Chiến khu Đ‎ > ‎

61. Các đơn vị Cánh đông bắc xuất phát từ Chiến khu Đ đồng loạt vào chiến dịch Mậu Thân. Xin cho biết diễn biến các mũi tiến công?

Mậu Thân 1968, hướng tiến công chủ yếu được xác định là Sài Gòn, trung tâm guồng máy chiến tranh của Mỹ-Nguỵ, nhưng các hướng phụ cận cũng rất quan trọng, có tác dụng căng kéo, giữ chân địch cho các mũi chủ công đánh vào Sài Gòn, thực hiện nhiệm vụ chiến lược là tiêu diệt và làm chủ các mục tiêu trọng yếu nhất của địch như Đại sứ quán Mỹ, dinh Độc Lập, Bộ tổng tham mưu Nguỵ, Biệt khu thủ đô, Đài phát thanh…
Lực lượng đứng chân ở Chiến khu Đ khá đông và mạnh, trong đó có những đơn vị được lệnh đánh sâu vào nội đô Sài Gòn và Gia Định.

Cuối tháng 1-1968, đồng chí Lê Đức Anh (sau này là Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Miền đã xuống Chiến khu Đ để trực tiếp chỉ đạo và thông qua kế hoạch tiến công và nổi dậy trên chiến trường miền Đông. Đêm 29-1-1968, được lệnh của Miền, Sư đoàn 5 chủ lực từ Chiến khu Đ vượt sông Đồng Nai về tập kết ở hốc Ông Tạ (Tân Định-Vĩnh Cửu) triển khai kế hoạch tiến công đợt 1 Mậu Thân. Trên hướng đường 13 và 16, Sư đoàn 7 chủ lực cũng từ căn cứ triển khai lực lượng hành tiến về các mục tiêu đã định.

Do không thống nhất thời gian trên toàn miền Nam, nên Tây Nguyên và một số tỉnh ở Khu 5 nổ súng trước 1 ngày. Cuộc tiến công và nổi dậy chính thức của nam Bộ khởi sự vào đêm 30 rạng ngày 31-1-1968 (tức đêm 1 tết Mậu Thân). Từ bàn đạp Chiến khu Đ, các lực lượng vũ trang của Miền và Phân khu 5 gồm Trung đoàn Đồng Nai và 5 tiểu đoàn hành quân tiến công các mục tiêu.

Sư doàn 5 chủ lực Miền và Trung đoàn pháo ĐKZ 724 tấn công sân bay Biên Hoà, khu kho Long Bình, Bộ Tư lệnh quân đoàn 3 nguỵ, Bộ Tư lệnh 2 dã chiến Mỹ, phá huỷ trên 120 máy bay, diệt nhiều địch và phương tiện chiến tranh của chúng, nhưng không chiếm được các mục tiêu.

Trung đoàn Đồng Nai tấn công các vị trí ở Phú Giáo, Tân Uyên. Bộ đội tập trung ở Phân khu tấn công các căn cứ Phước Vĩnh, Lai Khê, Phú Lơi. Tiểu đoàn Phú Lợi cùng bộ đội Tân Uyên đánh diệt các đồn bót địch ở Đồi Xiêm, dốc Bà Nghĩa, hậu cứ trung đoàn 48-sư đoàn 18 nguỵ ở dốc Bàn Tay, chi khu Tân Uyên… Các xã ven căn cứ ở hai bờ sông Đồng Nai (nam Chiến khu Đ), du kích và nhân dân nổi dậy diệt ác phá kềm, diệt các bót nguỵ, giành quyền làm chủ xã ấp.

Trên hướng đông bắc tiến công vào Sài Gòn, tiểu đoàn 3 Dĩ An thọc sâu đánh chiếm được các chi khu cảnh sát. Địch điều tiểu đoàn 30 biệt động từ Thủ Đức đến ứng cứu. Đến sáng 1-2, một bộ phận phát triển về khu vực Cầu Sơn. Địch mở liên tiếp nhiều cuộc phản kích giải toả có trực thăng võ trang và chiến xa yểm trợ. Tiểu đoàn 3 kiên cường chiến đấu, đến tối thì rút khỏi khu vực này. Một bộ phận về bám trụ tại xóm Đáy xã Bình Quới Tây, ngày 7-2 đã anh dũng chống càn 1 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến nguỵ, diệt 1 trung đội.

Tiểu đoàn 4 Thủ Đức cùng với đội biệt động quận tấn cộng địch ở khu vực cầu Sài Gòn, nhưng bị chúng phản công quyết liệt ngay từ đầu nên chưa tiếp cận phá cầu được. Tối 31-1, đại đội 2 của tiểu đoàn vượt sông Sài Gòn chiếm ấp 10 xã Bình Quới Tây. Ngày 4-2, phát triển sang ấp 9 diệt bót Bình Địa, đánh sập cầu Kinh. Địch đổ 2 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến, kết hợp với tàu chiến dưới sống và bọn bảo an trên bộ, dưới sự yểm trợ của phi pháo, phản kích ác liệt. Đơn vị dũng cảm chiến đấu, sau đó rút về căn cứ an toàn.

Cùng thời gian trên, Trung đoàn 4 Sư đoàn 7 chủ lực Miền tấn công chi khu quân sự và Liên trường Võ khoa Thủ Đức; Trung đoàn 1 Sư đoàn 7 đánh địch phản kích ở khu vực Lái Thiêu (Bình Dương) để giữ địa bàn phía sau.

Do địch phản kích mạnh, các đơn vị chủ lực Miền và Phân khu 5 bị thương vong nhiều trên đường rút ra vùng phụ cận trở về căn cứ. Góp phần vào chiến dịch, trên 1.000 dân công của Phân khu đã dũng cảm vượt qua bom pháo địch, tải thương, tải đạn. Bệnh xá Phân khu tuyến trước ở bàu Tiền Tà đã khắc phục nhiều khó khăn cứu chữa khoảng 1.500 thương binh.

Đêm 17-2, ta mở cao điểm 2 của đợt 1. Cùng với các hướng quanh Sài Gòn, Tiểu đoàn Đồng Nai và Tiểu đoàn Dĩ An tiến công địch ở cầu Bình Lợi diệt 60 tên thuỷ quân lục chiến. Kế hoạch phá cầu Bình Lợi không thực hiện được. Đêm 24-1, các đơn vị ở cánh Thủ Đức phá sập cầu giồng Ông Tố, cầu Gò Dừa và cầu Kinh Thanh Đa.

Kết thúc đợt 1 Mậu Thân, các đơn vị chủ lực Miền và Phân khu rút về Chiến khu Đ. Nhờ công tác đảm bảo vật chất tốt, hậu cần Phân khu 5 và các đoàn hậu cần của Miền ở phía sau đã tạo được “đầu cầu” cho các đơn vị tiến công địch ở Sài Gòn, hoàn thành tốt nhiệm vụ hậu cần của một chiến dịch lớn và duy trì cho các lực lượng tiếp tục hoạt động trong các đợt sau.

Trong đợt 2 của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, các lực lượng vũ trang của Miền từ bàn đạp Chiến khu Đ đã tiến công và pháo kích vào các thị trấn Phước Bình, chi khu Lộc Ninh, tiểu khu Bình Long gây cho địch nhiều thiệt hại. Riêng ở hướng bắc Sài Gòn do Phân khu 5 đảm trách, đêm 25-5-1968, 2 tiểu đoàn của Trung đoàn Đồng Nai vượt sông chiếm được khu vực giồng ông Ông Cộ, ngã năm Bình Hoà (nay thuộc quận Bình Thạnh), Bà Chiểu, chùa Quản Tám, Cây Quéo. Sau nhiều ngày chiến đấu ác liệt, đơn vị đánh thiệt hại 1 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến. Đến 7-5, rút về căn cứ theo hướng An Phú Đông (Hóc Môn).

Như vậy, cùng với những chiến công trong chiến dịch Mậu Thân lịch sử, tạo bước ngoặt trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, quân và dân Chiến khu Đ đã góp phần đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô của đế quốc Mỹ trên chiến trường miền Nam.
Comments