Chiến khu Đ‎ > ‎

44. Trận Tua 2 đã tác động mạnh mẽ đến vùng Chiến khu Đ?

Trong cơn ngột ngạt do sáp bức nặng nề của Mỹ-Nguỵ, Nghị quyết 15 (1-1959) của Trung ương đến với miền Nam như một luồng gió mới “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân” và “cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có thể chuyển thành một cuộc đấu tranh võ trang trường kỳ…”.

Tháng 11-1959, sau khi họp quán triệt Nghị quyết 15 của Trung ương, Xứ uỷ họp bàn về công tác vũ trang và quyết định tổ chức một trận đánh lớn nhằm thúc đẩy phong trào kết hợp với vũ trang trong toàn Miền. Căn cứ Tua 2 của địch ở Tây Ninh được chọn làm mục tiêu trận đánh. Đại đội 59 và 80 của Chiến khu Đ được điều động phối hợp thực hiện trận tấn công quan trọng này.

Đêm 25 rạng ngày 26-1-1960, dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến kết hợp với nội tuyến, các đơn vị dũng mãnh tiến công căn cứ Tua 2. Trận đánh diễn ra thuận lợi. Ta nhanh chóng diệt địch, thu nhiều vũ khí và rút lui an tòn. Cánh quân rút về Chiến khu Đ mang theo 1.500 khẩu súng lấy được trong Tua 2.

Chiến thắng Tua 2 như sấm sét mở đầu phá tan đêm tối ở miền Nam, là sự kiện nổi bật có ý nghĩa về quân sự và chính trị trong toàn Miền, làm dấy lên phong trào đồng khởi long trời lở đất ở miền Nam, mở đầu một giai đoạn mới của cuộc đấu tranh chống Mỹ-Nguỵ.

Sau trận Tua 2, phong trào quần chúng nổi dậy kết hợp vũ trang diệt ác phá kềm ở Chiến khu Đ phát triển mạnh. Trên cả hai hướng tây và tây nam, lực lượng vũ trang huyện Phú Giáo, Tân Uyên phối hợp với nhân dân truy lùng trừng trị bọn ác ôn, tiến công các trụ sở tề xã, ấp, làm tan rã bộ máy tay sai của địch ở cơ sở. Du kích xã Tân Phước Khánh dùng mìn đánh giao thông địch, diệt nhiều xe Jeep, giết chết quận trưởng Tân Uyên. Cán bộ và nhân dân trong căn cứ tổ chức nhiều hình thức phong phú trấn áp và hạ uy thế địch như cảnh cáo chúng bằng thư, mở toà án nhân dân xét xử bọn có tội với đồng bào.

Hàng trăm thanh niên yêu nước phần lớn từ Sài Gòn và các vùng nông thôn miền Đông thoát ly gia đình vào căn cứ xin gia nhập lực lượng vũ trang. Xứ uỷ điều tra hơn 500 tân binh từ miền Trung và miền Tây Nam Bộ tăng cường cho miền Đông để chuẩn bị thành lập bộ đội chủ lực tập trung. Để đảm bảo lương thực nuôi quân, Đảng uỷ và Ban quân sự miền Đông quyết định dùng lực lượng C200 làm chủ công đánh vào quận lỵ Đức Phong (Bù Đăng-Sa Ray) nằm trên đường 14 từ Đồng Xoài đi Tây Nguyên. Ở đây có một kho gạo lớn của địch.

Từ Chiến khu Đ, C200 xuất phát vượt dốc Tam Cấp, băng rừng tiến về mục tiêu. 4 giờ 30 phút ngày 29-6-1960, đơn vị nổ súng tấn công. Bị bất ngờ, bọn địch trong quận lỵ chống trả yếu ớt rồi rút chạy. Thừa cơ, lực lượng tân binh tiến vào dinh điền chiếm kho gạo và khu thực phẩm. Sau khi đánh lui cánh quân địch tiếp viện cho Đức Phong, lực lượng ta rút về căn cứ an toàn, mang theo gần 18 tấn gạo cùng 20 khẩu súng các loại, trong đó có 2 khẩu trung liên.

Tiếp theo, lực lượng vũ trang miền Đông và bộ đội địa phương tỉnh Phước Long tổ chức tiến công giải tán các dinh điền dọc đường 14, diệt các chốt của địch cắm sâu trong căn cứ. Các tuyến đường trong căn cứ được nối thông.

Trên cơ sở phát triển lực lượng vũ trang và đánh thắng liên tiếp nhiều trận, tháng 7-1960, Bộ chỉ huy lực lượng vũ trang giải phóng miền Đông (còn gọi là T1) được chính thức thành lập và đặt cơ quan lãnh đạo, chỉ huy tại suối Linh (goi là căn cứ 820) thuộc Chiến khu Đ. Khu uỷ miền Đông do đồng chí Mai Chí Thọ làm bí thư, đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến giữ chức chỉ huy trưởng, đồng chí Lâm Quốc Đăng làm chỉ huy phó. Đây là một “cột mốc” quan trọng của Chiến khu Đ.
Comments