đức, là bài học quý cho người hậu thế.


Tịnh Hà

Võ đường họ Mã trên đất Biên Hòa

đăng 20:54, 27 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cây bằng lăng nhỏ, nơi bà Chi đặt quán cà phê “cóc” trên đường 30-4 (hẻm 39, KP.3, phường Trung Dũng, TP.Biên Hòa), giờ to bằng một vòng tay. Thời gian cây trưởng thành cũng là từng đó năm thầy, trò phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn ở Biên Hòa chọn điểm này ngồi nhâm nhi cà phê tiếp giao bạn bè, môn đệ vào các buổi sáng. 

Lão võ sư Mã Thanh Hoàng trình diễn một thế võ Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn. 


Người đầu tiên truyền bá môn võ phái Hồng Mi Đạo Nhơn vào Biên Hòa là lão võ sư Mã Thanh Hoàng (tên thật là Đinh Quốc Hưng, 76 tuổi, Chưởng môn phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn tại TP.Biên Hòa). 

* Gắn bó với võ thuật cổ truyền 

Năm 1951, mới 9 tuổi lão võ sư Mã Thanh Hoàng được cha gửi về Sài Gòn để vừa học võ vừa học chữ. Nhờ mối quan hệ của cha, lão võ sư Hoàng được thọ giáo cố võ sư Mã Thanh Long cho đến khi ông đỗ tú tài 1 (tú tài bán phần). 

Được sư phụ cho phép vào năm 1968, lão võ sư Hoàng về lại vùng đất Biên Hòa để học tiếp tú tài 2 (tú tài toàn phần) và mở lò dạy võ cho con em lao động tại xã Bình Trước (nay thuộc TP.Biên Hòa). Sau khi đỗ tú tài 2, lão võ sư Hoàng xin vào làm viên chức tỉnh Biên Hòa, đồng thời vẫn tiếp tục nghiệp võ. 

Lớp đệ tử đầu tiên của lão võ sư Hoàng có khoảng 30 võ sinh. Các võ sinh đa phần là con em lao động, tiểu thương và cả trẻ bụi đời. Võ sinh thuộc gia đình có điều kiện thì lão võ sư Hoàng thu học phí, võ sinh nhà nghèo, trẻ lang thang, cơ nhỡ thì võ sư Hoàng nhận dạy miễn phí. 

Thời điểm năm 1968, khi võ đường phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn của võ sư Hoàng xuất hiện thì phong trào võ cổ truyền ở vùng đất Biên Hòa phát triển rất mạnh mẽ với sự có mặt của rất nhiều môn phái tên tuổi như: Tây Sơn Xuân Bình võ đạo (của võ sư Xuân Bình); Đông Sơn Hòa (của võ sư Châu Sà Mách); Bảo Long Tam Nhạn (của võ sư Hoàng Thiện Chí); Lam Sơn võ thuật đạo (của võ sư Nguyễn Văn Du)... 

Võ sư Hoàng kể ngày đầu mở võ đường chiêu nạp môn sinh ông cũng gặp rất nhiều khó khăn, điểm tập lúc thì được mở nơi tòa thị chính, lúc tại nơi khu phố nghèo, lúc thì chuyển về nhà cha mẹ để dạy... Tuy vậy, võ sư Hoàng cũng sớm đào tạo được đội ngũ môn sinh kế cận làm rạng danh môn phái như: võ sư, huấn luyện viên Mã Thanh Sơn, Mã Thanh Phát, Mã Thanh Lộc, Mã Thanh Châu, Mã Thanh Hiền... Trong số các học trò của lão võ sư, có người là liệt sĩ, cựu chiến binh, huấn luyện viên quốc gia. 

Sau năm 1975, các võ đường, phòng tập họ Mã trên địa bàn tỉnh xuất hiện ngày càng nhiều. Đến nay, lão võ sư Hoàng tự hào việc ông đã đào tạo được trên 20 võ sư cho môn phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn tại võ đường. Từ đó, các học trò của ông tiếp tục phát triển thêm hàng chục phòng tập trong và ngoài tỉnh với môn sinh hàng ngàn người, góp phần làm rạng danh tên tuổi của cố võ sư Mã Thanh Long. 

* Trọng nghĩa khinh tài 

“Cao nhân tắc hữu, cao nhân trị” câu thành ngữ này ngụ ý nói rằng “người giỏi ắt có người giỏi hơn”. Vốn là “cây đa, cây đề” trong giới võ thuật đất Biên Hòa, lão võ sư Hoàng càng ghét thói tự phụ, kiêu căng, khoe tài. Chính vì vậy, lão võ sư Hoàng luôn răn dạy đồ đệ luôn biết “trọng nghĩa khinh tài”, coi trọng đạo nghĩa, không màng vật chất, dùng võ thuật giúp người thế cô chứ không được bạo ác, bạo tàn. 

Lão võ sư Mã Thanh Hoàng cùng các môn sinh luyện tập vào năm 1969 tại Biên Hòa. 


Thời xưa, cha lão võ sư Hoàng theo nghề thuốc giúp dân nghèo vẫn nuôi được đàn con học hành tử tế. Còn lão võ sư Hoàng vì theo nghề võ nên đến bây giờ vẫn khó khăn, cuộc sống dựa vào đồng lương hưu trí và sự hiếu thảo của các con, các trò. Lão võ sư Hoàng tâm sự thời còn làm viên chức, lương của ông mỗi tháng dư mua 1 xe Honda Dame 50cc. Tuy vậy, vì phải bỏ chi phí ra lo cho học trò nghèo, phong trào nên lão võ sư Hoàng chẳng tích cóp được gì riêng cho bản thân. 


Hồng Mi Đạo Nhơn có nguồn gốc từ Thiếu lâm Trung Hoa thuộc chi phái Hồng Mi do Mã Thanh Khôn sáng lập tại Đài Loan (Trung Quốc). Người đưa võ học Thiếu lâm Hồng Mi vào Việt Nam là Huỳnh Kim Hên (tên hiệu là Mã Thanh Long, sinh năm 1910, mất năm 1976), là thầy của lão võ sư Mã Thanh Hoàng. Tiếp nối truyền thống môn phái, lão võ sư Hoàng cùng các đồ đệ tiếp tục đưa môn phái Thiếu lâm Hồng Mi Đạo Nhơn hòa nhập vào Hội Võ thuật cổ truyền tỉnh Đồng Nai và Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam.

 Cái mà lão võ sư Hoàng có được giờ không phải tiền tài mà là uy đức. Bởi vì, ông luôn biết lấy chữ “nhẫn” làm đầu khi xử lý tình huống. Lão võ sư Hoàng kể lúc ông mới mở võ đường, một võ sư người Hàn Quốc hỏi ông có biết công phá không? Ông trả lời không. Rồi ông lấy nửa cục gạch cầm trên tay và hạ tấn thấp để cho vị võ sư kia công phá. Nắm đấm của vị võ sư Hàn Quốc đánh ra, lão võ sư Hoàng nhanh nhẹn lách người và đưa đầu gạch vào mang tai đối phương rồi khẽ nói: “Con nhà võ không phải là cây cột điện, cây chuối đứng im cho người khác dùng sức công phá”. Cách xử sự của lão võ sư Hoàng làm vị võ sư Hàn Quốc kinh ngạc, thán phục về sự khiêm tốn của ông. 

Với tâm niệm của người dạy võ, lão võ sư Hoàng cho rằng người thầy phải dạy đạo đức trước cho trò rồi mới dạy võ thuật. Bởi vì, người học võ nếu lấy võ thuật làm sức mạnh thì sức mạnh đó không vững bền. Ngược lại, người học võ nếu biết lấy tình thương, lòng nhân ái, đạo đức làm sức mạnh thì sức mạnh mới bền lâu. 

Mỗi buổi sáng, lão võ sư Mã Thanh Hoàng giữ thói quen ngồi quán cà phê cóc của bà Chi để các trò tiện thể ghé vào thăm hỏi sức khỏe, trao đổi công việc. Còn những người lao động nghèo thì tiện bề gặp gỡ lão sư phụ họ Mã xin thuốc xoa bóp, trị thương vì biết tính ông quen với việc “lấy phú tế bần” (chỉ lấy tiền thuốc của người khá để hỗ trợ lại người nghèo) mấy chục năm nay. 

Đoàn Phú

Cổ thụ xanh tươi suốt 7 thế kỷ ở rừng Cát Tiên

đăng 02:32, 26 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cổ thụ Gõ đỏ tại Vườn quốc gia Cát Tiên là loài gỗ quý, thuộc danh mục nguy cấp, cần được bảo vệ. Trải qua 7 thế kỷ, cây vẫn xanh tốt và được canh giữ nghiêm ngặt. 

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, cây Gõ đỏ tại Vườn quốc gia Cát Tiên (huyện Tân Phú, Đồng Nai) đã hơn 700 tuổi, cao 30 m và có đường kính thân ở phần dưới gần 4 m. 


Cổ thụ 700 tuổi thuộc loài Gõ đỏ Afzelia Xylocarpa. Loài cây này phân bổ chủ yếu ở rừng Việt Nam và các nước Lào, Thái Lan, Campuchia. Gõ đỏ là loài gỗ quý hiếm thuộc danh mục nguy cấp, cần được bảo vệ, có tên trong sách đỏ Việt Nam. 


Cổ thụ sống qua 7 thế kỷ còn có tên gọi khác là "cây Gõ bác Đồng". Theo cán bộ kiểm lâm làm việc tại Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên, 27 năm trước (1988), cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng về công tác tại vườn và đến thăm cây Gõ. Thấy cây phát triển tốt, ông khen ngợi và khuyên cán bộ vườn phát huy tinh thần bảo vệ rừng. Về sau, cán bộ vườn quyết định đặt tên cho cổ thụ là "cây Gõ bác Đồng" để kỷ niệm và nhắc nhở thế hệ sau về trách nhiệm giữ rừng. 


Ở độ cao 5 m, thân cổ thụ chia thành nhiều ngọn với tán lá xum xuê. Nhiều loài chim thường kéo về cây làm tổ, trú ngụ. 


Rêu mọc kín trên thân cổ thụ. 


Để giúp du khách có điều kiện vào thăm cây Gõ 700 tuổi, ngành chức năng sử dụng đá ong ghép thành con đường nhỏ nối từ đường bộ hành bìa rừng đến gốc cây. Con đường quanh co trong rừng rậm luôn phủ kín rêu xanh. 


Trên thân cổ thụ có nhiều loài thực vật sống ký sinh. 


Vỏ cây ẩm ướt có rêu mọc tạo điều kiện để nhiều côn trùng ẩn nấp, sinh sống. Ngành chức năng cho du khách tham quan cổ thụ nhưng cấm các hành vi săn bắt, can thiệp vào sự phát triển tự nhiên của cây và các sinh vật. 


Trải qua 7 thế kỷ, cây Gõ đỏ vẫn xanh tốt và trở thành "báu vật" của VQG Cát Tiên. 


Bộ rễ của cây cắm chặt vào đất giúp cây đứng vững trong nhiều thế kỷ. Nhiều rễ nổi trên mặt đất, có đường kính gần 0,8 m. 


Trên cổ thụ, nhiều thân của loài dây leo có đường kính gần 20 cm cuốn chặt vào cây. 


Ông Nguyễn Văn Diện, Giám đốc Vườn quốc gia Cát Tiên cho biết, cây Gõ bác Đồng được cán bộ vườn lập hồ sơ theo dõi và quản lý nghiêm ngặt. Cây sinh trưởng tốt vì môi trường tự nhiên được đảm bảo. Những năm gần đây, Trung tâm Giáo dục môi trường và dịch vụ (VQG Cát Tiên) tổ chức tuyến tham quan cây Gõ để tuyên truyền đến du khách ý thức bảo vệ rừng. Nhiều chuyên gia, trung tâm bảo tồn thiên nhiên trên thế giới về thăm và nghiên cứu cổ thụ 700 tuổi. 


Ngọc An

Đồng Nai, nơi nổi danh kèn đồng

đăng 01:17, 26 thg 12, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nếu bây giờ cần một dàn nhạc kèn có quy mô hơn 1.500 nhạc công để biểu diễn thì ở Việt Nam, trừ quân đội với những dàn quân nhạc chuyên nghiệp, chỉ có Đồng Nai là địa phương duy nhất có thể huy động được. 

Trong khi nhạc công của các đoàn quân nhạc đều do Nhà nước, quân đội đào tạo chính quy và ăn lương như những chiến sĩ thì nhạc công kèn ở Đồng Nai chủ yếu là nông dân. Từ niềm say mê âm nhạc, họ tự trang bị nhạc cụ và chấp nhận gian khổ học kèn.

Bỏ trăm triệu sắm kèn 

Hiện nay, một nhạc cụ trong dàn nhạc kèn thường có giá dao động từ 3 triệu đến 70 triệu đồng tùy loại. Nhưng trong từng loại nhạc cụ, giá cũng dao động tùy hãng/nước sản xuất, tùy “đời”, như saxophone chẳng hạn, có chiếc 10 triệu đồng nhưng cũng có cái đến 50 triệu đồng. Loại kèn rẻ nhất trong một dàn nhạc, kèn đã qua sử dụng nhiều năm, nếu mua lại cũng có giá không dưới 5 triệu đồng. Cả tỉnh Đồng Nai hiện có hơn 50 đội nhạc kèn từ các xứ đạo Thiên Chúa tập trung ở các khu vực Kiệm Tân (huyện Thống Nhất), Hố Nai, Tân Mai, Tam Hiệp (TP Biên Hòa), mỗi đội kèn có số lượng, quy mô nhạc công khác nhau. Đội ít nhất khoảng 20 người. Những đội nhạc kèn lớn ở các giáo xứ như Dốc Mơ, Đức Long, Tân Mai, Ngọc Đồng… có trên 70 nhạc công. Nếu lấy bình quân mỗi đội có 30 nhạc công và mỗi cây kèn trị giá 5 triệu đồng thì tổng tài sản nhạc cụ kèn ở Đồng Nai đã là 7,5 tỉ đồng! 

Ông Phan Trung Tâm, 84 tuổi, trưởng ban nhạc kèn giáo xứ Dốc Mơ (xã Gia Tân, huyện Thống Nhất), hiện còn giữ được nhiều cây kèn đã xuất hiện tại Việt Nam hơn 3/4 thế kỷ. Ông nói rằng đó là những bảo vật vô giá, không bao giờ bán. Đa phần các loại kèn như trompet, clarinet, saxo, contrabass, trombone, econ… trong các dàn nhạc ở Đồng Nai được sản xuất từ Pháp, Đức và có tuổi đời khá cao. Một số kèn mới trang bị sau này có xuất xứ từ Hàn Quốc, Trung Quốc thường có giá mềm hơn kèn… Tây. 

Chưa có một thống kê chính thức để có thể hình dung về quy mô tài sản của người dân Đồng Nai từ sinh hoạt âm nhạc này bởi đây là việc làm khó. Nhưng đánh giá đầy đủ gia tài văn hóa phi vật thể này như tay nghề của hàng ngàn nhạc công không chuyên, trình độ biểu diễn của những ban nhạc kèn dân lập mà Nhà nước không tốn công đào tạo và đầu tư ở Đồng Nai… lại càng khó hơn. 

Những “nghệ sĩ nông dân” Đồng Nai trong một buổi tập thổi kèn đồng.


Ông Phan Trung Tâm và cây kèn được ông mang từ miền Bắc vào năm 1954. 


Vỏ nông dân, hồn nghệ sĩ

Năm 1989, lần đầu tiên ở Đồng Nai, một liên hoan đồng ca hợp xướng đã đưa lên sàn diễn hàng ngàn diễn viên không chuyên mà theo đánh giá của giới chuyên môn, trình độ biễu diễn loại hình âm nhạc bác học này của họ không quá chênh với giới chuyên nghiệp. 

Từ liên hoan này và nhiều liên hoan sau đó, đồng ca - hợp xướng được biết đến như là thế mạnh đặc biệt trong đời sống văn hóa ở Đồng Nai bên cạnh nhạc kèn, xuất phát từ đặc điểm của một tỉnh có tỉ lệ đồng bào theo đạo Thiên Chúa cao nhất nước. 

Cũng từ nỗ lực của ngành văn hóa cách nay gần 20 năm, một số liên hoan nhạc kèn đã được tổ chức tại Đồng Nai. Dàn nhạc kèn của giáo xứ Ngọc Đồng (phường Tân Hòa, TP Biên Hòa) đã được chọn đại diện Đồng Nai tham gia liên hoan nhạc kèn chuyên nghiệp toàn quốc và giành được giải đặc biệt. 

Nhiều năm qua, các đội nhạc kèn ở Đồng Nai bên cạnh phục vụ các nghi thức tôn giáo dịp lễ lớn cũng còn tham gia biểu diễn cho địa phương trong các sự kiện quan trọng như bầu cử, giao quân, lễ đón nhận các giải thưởng, tham gia nhiều hoạt động văn nghệ của địa phương và giúp đỡ bà con nhân dân trong các dịp tang ma, cưới xin… Nhiều nhạc công các đội kèn đã trở thành các hạt nhân văn nghệ quần chúng cũng như nhạc công chuyên nghiệp ở Đồng Nai trong hơn 30 năm qua. 

Anh Lâm Quang Đăng sinh năm 1960, học thổi kèn từ năm 11 tuổi, đến nay chơi được cả clarinet lẫn saxophone cho đội kèn giáo xứ Dốc Mơ (xã Gia Tân, huyện Thống Nhất) cho biết: “Nhạc kèn là nghệ thuật tập thể nên từng cá nhân phải tập luyện thường xuyên và cả đội phải luôn tập với nhau dưới sự chỉ đạo của một người giỏi chuyên môn nên rất vất vả”. 

Có thể nói đối với hầu hết nhạc công không chuyên ở Đồng Nai, nhạc kèn là niềm vui, niềm yêu thích và cả sự hy sinh! Hy sinh đầu tiên là bỏ tiền sắm kèn, mặc dù cũng có một số nơi nhạc cụ kèn là tài sản chung của giáo xứ hoặc do giáo dân đang ở nước ngoài gửi tặng. Hy sinh lớn nhất của các nhạc công là mất nhiều thời gian tập dượt trong điều kiện thiếu thốn và phục vụ không có thù lao. Họ giống như những nghệ nhân dân gian dù biểu diễn loại hình âm nhạc bác học, những nghệ nhân chỉ hưởng “thù lao” bằng tiếng vỗ tay, bằng niềm yêu quý của bà con trong thôn xóm, họ đạo. Và có lẽ đó cũng là lý do hiện nay nhiều bạn trẻ không thích đến với nhạc kèn theo niềm yêu thích của các thế hệ cha anh mình. 

Nguy cơ mai một 

Tuổi đời bình quân của các đội nhạc kèn ở Đồng Nai hiện nay là 52. Cá biệt có nhiều đội kèn như ban kèn xứ Gia Yên (xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất) cả 30 thành viên đều có tuổi từ 55 trở lên! Anh Bùi Đức Thân, đội trưởng đội kèn Gia Yên, giải thích: “Kèn là nhạc cụ đơn âm trong khi ngày nay có quá nhiều nhạc cụ điện tử hiện đại dễ học nên đa số thanh niên không hào hứng học kèn. Với lại họ thấy vào đội kèn thì không có quyền lợi gì mà mất quá nhiều thời gian tập dượt, phục vụ”. 

Anh Bùi Thế Thông, một nhạc sĩ hiện sinh sống ở vùng Kiệm Tân, cũng nhận định: “Chất lượng chuyên môn của nhiều đội kèn ở Đồng Nai hiện nay còn yếu và khó nâng lên được vì anh em vẫn tập với bài bản cũ. Những người có học hành tử tế về âm nhạc trước đây để chỉ đạo các đội kèn đã lần lượt qua đời. Các bạn trẻ thì không muốn theo nhạc kèn vì giờ họ có quá nhiều thứ để chơi. Học saxo ở TP.HCM may ra có thể biểu diễn sân khấu chứ ở vùng quê thì làm gì kiếm ra tiền. Nhưng thực ra đây không phải là lý do chính vì đa phần anh em tham gia hội kèn mấy chục năm nay đều mang tinh thần phục vụ giáo hội”. 

Khó có thể lý giải hết những nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mai một do không có lực lượng kế thừa của đời sống nhạc kèn ở Đồng Nai. Anh Bùi Đức Thân nói thêm: “Thời chúng tôi còn trẻ thì ngành văn hóa có tổ chức các liên hoan kèn cũng sôi nổi. Phong trào lúc đó lên lắm nhờ các địa phương cạnh tranh nhau. Nhưng cách tổ chức còn máy móc, ví dụ như quy định số bài nhạc tham gia thi quá hạn chế và điều đáng nói nhất là giải thưởng… không đủ tiền cho anh em uống nước trong một buổi tập nên sau này khi tổ chức tiếp thì anh em không muốn tham gia nữa. Có thể nói anh em nhạc kèn ở Đồng Nai chưa thực sự có một “sân chơi” để cọ xát, giao lưu và phục vụ…”. 

Nhiều năm qua nhạc kèn đã có những đóng góp trong đời sống văn hóa tinh thần của người Đồng Nai. Sinh hoạt âm nhạc cũng như đội ngũ những người chơi kèn không chuyên ở Đồng Nai là những tài sản văn hóa đặc biệt cần được giữ gìn và phát huy. 

Nhạc kèn đối với nhiều nơi trên thế giới là món hàng sang trọng nhưng ở Đồng Nai nó có sức sống mãnh liệt trong đời sống bình dân. Điểm độc đáo ấy xem ra sẽ bị đánh mất trong một thời gian không xa nữa nếu hôm nay những giá trị ấy chưa được đặt đúng chỗ… 

Loại kèn oai hùng kén người chơi


Dàn nhạc kèn thường gồm các nhạc khí thuộc bộ kèn gỗ và kèn đồng, kèm theo một ít nhạc khí gõ, không dùng đến bộ dây. Thành phần gồm: oboe, clarinet, basson, saxophone, cornes, trompet, trombone, các nhạc khí bộ gõ như trống, cymbales. Dàn nhạc kèn ở các xứ đạo trong tỉnh Đồng Nai thiên về nhạc kèn đồng (ochestre fanfare) hơn. Khá giống với  các dàn nhạc quân đội, kèn đồng chiếm vị trí chủ yếu để tạo âm lượng lớn, tiếng vang xa, mạnh về ngợi ca, hành khúc, sự trang trọng, lễ nghi…


Không phải ai cũng chơi được nhạc kèn. Một số nhạc cụ như trompet chẳng hạn cũng cần có sức khỏe tốt, biết lấy hơi bụng. Và mỗi người học kèn thì sẽ chọn một số loại kèn phù hợp với… miệng của mình.



PHAN VĂN TÚ 

Nguyễn Tất Nhiên: Một đời thơ bi thiết

đăng 01:58, 7 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:59, 7 thg 6, 2017 ]

Nguyễn Tất Nhiên là một hiện tượng của văn học miền Nam những năm 1970-1975. Tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 18 tuổi, với những hình ảnh và ngôn từ khá lạ lẫm. Ngay lập tức, một số bài trong tập thơ này đã được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ bài Vì tôi là linh mục tuyệt hay: “Vì tôi là linh mục/ Giảng lời tình nhân gian.../ Một tín đồ duy nhất/ Đã thiêu hủy lầu chuông…/ Vì tôi là linh mục/ Không biết rửa tội người/ Nên âm thầm lúc chết/ Tội mình còn thâm vai”… Riêng nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ một loạt thơ Nguyễn Tất Nhiên thành những ca khúc rất được yêu thích.

Đòi nhuận bút những bài thơ phổ nhạc

Tôi quen Nguyễn Tất Nhiên khoảng đầu năm 1971, khi Nhiên đến tòa soạn tặng tôi tập thơ Thiên tai. Sau đó tôi thường gặp Nhiên ở nhà Du Tử Lê. Gọi là nhà nhưng đó chỉ là một căn phòng nhỏ trong cư xá Bưu Điện, đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai), nơi vợ chồng Du Tử Lê thuê ở tạm trong thời gian chờ mua nhà ở làng báo chí. Căn phòng chỉ rộng chừng vài chục mét vuông mà chị Thụy Châu, vợ Du Tử Lê, vừa làm nơi nấu nướng, ăn ngủ, tiếp khách. Vậy mà mỗi lần Nhiên đến ngủ lại, chiếm cái bàn viết của anh Lê, ngồi làm thơ, cả đêm uống trà, cà phê, hút thuốc khói bay mù mịt cả căn phòng. 

Theo lời Du Tử Lê thì anh là người chọn và đưa những bài thơ Nguyễn Tất Nhiên cho Phạm Duy phổ nhạc. Nổi tiếng nhưng Nhiên vẫn nghèo kiết xác. Rồi không biết ai “xúi” Nhiên đòi Phạm Duy trả tác quyền mấy bài thơ phổ nhạc bởi Nhiên khá ngây thơ, chẳng quan tâm chuyện gì ngoài chuyện làm thơ. Về sau tôi mới biết là do Lê Cung Bắc. Lê Cung Bắc kể chuyện anh quen Nhiên: Một lần anh đến Biên Hòa, vừa xuống xe thì có một thanh niên cao, gầy, rất lãng tử bước đến hỏi: “Có phải anh là Lê Cung Bắc?”, Bắc gật đầu. Lê Cung Bắc bấy giờ là diễn viên kịch nói tên tuổi, thường xuất hiện trên truyền hình nên nhiều người biết. Chàng thanh niên tự giới thiệu là Nguyễn Tất Nhiên. Bắc đã đọc và thích thơ Nhiên nên từ đó hai người thân với nhau. Biết được chuyện Phạm Duy phổ nhạc thơ Nhiên nhưng không hỏi và cũng không trả đồng nhuận bút nào, Lê Cung Bắc bèn đưa Nhiên đến gặp Chu Tử, chủ bút nhật báo Sóng Thần, bởi Bắc có tên trong nhóm chủ trương báo này. Nhà văn Chu Tử, tác giả những tiểu thuyết nổi tiếng Sống, Yêu, Ghen, Loạn… cùng gốc người Bắc và cũng trạc tuổi Phạm Duy, vốn không ưa Phạm Duy nên ông “phang” ngay một bài khá cay trên mục Ao thả vịt của ông! 

Một thời gian sau tôi thấy Nguyễn Tất Nhiên chạy một chiếc xe Honda nữ còn mới, nhìn rất tức cười. Bởi chiếc xe dành cho nữ khá thấp trong khi Nhiên cao lều khều, người gầy, chân tay dư thừa lòng khòng. Nhiên bảo tiền nhuận bút thơ mình Phạm Duy phổ nhạc đấy. Tôi cũng không hỏi thêm Phạm Duy trả hay ai trả và trả bao nhiêu. Sau này, khoảng cuối năm 1974, khi tôi gặp Phạm Duy trong lần ông lên Buôn Ma Thuột trình diễn chung với một ca sĩ du ca nổi tiếng người Mỹ, tôi hỏi chuyện này, Phạm Duy bảo chắc người in nhạc ông trả chứ ông đâu biết mặt mũi Nguyễn Tất Nhiên ra sao đâu! 

Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên (thứ hai từ trái qua) và các bằng hữu tại tư gia ở Westminster, Hoa Kỳ. 


Vẫn lơ ngơ chân không chạm đất 

Sau ngày 30-4-1975 vài tháng, Nguyễn Tất Nhiên từ Biên Hòa xuống Sài Gòn thăm tôi. Nhiên gầy hơn, cao lêu nghêu và đen nhẻm. Vẫn đôi dép lẹp xẹp, áo bỏ ngoài quần, trông còn lè phè hơn xưa. Nhiên bảo lúc này làm việc ở Hợp tác xã Xe lam. Bữa nay được nghỉ, Nhiên đi Sài Gòn mua ít đồ, tiện ghé thăm tôi. Tối đó Nhiên ở lại, hai thằng ngồi lai rai hết mấy xị đế ở hành lang căn gác tôi ở trọ. Và cùng ngủ ngồi bởi nơi tôi ở ghép trên đường Nguyễn Huỳnh Đức (Phú Nhuận) nhà chật chội, khá đông người, không có chỗ cho hai đứa. Từ đó tôi không gặp Nhiên. Khoảng đầu những năm 1980, tôi nghe tin Nhiên vượt biên, sang định cư ở Pháp, rồi sau lại nghe Nhiên sang Mỹ. Nhiên lấy vợ tôi không hay nhưng tin Nhiên mất tới tôi rất nhanh, qua một người bạn từ Mỹ về báo. 

Mãi đến năm 2014 tôi qua Mỹ mới được nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ và đạo diễn Nguyễn Hoàng Nam, em trai Nguyễn Tất Nhiên, đưa tôi đến thăm mộ Nhiên. Không tìm đâu ra nén nhang, tôi xin Nguyễn Lương Vỵ điếu thuốc, đốt gắn trên mộ bạn nằm dưới bóng cổ thụ trong Vườn Vĩnh Cửu, nghĩa trang Westminster, California tĩnh mịch, yên bình. 

Những câu thơ tiên tri về bi kịch cuộc đời 

Tôi được nghe kể lại, thời gian sau khi ly hôn Nguyễn Tất Nhiên sống cô độc trên chiếc xe hơi cũ, lang thang vô định. Trong xe của Nhiên lúc nào cũng có một bịch khoai tây sống để ăn tạm khi đói. Rồi một ngày người ta tìm thấy anh nằm chết trên xe đậu trong sân một ngôi chùa. Tôi nghe mà lòng nghẹn đắng, thương bạn. Tôi nhớ bạn tôi vốn có nét mặt khắc khổ, ít khi thấy hắn cười, có cười thì nụ cười méo xệch. Thơ cũng như người. Thơ Nguyễn Tất Nhiên khi trẻ là những bài thơ thất tình đã được Phạm Duy phổ nhạc. Nhân vật Duyên trong Khúc tình buồn là một bạn học lớp đệ ngũ, đệ tứ (lớp 8, lớp 9) khi mới 14-15 tuổi. Cô Bùi Thị Duyên hiện định cư ở Michigan, Hoa Kỳ. Cô cho biết chỉ là bạn học thôi nhưng Hải (NTN) thích và làm thơ tặng thì mình nhận. Nhưng vẫn thường nói với Hải bấy giờ mình mãi mãi chỉ là bạn thôi. Và Hải cũng gật đầu. Khi lớn hơn một chút, thơ Nguyễn Tất Nhiên bi thiết não lòng. Khi mới hai mươi, Nguyễn Tất Nhiên đã có những câu thơ bi thiết định mệnh: Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ/ Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian/ Phải đau theo từng hớp rượu tàn/ Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định…” (Giữa trần gian tuyệt vọng, 1972). Bốn câu thơ này được khắc trên mộ bia Nguyễn Tất Nhiên. Cả bài thơ tặng sinh nhật vợ sắp cưới cũng là những vần thơ sầu thảm như một lời tiên tri về những bi kịch sẽ đến: “Khổ đau oằn nặng sinh thời/ Yêu ai tôi chỉ có lời thở than…/ Lôi người té sấp, gian nan/ Lỗi tôi, ừ đó, muôn phần lỗi tôi!”. 

Minh khúc 90, Nguyễn Tất Nhiên làm sau khi ly hôn, nhiều câu đọc lên mà nghe nhói lòng: “Đường không gian - đã phân ly/ Đường thời gian - đã một đi không về/ Những con đường mịt sương che/ Tôi vô định lái chuyến xe mù đời/ Cu Tí ngủ gục đâu rồi?/ Băng sau nhìn lại bời bời nhớ con...”. Những câu thơ xé lòng của một thi sĩ đi đến tận cùng nỗi bi thiết. 

Chuyện cái bút danh 

Về chuyện bút danh Nguyễn Tất Nhiên, sau này tôi nghe nói sau khi Nhiên chết, ở Mỹ có người bàn tán về cái bút danh ngộ nghĩnh Nguyễn Tất Nhiên. Chính Nguyễn Tất Nhiên kể với tôi là khoảng năm 1969, lần đầu gặp Du Tử Lê, nhà thơ thần tượng của anh bấy giờ, tại quán Cái Chùa (La Pagode), Sài Gòn, anh rụt rè hỏi: “Cái bút hiệu Hoài Thi Yên Thi bạn em bảo hơi “sến” phải không anh?”. Du Tử Lê buột miệng: “Tất nhiên”. Rồi hỏi: “Họ Nguyễn hả?”. Hải gật đầu. Du Tử Lê bảo: “Thì lấy Nguyễn Tất Nhiên đi!”. Và từ đó bút danh Nguyễn Tất Nhiên đi theo anh đến hết cuộc đời như một định mệnh nghiệt ngã. Khởi đầu từ tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970 đến khi thi sĩ nằm chết lặng lẽ trong chiếc xe hơi cũ ở sân chùa khu Garden Grove, California mùa thu năm 1992, ở tuổi 40. 


Nguyễn Tất Nhiên tên thật Nguyễn Hoàng Hải, sinh năm 1952 tại Biên Hòa. Khi mới học đệ tứ (lớp 9 bây giờ) Trường Trung học Ngô Quyền, anh đã có thơ in chung trong tập Nàng thơ trong mắt. Và hai năm sau, anh có tập thơ riêng Dấu mưa qua đất. Cả hai tập thơ này đều với bút hiệu Hoài Thi Yên Thi. Tập thơ Thiên tai với bút danh Nguyễn Tất Nhiên xuất bản năm 1970 đã đưa tên tuổi anh thành một khuôn mặt đặc biệt của thi ca bấy giờ. Nguyễn Tất Nhiên có ba em trai: Nguyễn Hoàng Đệ (chết lúc nhỏ), Nguyễn Hoàng Nam hiện là đạo diễn điện ảnh và Nguyễn Hoàng Thi là ca sĩ-nhạc sĩ. Cả hai hiện định cư ở Hoa Kỳ với cha mẹ.


PHẠM CHU SA

Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh đề cử nhà trẻ Việt là 30 công trình tiêu biểu thế giới

đăng 19:06, 6 thg 7, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Trường mầm non Những bông hoa nhỏ (Farming Kindergarten) tại phường Hóa An, Tp. Biên Hòa (Đồng Nai) đã được Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh (RIBA) đề cử vào danh sách 30 công trình kiến trúc tiêu biểu trên thế giới của năm 2016 bởi đây là trình kết hợp hài hòa với thiên nhiên và tiết kiệm năng lượng. 


Nhà trẻ Việt độc đáo này được xây dựng từ nhu cầu dành cho các con em của công nhân của Công ty sản xuất giầy da Pouchen. Nhóm kiến trúc sư Võ Trọng Nghĩa, Takashi Niwa, Masaaki Iwamoto và các cộng sự của Công ty Vo Trong Nghia Architects đã cùng nhau tạo nên một công trình xanh, bền vững hướng đến sự hòa hợp thiên nhiên và tiết kiệm năng lượng cao nhất. Họ đã lấy loại cỏ ba lá để thể hiện cho ý tưởng của mình. 

Nhìn từ trên cao, trường mầm non Những bông hoa nhỏ như là một cây cỏ ba lá với hình dạng xoắn ốc. Toàn bộ kiến trúc hình xuyến kết nối mái nhà với sân chơi tạo nên một màu xanh trải dài. Sau nhiều tháng thi công, công trình được hoàn thành vào 10/2013 trên diện tích 
3.800mvới kinh phí hơn 60 tỷ đồng.


Toàn cảnh Trường mầm non Những bông hoa nhỏ tại phường Hóa An, Tp. Biên Hòa (Đồng Nai). Ảnh: Công ty Vo Trong Nghia Architects


Mái vòng cao 1,5 tầng của nhà trẻ được giảm dần độ cao cho tới khi chạm tới mặt đất. Ảnh: Công ty Vo Trong Nghia Architects


Các phòng học và phòng chức năng đều nằm dười mái vòm. Ảnh: Thông Hải


Không gian tươi mát của Trường mầm non Những bông hoa nhỏ. Ảnh: Thông Hải


Trên 70% diện tích khuôn viên được trồng cây xanh và các loại cỏ. Ảnh: Thông Hải


Ngôi trường có thể đáp ứng được nhu cầu học tập và vui chơi cho 700 trẻ em từ 2 đến 5 tuổi. Ảnh: Thông Hải 


“Do mục đích xây dựng trường cho con em công nhân nên chúng tôi phải tính toán đến thiết kế làm sao cho chi phí thấp nhất, sử dụng vật liệu đơn giản nhưng vẫn đảm bảo các công năng và tính bền vững của công trình. Thiết kế xanh là lựa chọn tốt nhất về sự hòa hợp với thiên nhiên. Chi phí xây dựng mỗi mét vuông khoảng 500 USD, bao gồm phí hoàn thiện và trang thiết bị. Đó là chi phí thấp ở nước ta hiện nay”. 

(Kiến trúc sư Võ Trọng Nghĩa)

Trên 70% diện tích khuôn viên Trường được trồng cây xanh. Trường có 18 phòng học và những phòng chức năng như: phòng âm nhạc, hội họa, y tế, nhà bếp, thể dục, trò chơi... Ngôi trường có thể đáp ứng được nhu cầu học tập và vui chơi cho 700 trẻ em từ 2 đến 5 tuổi.

Thiết kế của ngôi trường chú trọng đến việc tiết kiệm năng lượng. Bao quanh phía ngoài các phòng là dàn cây leo xanh mướt. Tất cả các căn phòng đều được thiết kế thoáng mát, đảm bảo ánh sáng, tận dụng sự thông gió và cây xanh giảm nhu cầu sử dụng điều hòa không khí. Các thiết bị như pin năng lượng mặt trời, máy lọc nước, cửa thông gió, sử dụng nguồn nước tái tạo để tưới cây... được tận dụng để mang lại tính bền vững cao nhất cho công trình.

Điểm nhấn của trường mầm non “Những bông hoa nhỏ” là các thiết kế đều tận dụng tối đa cho việc vui chơi và học tập của các em nhỏ. Tại không gian ngoài trời, ở từng đoạn của mái vòng là từ mảng cỏ cây, những vườn rau giống như một nông trại giúp các em nhỏ có thể trải nghiệm nông nghiệp và cung cấp một phần thực phẩm sạch cho bữa ăn trong Trường. Đây cũng là sân chơi ngoài trời thú vị và rất an toàn dành cho con trẻ dù các em đang ở độ tuổi tinh nghịch vì được bảo vệ bằng một hàng rào an toàn và chắc chắn. Thiết kế xanh giáo dục cho trẻ hiểu tầm quan trọng của thiên nhiên, của nông nghiệp.


Ngôi trường được xây cho các trẻ em của công nhân của Công ty giày da Pouchen. Ảnh: Thông Hải


Giờ ăn trưa của các bạn nhỏ tại Trường mầm non Những bông hoa nhỏ. Ảnh: Thông Hải


Ba lô của trẻ từng lớp được để ngăn nắp. Ảnh: Thông Hải


Cách trang trí độc đáo ở mỗi lớp học. Ảnh: Thông Hải


Trẻ em vui chơi tại không gian ngoài trời. Ảnh: Thông Hải


Các em nhỏ vui chơi tại không gian ngoài trời của Trường mầm non Những bông hoa nhỏ. Ảnh: Thông Hải 


Với thiết kế độc đáo, tính ứng dụng cao, bền vững và không gian thiên nhiên, các kiến trúc sư hàng đầu của thế giới tại RIBA đánh giá rất cao công trình Trường mầm non Những bông hoa nhỏ và đề cử là 1 trong 30 kiến trúc tiêu biểu trên thế giới của năm. Đây là điều vinh dự khi thiết kế này đã vượt qua những thiết kế của hàng trăm công ty ở 50 quốc gia trên toàn cầu. Trước đó, công trình Trường mầm non Những Bông hoa nhỏ đã giành chiến thắng trong cuộc thi “Thiết kế của năm 2015" trên ArchDaily (Tạp chí hàng đầu về kiến trúc trên thế giới) bình chọn. Đây là cuộc bình chọn quy tụ 31.000 kiến trúc sư trên toàn thế giới tham dự với hơn 3.000 thiết kế được gửi tới tranh tài. 


RIBA là một giải thưởng kiến trúc danh giá do Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh tổ chức nhằm tôn vinh các công trình ấn tượng tại vương quốc Anh. Năm nay, Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh quyết định tổ chức giải thưởng quốc tế đầu tiên để vinh danh các tác phẩm, công trình kiến trúc trên toàn thế giới. Giải thưởng kiến trúc RIBA sẽ  được công bố vào tháng 12/2016.

 

Bài: Nguyễn Oanh - Ảnh: Thông Hải & Tư Liệu

Đời người qua nhịp trống chầu

đăng 03:17, 14 thg 12, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Kiểm tra từng chiếc đinh đóng trên thành trống, ông Hồ Văn Ổi (76 tuổi, ngụ KP.5, phường Bửu Hòa, TP.Biên Hòa) là Hương cổ (người đánh trống trong dịp lễ tế) của đình Tân Bản (KP.5, phường Bửu Hòa) nói với chúng tôi “Từ xưa, có việc gì cần họp dân đều phải đánh trống để mọi người kéo tới đình làng. Bây giờ, trống chiêng không còn sử dụng để họp dân nữa, nhưng với chúng tôi đó là một phần lịch sử không bao giờ bị lãng quên của vùng đất này…”.

Cổng đình Tân Bản. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


* Truyền đời đánh trống chầu

Trong tiết trời đầu xuân mát dịu, ông Ổi chậm rãi thắp nhang trầm ở các lư hương bên trong đình, rồi khệ nệ khiêng cái trống chầu ra ngoài sân để lau bụi. “Trống là linh hồn của các buổi lễ tế, là thứ được gióng lên ngoài trận tiền, trong các dịp lễ hội, vì vậy trống phải thường xuyên được kiểm tra để tránh gặp sự cố trong khi sử dụng. Như cái trống này, theo như những người giữ đình đời trước kể lại thì nó đã có từ lúc đình được nhận sắc phong của vua Tự Đức vào năm 1852, tôi cũng không rõ lắm mà chỉ biết nó đã được sử dụng từ rất lâu rồi…”, ông Ổi đưa tôi xem những chiếc trống đang được cất giữ trong đình.

Ông Võ Văn Hoàng, Chánh tế đình Tân Bản khai trống đầu xuân vào mùng 4 tết.


Không nhớ từ lúc nào mà gia đình ông Hồ Văn Ổi đã nhiều đời giữ chức Hương cổ ở đình Tân Bản. Chỉ biết từ khi còn rất nhỏ, ông say sưa coi ông nội mình đánh trống mỗi dịp lễ và hát bội trong đình. Rồi cha ông cũng là chức sắc trong đình làng, giờ tới phiên ông lại tiếp tục đảm nhận công việc đó. “Truyền thống rồi cậu à, con tôi sang năm cũng ra phụ việc ở đình làng, phải là những người có tuổi, ít nhất là hơn 50, khi đã có những trải nghiệm của một nửa đời người rồi mới ra làm việc cho làng được. Giữ đình, làm lễ phải lựa những người nào thực sự gắn bó với đất, với người nơi đây thì họ mới dành hết tâm huyết cho việc chung của làng được…” - ông Ổi tâm sự.


“Người đánh trống chầu là người phải nắm tất cả những nghi lễ của đình, vì vậy phải trải qua thời gian làm Chánh tế trong đình rồi mới được làm Hương cổ. Từ khi trở thành chức sắc trong đình, phải mất thêm 12 năm nữa để trở thành người đánh trống trong mỗi buổi tế…” - ông Hồ Văn Mai cho biết.
Để được giữ vị trí Hương cổ phải mất gần 20 năm tham gia việc làng, từ thành viên tới chức việc, chức sắc rồi sau cùng là Hương cổ. Ông Ổi đã tham gia việc làng ở đình Tân Bản từ những năm 90 của thế kỷ trước, ông cho biết cái khó trong việc đánh trống chầu là phải nắm bắt được hết khi nào thì phải đánh, khi nào thì ngưng, phải theo trình tự trong khi hành lễ.

Trống có nhiều loại, dùng cho những dịp, những việc khác nhau, trống tế, trống chầu, trống đại… và mỗi loại trống đều có một cách đánh riêng, một tư thế đánh sao cho tiếng trống vang xa nhất. “Thực ra không có nhiều quy định về kích thước của các loại trống, chỉ là người đời trước truyền lại thì người đời sau cứ giữ lấy thôi. Trống chầu ở đình chúng tôi thì có từ rất lâu rồi, trống được làm từ thân cây gỗ nguyên, đục ruột rồi phủ da trâu lên đó. Vì vậy âm thanh của chiếc trống này rất đặc biệt và dĩ nhiên là chỉ sử dụng trong những dịp lễ hay có đoàn hát tới. Còn khi dùng trong việc cúng tế thì phải sử dụng trống riêng” - ông Hồ Văn Mai (68 tuổi, ngụ K.P5, phường Bửu Hòa) em họ ông Ổi, Hương cổ đình làng Tân Bản, cho biết.

* Một thời vàng son

Đình Tân Bản. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Ông Ổi cất chiếc trống đã được lau xong vào trong đình rồi quay sang nói chuyện với chúng tôi, ông kể mỗi lần có gánh hát về diễn, người cầm chầu phải ăn mặc nghiêm chỉnh với áo thụng, khăn chít đầu, ngồi trước hàng khán giả, gần sân khấu và phải nhìn thấy tận hai bên “cánh gà”. Khi đó, người cầm chầu là đại diện cho ý kiến của bà con, của chức sắc trong làng và có nhiệm vụ “thưởng chầu” cho đào kép trong suốt quá trình hát. “Người ta nói cầm chầu là một trong bốn cái dại, vì nếu trong lúc đào kép hát mà chấp sự “thưởng chầu” không đúng lúc hoặc không đúng nhịp thì ra về sẽ bị đoàn hát trách móc. Nếu nặng hơn thì đoàn hát giận không quay lại hát cho làng nghe nữa. Đó cũng là lý do tại sao phải mất gần 20 năm mới được giữ vị trí Hương cổ trong làng. Mấy người trẻ quá nhiều khi mê coi hát, mê cô đào lại bỏ quên việc chính của mình là “thưởng chầu” cho họ, ra về họ giận thì lại mất vui…” - ông Ổi cười, kể lại cho chúng tôi nghe những chuyện ngày còn nhỏ ông đi coi hát ở đình.

Tới đúng giờ hát, chấp sự hai tay cầm hai dùi trống quay mặt hướng về đình vái thần và chào khán giả rồi ngồi xuống cầm chầu, mặt hướng về sân khấu. Suốt buổi hát, chấp sự túc trực xem để điều khiển tiếng trống và quan trọng nhất là phải biết “thưởng chầu” đúng lúc để tỏ thái độ tôn trọng và khích lệ người diễn. Một đoạn diễn hay, một khúc hát được mọi người tán thưởng, nhưng phải có tiếng “thưởng chầu” vang lên đều đặn thì mới thật sự là một đêm diễn thành công. 

Chấp sự cầm chầu phải nắm chắc kiến thức về nghệ thuật hát bội, vì cần phải chủ động điểm câu cho nghệ sĩ rất chuẩn. Đến những những đoạn cao trào, khi câu hát ngân lên rồi thả xuống, hoặc khi diễn viên thể hiện chi tiết đắt giá, tiếng trống chầu không đơn giản chỉ vang lên từng tràng dài mà nhịp trống còn phải có sức dồn nén, hối hả và lay động. Người cầm chầu chính là người góp phần làm tăng sức hấp dẫn của một buổi diễn.

Nhà vỏ ca đình Tân Bản. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Ông Bùi Văn Lang (71 tuổi, ngụ KP.5, phường Bửu Hòa) là Hương lễ của đình Tân Bản nói thêm, phần lớn Hương cổ trong đình phải là người có sức khỏe tốt vì trong lúc hành lễ phải đánh trống suốt 2 tiếng đồng hồ. Thường những người giữ chức Hương cổ đều vào độ tuổi 70 nên sức khỏe không còn như lúc mới vào làm việc trong đình. “Mới hôm trước đi đám tang, có ông vì không chịu nổi nhang khói mà trong lúc đánh trống bị ngất xỉu phải đem ra ngoài cho thoáng mới tỉnh lại được đó. Ở vị trí nào thì sức khỏe cũng là điều quan trọng, không thể đang cử hành lễ mà ông Hương cổ lại ngất xỉu được nên chúng tôi phải luôn có người túc trực để thay thế khi có chuyện xảy ra” - ông Lang cho biết.
Khi ban quý tế đình Tân Bản đến đông đủ, bên bình nước trà, mọi người bắt đầu nói chuyện về tết của gia đình mỗi người. Nhưng khi nhắc đến chuyện mời gánh hát về diễn cho bà con xem thì không khí bỗng dưng chùng xuống, mỗi người đều thở dài có vẻ như luyến tiếc. Thấy chúng tôi không hiểu, ông Ổi giải thích: “Ngày xưa còn có đông người coi, trẻ con hồi đó cũng thích đi xem hát như người lớn chứ không như bây giờ. Hát bội phần lớn diễn vào buổi tối, đến khuya mới xong, giờ chỉ còn người già đến coi, nhiều lúc họ mệt rồi bỏ về chỉ còn đào hát ở trên sân khấu, chấp sự cầm chầu và vài người chịu khó ở lại. Lắm lúc nghĩ mà buồn nhưng không trách ai được, thời đại giờ có nhiều thứ hấp dẫn hơn là đi xem hát. Một lần mời đoàn hát về là tốn rất nhiều tiền, nếu như bà con ai cũng chịu coi thì chúng tôi cũng cố gắng vận động mọi người đóng góp để mời đoàn hát về cho bằng được. Nhưng còn mấy ai thích coi nữa ngoài mấy ông già chúng tôi…” - ông Ổi thở dài luyến tiếc.

Thường thì phải mất nhiều năm để một người mới vào có thể nắm được hết những quy tắc trong việc đánh trống dịp lễ tế. Và còn mất nhiều năm hơn nữa mới có thể tự tin cầm chầu ở những đêm hát bội, vì chấp sự không chỉ là người “thưởng chầu” mà còn là người giữ “linh hồn” cho cả buổi diễn, là người chắp mối liên hệ giữa người diễn và người xem. “Đó, khổ vậy đó mà thằng cháu tôi ở nhà vẫn đòi tôi nói ông Ổi dạy đánh trống để sau này được cầm chầu…” - ông Lang cười rất tươi, một không khí vui vẻ át đi những tiếng thở dài luyến tiếc vừa rồi.

Nắng vẫn vàng ươm trên tán lá xum xuê che mát sân đình, trước mắt tôi những người ở bên kia cái dốc cuộc đời đang âm thầm gìn giữ những giá trị văn hóa, lịch sử của vùng đất này.

Đăng Tùng

Bác sĩ Nguyễn văn Hoài, Người thầy thuốc hiến trọn đời mình cho một hạng người bạc phước

đăng 19:47, 21 thg 7, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Tôi đến đó vào một buổi sáng đẹp trời nhằm lúc cuối năm.

Nắng vừa đủ để giữ lại chút lạnh ban mai, còn vương trong bầu không khí bình yên của khu nghĩa địa.

Và dưới tàng cây cổ thụ, phần mộ của người bác sĩ giám đốc Việt đầu tiên của Dưỡng trí viện như tươi cười với lớp sơn tươi, vôi mới. Lòng tôi cũng thấy vui vui khi ngắm ảnh bán thân của người quá cố gắn ở trước mộ phần: nét mặt, đường môi tỏa một niềm thanh thản lâng lâng. Với người an nghỉ nơi đây, quả là sống ở, thác về. Sống, ở với lớp người xấu số để chăm sóc, vỗ về cả một phần tư thế kỉ, thác, về bầu bạn với mãi mãi với những bịnh nhân tứ cố vô thân hoặc quê hương cách xa diệu vợi mà đành gởi thân ở tại chốn này. Lời của bác sĩ giám đốc hiện tại bỗng trở lại trí tôi:

“Quí báo nói đến Dưỡng trí viện mà không nhắc đến bác sĩ Nguyễn Văn Hoài, là một điều chưa dầy đủ. Nếu ông không cương quyết và kiên nhẫn dùng cả lí và tình để thuyết phục người đại diện của của ủy ban nhân dân tỉnh bộ Biên Hòa thì Dưỡng trí viện này đã chịu chung một số phận với Dưỡng trí viện Vôi ở Bắc: chỉ là những đống gạch ngói ngổn ngang…”

Đêm cuối tháng 10 năm 1945 ấy, thật là đêm mà số phận của Dưỡng trí viện như chỉ mành treo chuông.

Người đại diện của ủy ban nhân dân tỉnh bộ Biên Hòa đưa ra lịnh vườn không nhà trống. Nhà, trại ở đây, quân đội Pháp viễn chinh đến đồn trú tiện lợi vô cùng, cần phải triệt phá và dời Dưỡng trí viện vô… rừng.

Người y trưởng cho biết rằng bịnh nhân người Pháp đã đưa đi xa, và đã cho ra bớt những bịnh nhân có thể sống ở ngoài. Mấy trăm bịnh nhân hiện còn nếu bỏ cái thế giới này vốn tạo ra cho họ thì thế nào cũng trở nên nguy hiểm và phá rầy xã hội thêm. Nhà cầm quyền Pháp không dại gì mà làm một việc thất nhân tâm như thế. Còn ta mà hành động như vậy là lợi cho địch trong việc tuyên truyền của chúng. Từ ngày Nhật đảo chánh, ban Quản trị đã vất vả nhiều để chạy ăn từng bữa cho mấy trăm người bịnh, một mai phải “dựng” viện dưỡng trí ở giữa rừng, thì đó là một cách giết mòn họ bằng cái đói. Chưa kể việc coi giữ họ trong hoàn cảnh ấy, gần như là không thể được. Và số người mất hẳn trí khôn hay nửa mê nửa tỉnh ấy mà đi lang thang trong rừng, bụi thì bất lợi cho cuộc chiến tranh du kích: họ sẽ vô tình tiết lộ bao nhiêu bí mật…

Người đại diện tỉnh bộ nghe xuôi tai, và khi ủy ban phải rút lui trước quân đội Pháp, Dưỡng trí viện Biên Hòa chỉ mất đi một số thuốc men, mà không mất một viên gạch, một miếng ngói nào.


Thì ngày nay, nói đến Dưỡng trí viện này mà chẳng nhắc đến người y sĩ điều trị, trong suốt mười lăm năm (1930-1945), người y trưởng giám đốc mười năm kế đó (1945-1955), quả là một điều thiếu sót, đúng như lời nhận xét của người giám đốc giờ đây.


Cho nên sau khi chúng tôi mời các bạn chuyện trò cùng giám đốc suốt một buổi sáng, sau khi đưa các bạn vào “thế giới người điên” cả một buổi chiều, chúng tôi thấy có bổn phận cùng các bạn tìm hiểu con người mà chính phủ đã lấy tên để đặt cho cái Dưỡng trí viện duy nhất của toàn nước Việt chúng ta.

Người trai Vĩnh Long (1) ấy thật là một người kì cục. Lắm người thân (trong vòng bà con cũng như trong vòng bè bạn, thuộc viên) đã nửa đùa nửa thật gán cho cái tĩnh từ …”gàn”.

Không “gàn” sao, sau sáu năm tốt nghiệp được thuyên chuyển về chẩn y viện Sài gòn (2), lại “động lòng chữ nghĩa”, tạm rời nghề thầy thuốc để sang Pháp học tại đại học đường Sorbonne.

Không “gàn” sao mà khi trở về nước, năm 1930 lại xin bổ nhậm tại nhà thương điên Biên Hòa (3), vì “không ai chịu đến nơi ấy, thì mình đến vậy”.

Nhưng một khi tự nguyện vào cái “thế giới người điên” nọ, thì người thầy thuốc tuổi vừa trên “tam thập” ấy lại tỏ ra sáng suốt hơn người thường.

Ông đọc trong sách báo, ông học ở các bậc đàn anh, ông quan sát bịnh nhân trong mấy năm trời, để quyết tâm hiến trọn đời mình làm sao cho cái “địa ngục nhốt người điên” biến thành cõi “thiên đường” cho người đi dưỡng trí.

Đường đi được sửa sang, cây cỏ bông hoa được trồng thêm, tượng mĩ thuật được đặt ở giữa bồn hoa này, ở góc vườn nhỏ nọ, các lối lại qua sạch sẽ đến đỗi một du khách ghi trong quyển sổ Vàng của viện (trang 177, ngày 25-12-1953): “Cầm một mảnh giấy con, tôi không biết bỏ vào đâu!” Và dưới thời chánh phủ quốc gia Trần Văn Hữu, người lèo lái “con thuyền dưỡng trí viện” đã cực lực tranh đấu để khỏi bớt khẩu phần bịnh nhân vì lí do: tiết kiệm ngân quĩ quốc gia.

Cố tạo một “thiên đường” vật chất, mà nhất là cố gây một “thiên đường” tâm tình.

Người bịnh bước vô đây, không còn là một “kẻ phải nhẫn nhục”, một “ca”, một “đơn vị”, mà là một tiểu vũ trụ cần phải tìm hiểu lần hồi. Và trong việc ni, ít ai chịu khó bằng con người của Khoa học, của Tâm lí học và của Thần học (4) này: hỏi thân nhân người bịnh trước, rồi hỏi người bịnh, lúc họ mê, lúc họ tỉnh, khi sáng khi họ vừa thức dậy, khi trưa họ toan nằm nghỉ và cả nửa đêm! Người thích thơ, thì có sổ để gửi gắm ý tình. Người thích vẽ, thì đã có màu, có vải…

Sự tận tụy và tình thương của người điều khiển đối với bịnh nhân đã truyền sang các nhân viên, và từ khi thời cuộc khiến ông phải “chen vai vô vác” cái gánh nặng do ông giám đốc người Pháp để lại, thì tình tương thân tương ái giữa những người có trách nhiệm trong việc sống còn của Dưỡng trí viện lại càng thêm chặt chẽ.

Vì người giám đốc Việt đầu tiên này vừa là một nhà khoa học vừa là một kẻ tu hành. Một kẻ tu hành không chấp nê, và rất tôn trọng tín ngưỡng của người khác.

Tìm hiểu hoàn cảnh mỗi thuộc viên để giúp đỡ, để khuyên lơn, ông như một người anh cả của đại gia đình Dưỡng trí viện, một người anh cả nghiêm minh và rộng lượng.

Người giám thị đầu hai thứ tóc ấy nói với tôi :

“Vì thời cuộc lộn xộn năm 1945 tôi thôi làm và lên Nam Vang tìm sanh kế. Hai năm sau, ông già bà già tôi thấy mình sắp yếu, muốn tôi về làm việc lại để gần nhau. Ông biết được, viết thơ cho tôi, rồi lo mọi giấy tờ để tôi sớm về với gia đình. Nhờ ông tận tình giúp đỡ mà tôi được gần gũi mẹ cha già và được làm lại ở đây.”

Một giám thị khác, làm lâu năm nhất, cho tôi biết, trong mấy năm “đen tối” 1946 – 47 phòng Nhì của Pháp đã phải bực mình với bác sĩ Hoài: ông cực lực binh vực nhân viên nào bị bắt một cách oan uổng. Vài nhân viên bị bắt, bị một nhà cầm quyền trong tỉnh cho tra tấn để buộc họ khai cho ông tiếp tế cho Việt Minh hầu thỏa chút hiềm riêng, nhưng không một ai chịu mở miệng khai gian cho người chủ và ân nhân của họ, một người mà họ biết rõ chỉ sống chết cho Dưỡng trí viện, không màng gì đến lợi, danh, một người mà đời như chữ I.

Chữ I ngay thẳng.
Chẳng vì ai,
Chẳng tùy ai,
Chẳng khuất ai,
Mãi mãi ta theo ánh sáng…(5)

Người y tá có tuổi ấy ngậm ngùi:

“Ông Hoài lúc nào cũng binh vực nhân viên, và nhất là người bịnh. Chính phủ hơn mười năm trước định bớt khẩu phần bịnh nhân, ông mạnh dạn chống lại: “Họ là hạng người xấu số nhất, tâm đã rối, trí đã loạn rồi nay lại làm cho bao tử họ thiếu ăn, để cho cơ thể họ suy mòn, ảnh hưởng không hay đến tâm trí họ thì có khác gì giết phức họ đâu.

“Xin cấp trên tìm cách “tiết kiệm” ở những nơi khác.”

Và nhắc đến ông, người thủ môn già ấy mơ màng :

“Tôi còn nhớ nhiều lần, có những ông già bà cả nghèo khó ở miệt dưới lên thăm con phải ở lại đêm. Ông biết được, bảo người nhà nấu cơm thêm, mời họ ăn, tặng tiền về xe, và ông nhờ y tá cho họ uống thuốc ngừa cảm vì tuổi lớn, đường xa…!”

Nắng đã chan hòa khắp khu nghĩa địa. Vài con chim sẻ ríu rít trên cây gõ lâu đời. Chiếc ảnh lớn bằng sứ của người mà đời sống đã dính liền với đời của Dưỡng trí viện như sáng lên, và cái cười nhẹ thoáng ở đôi môi sao như vừa hết sức gần người lại như vừa vô cùng thoát tục. Tôi nhớ lại đã gặp ảnh này ở nhiều nhà nhân viên trong cư xá Dưỡng trí viện, và cùng một lúc, tôi nhớ lại lời một số bịnh nhân lâu đời : “Bác sĩ Hoài à? Ổng tử tế lắm mà! Quên sao được.”

Và tôi mơ màng tưởng tượng lại cảnh nơi đây, trên bảy năm về trước, ngày 31-5-1953 (6): một cái quan tài, một đám đông người đưa, tất cả nhân viên Dưỡng trí viện thọ tang, và những bịnh nhân quỳ xuống, (7) khóc, khi quan tài chầm chậm đi qua.. Và hẳn lúc sống trên dương gian cũng như khi nằm trong lòng đất, không bao giờ người thấy cô đơn.
___________
Chú thích của tác giả:

(1) Ông sanh tại Long Châu, tỉnh Vĩnh Long, ngày 7-6-1898.

(2) Ông được bổ nhậm ngạch y sĩ ngày 16-4-1919, và được bổ nhậm ở Tây Ninh, Trảng Bàng, Tam Bình (Vĩnh Long), rồi Long Xuyên.

(3) Nhận việc ngày 16-1-1930.

(4) Ông nghiên cứu tất cả các tôn giáo, nhất là Phật giáo và quan tâm đến những gì dính líu đến siêu hình.

(5) Trích trong bài thơ “Phong hóa chữ I” của cố bác sĩ Nguyễn Văn Hoài.

(6) Ông mất sáng ngày 28-5-1955, lúc 5 giờ, vì đứt gân máu ở tim. Ông để lại các tác phẩm: Lược khảo về các vấn đề Hòa bình, 1950 (Pháp và Việt văn). Điên? Dưỡng trí viện? , 1952 (quyển sách đầu tiên của người Việt nói về bịnh điên và Dưỡng trí viện),Adolf Hitler, 1952 (xét như một bịnh nhân tâm trí, bằng Pháp văn), Về sự tổ chức Dưỡng trí viện miền Nam nước Việt, 1954 (luận về bác sĩ Y khoa, bằng Pháp văn) và nhiều bản thảo trong đó có tập : “…Từ bịnh tâm trí đến sự giết người“.

(7) Một người Pháp đưa đám nói lại với phóng viên báo Journal d’ Extrême-Orient (số 1989, ngày thứ năm 2-6-1955: “Chưa bao giờ tôi thấy người đưa đám mà trầm ngâm và đau xót thật tình như vậy!” Và một nhà mô phạm ở Đô thành, bạn và cưu bịnh nhân, đã cạo trọc đầu từ ấy đến nay để khóc người tri kỉ.

NGUIỄN NGU Í.
Nguồn : Tạp chí Bách Khoa số 149. Năm thứ 7 – Ngày 15-3-63.

 

 

 

"Vườn Kiều" độc nhất vô nhị ở Việt Nam

đăng 04:31, 3 thg 10, 2014 bởi Pham Hoai Nhan

Đền thờ cụ Nguyễn Du trong vườn Kiều


Ở khu phố 4 (phường Bình Đa, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) có khu vườn vô cùng lạ mắt mang đậm chất truyện Kiều. Người dân trong vùng vẫn quen gọi đây là “biệt thự vườn Kiều” hay vườn thơ, vườn Kiều. Chủ nhân khu vườn lạ lùng ấy vốn là nông dân nuôi heo có tiếng Phạm Văn Khoát (bút hiệu Bá Khoát, SN 1933)

Vườn Kiều độc nhất vô nhị

Về phường Bình Đa, hỏi vườn Kiều ai đều biết. Đó là khu vườn rộng chừng 3.000m2 nằm trong một con hẻm tĩnh lặng. Vừa bước vào đầu ngõ, du khách được chào đón bởi hai câu thơ: “Vườn Kiều đón khách du xuân/ Đọc thơ ngắm cảnh thương thân nàng Kiều”. Cảnh vật tại đây được chủ nhân bài trí đậm nội dung truyện Kiều như tượng Kim Trọng trên lưng ngựa, tượng hai chị em nàng Kiều e ấp trước mộ Đạm Tiên… Kế bên, chủ nhân dựng thêm tượng bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương với chú thích “Người tình của Nguyễn Du”.

Đi sâu vào vườn Kiều, sẽ bắt gặp đền thờ Đại thi hào Nguyễn Du do chính tay ông Khoát thiết kế và xây dựng. Mỗi năm vào ngày 16/9, ông và những người yêu mến truyện Kiều lại tổ chức đám giỗ tưởng nhớ tác giả Nguyễn Du tại đây. Dẫn khách đến đâu, chủ nhân đều giải thích tỉ mỉ những cảnh vật được trưng bày mang nội dung gì.

Chẳng hạn như trong truyện Kiều có loại cây nào, ông chủ khu vườn đều sưu tầm mang về trồng bằng được. Hiện cả khu vườn có hơn 100 tượng động vật, giống cây như thế. Không chỉ trang trí khu vườn bằng cây cối, ông Khoát còn xây dựng những công trình được nhắc đến trong truyện Kiều như Liễu Chương Đài, Am Các Tự hay nhà của Hoạn Thư. Dưới mỗi bức tượng hay cây cảnh đều có chú thích bằng chính thơ trích ra từ truyện Kiều. Ví như cây Mai và Trúc được chú thích: “Muôn ngàn người thấy cũng yêu/ Xôn xao anh yến, dập dìu trúc mai”. Tỉ mỉ hơn, ông Khoát còn đề rõ rõ câu thơ mình trích ra nằm ở câu thứ bao nhiêu.

Tượng chị em Thuý Kiều trước mộ Đạm Tiên


Không chỉ trong vườn, ngay tường rào cũng trở thành diện tích khắc họa ngót nghét 20 chương trong truyện Kiều. Ông không quên thanh minh, vì tường rào chỉ dài 200m nên chỉ chép đủ 20 bức điêu khắc tương đương 20 chương. Những bức tường này do chính tay ông Khoát thiết kế. Kỳ công hơn, ông chủ vườn Kiều còn cho người đào ao thả sen và xây gác nhỏ giữa hồ lấy tên “Lầu Ngưng Bích”, nơi Thuý Kiều từng ngồi ngắm cảnh. 

Ông Khoát chia sẻ cơ duyên xây dựng nên khu vườn Kiều. “Lúc 32 tuổi, tôi bị suy tim và được khuyên thường xuyên tắm biển. Mỗi năm phải tắm ít nhất 15 ngày nên có thời gian đọc truyện Kiều. Rồi dần dần tôi cảm nhận được nội dung ẩn chứa bên trong”, chủ khu vườn nói. Thế rồi ông Khoát bắt đầu nghiền ngẫm từng câu từng chữ, tìm đọc đủ 104 điển tích trong truyện Kiều. Còn về khu vườn, chủ nhân bộc bạch, có nhiều cách thể hiện tình yêu truyện Kiều như phổ nhạc, vẽ tranh. 

Riêng ông muốn lập khu vườn tạo thú vui tuổi già. Ý tưởng ấy được biến thành hiện thực vào năm 1996 khi ông dứt bỏ cơ bản công việc làm ăn và hoàn thiện trong những năm sau đó. Hiện tại chủ nhân khu vườn vẫn tiếp tục cải tạo vườn Kiều để những du khách đến đây thực sự hoà mình vào câu chuyện trong truyện Kiều, cảm nhận hết nội dung tác phẩm.
“Vua” nuôi heo trở thành chủ vườn thơ 

Bộc bạch tâm sự, ông Khoát cho biết cảm thấy rất vui từ khi nghiên cứu truyện Kiều. Càng vui hơn khi hội Kiều học là nơi trao đổi về truyện Kiều được thành lập vào năm 2011. Đây được xem là diễn đàn giới nghiên cứu đưa ra quan điểm mới nhất về tác phẩm làm nên tên tuổi Đại thi hào Nguyễn Du. Ông Khoát bật mí, ngày giỗ năm nay sẽ ra mắt văn phòng đại diện hội Kiều học ở Đồng Nai, lấy nơi làm việc là lầu Ngưng Bích.

Chân dung ông lão mê truyện Kiều


Thông tin bất ngờ ít ai biết đó là chủ vườn Kiều vốn được biết đến với biệt danh “Vua” nuôi heo. Kể về bí mật này, ông Khoát tươi cười: “Tôi nuôi heo từ năm 1963. Có được biệt danh trên nhờ vào năm 1993, đài phát thanh truyền hình Đồng Nai mời tôi diễn vai trong bộ phim “vua nuôi heo” tham dự cuộc thi sản xuất giỏi. Phim đạt được giải 3 toàn quốc. Tên gọi “Vua” nuôi heo gắn luôn vào cuộc đời từ đó. Tôi cảm thấy vui bởi tên gọi có phần kỳ quái này lại hợp với nghề nghiệp của bản thân”.

Ngoài đời thường, ai cũng thừa nhận ông Khoát xứng đáng với “chức” “Vua” nuôi heo. Từ trang trại nhỏ ban đầu, người đàn ông này đã gầy dựng thành công ty chăn nuôi Thanh Bình. Ông kể: “Tôi vốn quê ngoài miền Bắc di cư vào Nam từ năm 1954. Nhận thấy nghề nuôi heo phù hợp nên đã đeo đuổi. Lúc đầu chỉ nuôi vài chục con, sau đó tăng lên 300 con và trên 10.000 vào lúc cao điểm”. Trang trại ông Khoát từng được các đối tác nước ngoài kí kết hợp tác làm ăn. Không chỉ làm giàu cho bản thân, ông Khoát còn tạo việc làm cho người dân địa phương, giúp họ ổn định cuộc sống. 

Bất ngờ hơn khi biết người đàn ông giỏi làm kinh tế, đam mê nghệ thuật này chỉ học hết lớp 5. Ông bộc trực chia sẻ, do không thi đỗ kì thi chuyển cấp đành bỏ học vào miền Nam lập nghiệp. Thời gian này, ông Khoát kiên trì theo học hệ bổ túc nâng trình độ học vấn đến lớp 9. 

Ông mê thơ đến mức bỏ tiền túi tự thưởng cho mình chuyến xuất ngoại sang Trung Quốc, tìm đến những nơi mà nhân vật Thuý Kiều từng đi qua như Giang Tô, sông Tiền Đường, Vô Tích, Châu Thai để thoả trí tò mò. Chưa hết, ông còn tự lập bản đồ riêng về hành trình cuộc đời của nhân vật nữ “hồng nhan bạc mệnh” Thuý Kiều. Từ khi nhường chức giám đốc trại heo cho con trai, ông Khoát “bán” phần đời còn lại cho truyện Kiều. 

Giải nghệ nghề nuôi heo hơn gần 20 năm nay, nỗi trăn trở lớn nhất của ông Khoát là niềm tiếc nuối bởi trang trại do mình sáng lập đã chuyển sang nuôi gà. Giải thích việc chuyển đổi vật nuôi, ông Khoát nói: “Bây giờ người nuôi heo sử dụng thuốc tăng trưởng nhiều quá khiến những người nuôi heo trung thực như tôi không cạnh tranh lại. Bởi vậy đành thay đổi, chuyển sang nuôi gà”.

Bùi Yên

1-10 of 30

Comments