Chiến khu Đ‎ > ‎

20. Trong hoàn cảnh vô cùng thiếu thốn, Chiến khu Đ đã làm gì để giữ vững căn cứ?

Chiến khu Đ ngày càng phát triển nhưng vẫn nằm trong sự kềm toả gắt gao của địch. Bởi chủ trương của chúng lúc này là đánh mạnh vào tiềm lực của chiến khu để thực hiện chủ trương “đánh nhanh thắng nhanh”.
Trước tình hình đó, Khu uỷ Khu 7 và Tỉnh uỷ Biên Hoà chỉ đạo các lực lượng kiên quyết giữ vững căn cứ, bảo vệ mùa màng, bảo vệ dự trữ kháng chiến; đồng thời ra sức phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất mọi mặt… Khẩu hiệu lúc này của chiến khu là “giữ người giữ của, xây dựng người, xây dựng của, lấy của địch bồi dưỡng ta, không để một tấc đất hoang”.

Uỷ ban kháng chiến hành chánh tỉnh Biên Hoà đề ra nhiều biện pháp nhằm phát triển kinh tế, khuyến khích nhân dân tăng gia sản xuất như: nông dân được phép phá rừng làm rẫy, lập mỗi xã một hội đồng canh nông, lập quỹ nghĩa thương dự trữ lúa giống và nông cụ giúp đỡ các gia đình khó khăn, nâng giá thu mua thóc từ 12 đồng lên 20 đồng 1 giạ.

Các đơn vị bộ đội tổ chức bố phòng canh gác bảo vệ nhân dân sản xuất, mở lò rèn nông cụ đối lúa cho nông dân; bản thân vừa đẩy mạnh sản xuất tự cung tự cấp. Bộ chỉ huy Khu 7 thành lập 2 tiểu đoàn sản xuất. Các cơ quan, ban ngành của khu, tỉnh, trung đoàn đều cử người lập bộ phận sinh sản và xây dựng trại sản xuất cây lương thực, chăn nuôi heo, gà… gọi là các “nông trường”.

Trong chiến khu còn xây dựng các cơ sở, xí nghiệp sản xuất các mặt hàng công nghệ phẩm, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho bộ đội và nhân dân. Ở Lạc An xây dựng được một số lò đường. Xưởng thuộc da Khu 7 sản xuất được các loại thắt lưng, bao đạn, dây dúng, giày da, xắc cốt, cặp đựng tài liệu. Xưởng giấy sử dụng nguyên liệu sẵn có ở rừng như tre, nứa, bông gòn, vỏ cây để sản xuất các loại giấy đánh máy, giấy bìa. Chỉ tíng riêng trong 2 năm1948-1949, trung bình mỗi tháng, xưởng sản xuất được 30.000 tờ giấy in báo. Công nhân còn chiết mủ cao su chế thành một loại dầu đỏ thắp sáng cung cấp cho nhân dân và bộ đội. Đặc biệt là gốm ở Đất Cuốc nơi có sẵn nguyên liệu cao lanh, đã sản xuất nhiều loại chén đĩa và dụng cụ sinh hoạt phục vụ rộng rãi trong chiến khu. Các sản phẩm gốm có in hình Bác Hồ, đồng chí Trường Chinh hoặc có dòng chữ “Hồ Chủ tịch muôn năm”, “Kháng chiến nhất định thắng lợi” cùng nhiều loại hoa văn trang trí đẹp mắt… Do thiếu nguyên liệu sản xuất vũ khí, lò rèn còn kiêm việc sản xuất các loại vỏ lựu đạn, mìn bằng sành kịp thời cung cấp cho nhu cầu chiến đấu. Tại suối Sâu, từ năm 1947, đã xây dựng được một xa nước phát điện có công suất đủ cho Binh công xưởng khu sản xuất vũ khí và sinh hoạt. “Nhà máy thuỷ điện” này hoạt động đến năm 1951 mới thôi.

Cùng với việc sản xuất tại chỗ, Khu 7 và tỉnh Biên Hoà còn xây dựng được nhiều tuyến hàng lang tiếp tế từ các nơi về Chiến khu Đ. Các cơ quan, đơn vị đều có cơ sở ở nội thành Sài Gòn và các thị trấn, thị xã để vận động đồng bào đóng góp hoặc thu mua hàng hoá khan hiếm như vải vóc, thuốc chữa bệnh, nguyên liệu cho quân giới. Nhiều chủ cơ sở cao su “đóng thuế” khá thường xuyên, tạo một nguồn cung cấp hậu cần đáng kể cho kháng chiến. Ngoài ra chiến khu còn một nguồn cung cấp vật chất qua các nhà buôn và lực lượng vũ trang vận tải từ Đồng Tháp Mười về Khu 7 trên con đường dài gần 300km, phần lớn phải vượt qua vùng địch kiểm soát. Nhiều chiến sĩ và dân công đã hi sinh vì nhiệm vụ gian khổ này.

Mạng lưới tổ chức hậu cần, tiếp tế của nhân dân và bộ đội đã góp phần nào phá thế bao vây kinh tế của địch đối với Chiến khu Đ.
Comments