Chiến khu Đ‎ > ‎

65. Trong thời gian Mỹ rút quân, Chiến khu Đ đã được củng cố và phát huy nội lực ra sao?

Mỹ “xuống thang chiến tranh” là điều không cưỡng được do những thất bại liên tiếp về chiến lược và làn sóng đấu tranh phản đối cuộc chiến vô nghĩa, hao người tốn của, của nhân loại tiến bộ trên thế giới, đặc biệt là ngay trong lòng nước Mỹ. Từ cuối năm 1970, những đơn vị viễn chinh sừng sở của Mỹ như Sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới”, Sư đoàn 1 “Anh cả đỏ”, “Kỵ binh thiết giáp”... lần lượt rút khỏi chiến trường Sài Gòn-Gia Định và miền Đông Nam Bộ. Đội quân của các nước chư hầu “theo đóm ăn toàn” cũng dần biến mất…

Trước tình hình đó, tháng 5-1971, Trung ương Cục quyết định giải thể Phân khu 5 (thành lập tháng 10-1967) để thành lập Phân khu Thủ Biên, bao gồm các xã Chiến khu Đ, Câu Thành, thị xã Biên Hoà, huyện Vĩnh Cửu, Trảng Bom ở phía nam chiến khu bên bờ hữu ngạn sông Đồng Nai. Căn cứ Phân khu đóng bên suối Bà Thơ. Đồng chí Nguyễn Văn Trung Bí thư Phân khu uỷ, đồng chí Nguyễn Hồng Lâm Tư lệnh Phân khu. Việc thành lập Phân khu Thủ Biên đã thống được sự chỉ đạo chung ở chiến trường căn cứ phía nam, tạo bàn đạp trực tiếp tiến công các cơ quan đầu não địch ở miền Đông, thiết lập hành lang và cửa khẩu cho các căn cứ ở lộ 1 và 20.

Tháng 7-1971, Trung ương Cục họp tổng kết tình hình chiến trường miền Nam; đặc biệt nhấn mạnh vấn đề xây dựng hậu phương và căn cứ, giữ vững đường hành lang chiến lược, tăng cường dự trữ vật chất, phát huy nội lực hậu phương để đảm bảo nhu cầu cho phía trước. Trong đó chú trọng khu vực biên giới Bình Long, Phước Long xuống Chiến khu Đ, kết hợp với lực lượng Miền và địa phương để tổ chức hành lang vận chuyển.

Thực hiện chủ trương này, không những các đoàn hậu cần đẩy mạnh các mặt hoạt động mà cả đơn vị chiến đấu, cơ quan, ban ngành đứng chân trên địa bàn chiến khu, ngoài nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ căn cứ đều thành lập các khu vực sản xuất, trồng các cây lương thực như bắp, khoai, đậu…. Vụ mùa 1971, thu hoạch được gần 100 tấn và thu mua vùng ngoài căn cứ hơn 50 tấn lương thực. Đến đầu năm 1972, Chiến khu Đ đã có lương thực dự trữ cho 1.500 người trong 1 tháng. Các đoàn hậu cần của Miền và Phân khu đã mở được hành lang từ Chiến khu Đ xuống chiến trường… Đây là một thắng lợi có ý nghĩa về kinh tế đối với Chiến khu Đ vừa trải qua một bị địch bao vây phong toả, đánh phá hết sức ác liệt, bảo đảm sức chiến đấu cho các lực lượng trong căn cứ.

Mỹ tiếp tục rút quân khỏi chiến trường để hồi hương. Lúc này ở Chiến khu Đ chỉ còn lại vài tiểu đoàn mỹ với tâm trạng trông chờ ngày về nước, nên hoạt động không có gì đáng kể. Cái “đuôi thừa” của cuộc viễn chinh thế kỷ đang uể oải buông xuôi. Đó là cơ hội để các lực lượng vũ trang Chiến khu Đ vươn lên giành thế trận mới.

Để giữ vững và phát triển địa bàn trong tình hình mới, các đơn vị ở Chiến khu Đ mở nhêìu đợt tiến công vào các cứ điểm cơ bản của địch ở vùng ven và các cụm quân địch đóng dã ngoại trong vùng chiến khu, diệt nhiều đơn vị bộ binh và binh chủng của chúng ở Tân Uyên, Phú Giáo; tập kích vào sân bay Biên Hoà, căn cứ Phú Lợi, Phước Vĩnh, Rày Gạch, Nhà Đỏ, Vàm Giá, Phước Hoà… diệt 160 tên, phá huỷ 18 máy bay, 2 khẩu pháo 105 ly, một số trụ sở tề nguỵ, kho tàng.

Vừa tiến công tiêu diệt vừa căng kéo địch trên chiến trường, Chiến khu Đ còn xây dựng được tiềm lực vật chất để chuẩn bị cho thời cơ mới, vượt thoát được thời kỳ khó khăn nhất, là một thành công lớn về chỉ đạo và thực hiện của chiến khu trong giai đoạn chuyển chiến lược từ phòng ngự, chống đỡ sang chủ động tiến công toàn diện.
Comments