Lâm Trung trại và vụ phá khám Biên Hòa 1916

đăng 03:10, 21 thg 11, 2011 bởi Nhân Phạm Hoài   [ đã cập nhật 05:36, 21 thg 11, 2011 ]
Trong phong trào kháng Pháp ở miền Nam, có một số hội kín ra đời (mang danh nghĩa là Thiên Địa Hội). Lâm Trung trại ở Biên Hòa là một tổ chức như thế. Lâm Trung trại do một số người dân yêu nước ở tỉnh Biên Hòa cũ bí mật lập ra. Lâm Trung Trại được thành lập tại ngọn Rạch Đông (nay thuộc xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).

Thành phần sáng lập gồm có: Năm Hi (được bầu làm thủ lĩnh), Tư Hổ, Bảy Đen, Ba Hầu, Sáu Huyền (cùng ở Tân Trạch), Ba Thứ, Năm Thanh (cùng ở Tân Lương, nhưng quê gốc ở Tân Uyên), Ba Nghi, Năm Rùa (cùng ở Tân Khánh), Hai Mạnh (ở Tân Uyên), Mười Lợi (ở Lò Gạch), Hai Cẩm (ở Biên Hòa),...

Vụ phá khám Biên Hòa, 1916

Tháng 8 năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, vì Pháp phải đương đầu với Đức, nên kiệt quệ lần hồi. Do cần quân số, năm 1915 và 1916, thực dân Pháp ở Việt Nam đã nhiều lần ra lệnh bắt lính, để đưa sang đấy tham chiến. Điều này, đã làm cho người dân Việt bị áp bức thêm căm phẩn.

Nhân cơ hội đó, thành phần nồng cốt của Lâm Trung Trại quyết định mở cuộc tấn công khám đường Biên Hòa và một số nơi khác (để giải cứu số người bị bắt lính, và cũng để phân tán lực lượng của đối phương) vào đêm ngày 12 tháng Giêng (âm lịch) năm Bính Thìn (1916). Sau khi bàn bạc, các hội viên nòng cốt nhận nhiệm vụ khởi sự tại các vùng như sau:
  • Năm Hi (thủ lĩnh), Tư Hổ, Ba Hầu, Hai Lựu, Ba Vạn ở vùng Tân Trạch
  • Ba Thứ và Năm Thanh ở vùng Tân Lương.
  • Ba Nghi, Năm Rùa và Hai Sở ở vùng Tân Khánh và Bà Trà.
  • Hai Cầm ở Bến Cá.
  • Mười Lợi ở Lò Gạch.
  • Mười Sót, Mười Tiết, Bếp Đầy, Lào Lẹt (gốc người Lào), Bảy Phát, Hai Danh, cùng nhận mục tiêu chính, đó là phá khám Biên Hòa để giải cứu những tù nhân chính trị và dân lành bị bắt oan.
Cuộc khởi sự ở các nơi diễn ra đúng kế hoạch, tuy nhiên, chỉ giải cứu được một số thanh niên bị bắt lính ở Tân Khánh; và ở mũi tấn công khám Biên Hòa, nhờ nội ứng, đã giải cứu được một số tù nhân. Cũng vì thành phần ô hợp, thiếu kinh nghiệm chiến đấu, vũ khí thô sơ; nên tất cả các mũi tấn công đều bị đối phương nhanh chóng đè bẹp. Nhiều hội viên bị bắn chết và bị bắt sống tại trận. Trong số bị bắt sống, có Mười Sót và Mười Tiết, là hai người chỉ huy mũi tấn công khám đường Biên Hòa.
 
Theo phương án đã định sẵn phòng khi thất bại, số hội viên tháo chạy được liền tập trung tại chùa làng Tân Trạch (Biên Hòa). Sau đó, cả nhóm định đi tấn công đồn Sơn Đá, để giải cứu những người vừa bị bắt. Thế nhưng vừa tờ mờ sáng, quân Pháp được trang bị đầy đủ, từ tỉnh lỵ Biên Hòa đã rầm rộ kéo đến chùa. Nhờ hay trước, các hội viên đều chạy thoát. Chỉ có cụ Cả Thắm, cha của Tư Hổ, vì già yếu không chạy kịp nên bị bắt, bị tra tấn. Thương cha, Tư Hổ ra nạp mình. Sau, vì bị ruồng bố quá, Năm Hi, Ba Hầu, Hai Lựu, Lào Lẹt, Hai Sở, Ba Vạn, Bảy Phát, Hai Danh,... cũng đều lần lượt sa vào tay đối phương.

Bị xét xử
 
Tháng 3 năm 1916, tức khoảng hai tháng sau kể từ đêm nổ ra vụ phá khám Biên Hòa, tất cả số hội viên và người dân bị bắt đều bị đưa ra xét xử trước tòa “Áo đỏ” (tức Tòa đại hình của Pháp) với tội danh “phiến loạn, cướp của và giết người”. Cuối cùng, số người bị cáo buộc là chủ mưu và bị kết án nặng nhất có:
  • Án tử hình, gồm: Mười Sót, Mười Tiết, Ba Hầu, Năm Hi, Hai Lựu, Hai Sở, Lào Lẹt, Bảy Phát, Bếp Đầy.
  • Án 20 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo, gồm: Tư Hổ và Ba Vạn.
Mấy hôm sau, lúc tờ mờ sáng, 9 hội viên bị kết án tử hình, bị đem ra bắn chết tại pháp trường ở phía tây Dốc Sỏi (Biên Hòa). Các thân xác ấy đều bị vùi chung trong một hầm tại bãi “Cây gỏ cụt”, cách chỗ bắn khoảng 50m. Về sau, khi đào đất, có tù nhân tìm gặp hầm. Hay được, những người dân ở gần đó hùn tiền mua cho mỗi xác một chiếc chiếu.
 
Trăm năm sau: Chùa Cô Hồn
 
Chùa Cô Hồn (Bửu Hưng tự)
 
Cảm động trước tấm lòng yêu nước của các nghĩa sĩ Lâm Trung trại, người dân địa phương đã xây dựng ngôi miếu nhỏ trên triền đồi nhằm tưởng nhớ và thờ cúng những linh hồn sĩ tử.
 
Đến năm 1920, nhân dân địa phương góp tiền của, công sức xây dựng ngôi miếu thành ngôi chùa có tên gọi Bửu Hưng tự, nhưng người dân vẫn quen gọi theo tên cũ là chùa Cô Hồn.
 
Chùa Bửu Hưng được UBND tỉnh Đồng Nai xếp hạng di tích lịch sử từ năm 1979.
 
Ngày nay, chùa Bửu Hưng nằm gần cổng sân bay Biên Hòa, trên đường Phan Đình Phùng, phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa. 
 
Người dân Biên Hòa vẫn thường xuyên viếng chùa. Có người gọi là chùa Bửu Hưng, cũng nhiều người gọi là chùa Cô Hồn, nhưng lịch sử bi tráng về xuất xứ chùa và tên gọi chùa Cô Hồn có lẽ đang chìm dần vào dĩ vãng...
Phạm Hoài Nhân
(theo tư liệu từ Wikipedia & Phan Đình Dũng)
Comments