Chiến khu Đ‎ > ‎

25. Chiến khu Đ đã đối phối hợp với chiến dịch Biên giới Việt-Trung như thế nào?

Tháng 6-1950, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định mở chiến dịch Biên giới nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, giải phóng một phần đất đai, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc. Trong bối cảnh đó Chiến khu Đ có sự chuyển động lớn để tổ chức lại chiến trường chung trên cả nước. Theo quyết định của trên, Khu 7 và khu Sài Gòn-Chợ Lớn được mở rộng gồm các tỉnh: Bà Rịa, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Gia Định, Sài Gòn-Chợ Lớn, Tây Ninh. Đồng chí giữ chức Tư lệnh kiêm Chính uỷ Khu, đồng chí Tô Ký và đồng chí Huỳnh Văn Nghệ Phó tư lệnh, đồng chí Lê Đức Anh Tham mưu trưởng.

Để phối hợp với chiến dịch Biên giới và các chiến dịch khác trên cả nước, Bộ Tư lệnh Khu quyết định mở chiến dịch Bến Cát (Thủ Dầu Một) vào tháng 10-1950 nhằm giải phóng đường 7, mở thông hành lang tiếp vận từ đồng bằng sông Cửu Long và Sài Gòn lên căn cứ miền Đông… Tại Chiến khu Đ, không khí rất sôi động, khẩn trương; bộ đội và nhân dân hăng hái tham gia chiến dịch. Từ 7-10 đến 5-11, trên mặt trận chính bao gồm đường 7, liên tỉnh lộ 14 và các mặt trận phụ… quân ta đã tiêu diệt 509 tên địch, đánh sập hàng chục tháp canh, đồn bót, cầu cống; phá huỷ 84 xe quân sự, 5 đầu máy xe lửa, 7 tàu thuyền, thu nhiều vũ khí, lương thực, thực phẩm và đồ dùng quân sự. Đây là chiến dịch qui mô lớn đầu tiên và duy nhất được tiến hành ở miền Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tuy nhiên, sau thất bại ở chiến dịch Biên giới, Bộ chỉ huy quân Pháp tại miền Nam đã huy động lực lượng đánh sâu vào một số vùng căn cứ của ta, tiếp hợp mở đường, đóng thêm tháp canh, tạo điều kiện bàn giao trách nhiệm bình định lãnh thổ cho quân nguỵ, để điều binh ra miền Bắc. Đối với Chiến khu Đ, chúng tăng cường phong toả, bao vây kinh tế, hành quân càn quét cấp tiểu đoàn kết hợp các đội Comando và dùng không quân ném bom. Chiến khu Đ phải đương đầu với những thách thức mới của cuộc chiến tranh giải phóng.
Comments