Chiến khu Đ‎ > ‎

69. Có phải Chiến khu Đ là địa bàn hậu thuẫn trực tiếp cho các mặt trận ở miền Đông và Tây Bến Cát?

Ngay từ đầu năm 1974, không khí chiến trường B2 đã nóng dần lên với những cuộc chạm súng của hai bên nhằm giành giật tranh chấp đất đai và dân chúng để củng cố vị thế có lợi cho mình.

Công thức “vũ khí Mỹ+bộ binh nguỵ” không làm nên chuyện gì, mặc dù chúng đã cố gắng hết sức, vẫn bị thất bại liên tiếp. Ta bị mất đất, mất dân ở một số nơi, nhưng đã dần dần lấy lại được.

Phát hiện được các hoạt động của ta chuẩn bị cho các chiến dịch lớn, địch liều lĩnh mở các cuộc càn vào phía tây và tây nam Chiến khu Đ. Lần này chúng huy động lực lượng khá đông gồm lính của sư đoàn 18, các trung đoàn thiết giáp, liên đoàn biệt động quân… càn quét vào các vùng căn cứ của ta và đóng được một số chốt nhỏ. Đi liền với càn quét đánh phá, quân nguỵ cho xe cơ giới ủi phá địa hình, đào các giao thông hào để ngăn chặn xe cơ giới của ta từ phía nam Chiến khu Đ đánh vào các thị xã Biên Hoà và tiến vào Sài Gòn.

Tuy nhiên những nỗ lực của chúng không ngặn chặn được cường độ tấn công của ta.

Từ 26-3 đến 31-4-1974, Quân khu mở chiến dịch tiến công địch ở đường số 2 Bà Rịa-Long Khánh, tiêu diệt một số bộ phận quân chủ lực nguỵ, mở vùng, mở mảng thu hồi vùng giải phóng bị địch lấn chiếm trước đó.

Ngày 14-4, từ phía tây Chiến khu Đ, quân chủ lực Miền bap vây tiến công tiêu diệt căn cứ Tống Lê Chân, một cứ điểm xung yếu án ngự đường 13 (cách Long Bình 5km về hướng tây nam). nhổ bật căn cứ Tống Lê Chân, ta đã mở được một mảng lớn đất đai trên tuyến đường 13, ăn thông với “thủ phủ” Lộc Ninh.

Thắng lợi trong mùa khô đặt cơ sở cho Bộ Tư lệnh Miền hạ quyết tâm đánh lớn trong mùa mưa năm 1974. Với tinh thần đó, sau khi xem xét tương quan lực lượng địch-ta và thực tế diễn biến trên chiến trường, tháng 5-1974, Trung ương Cục và Quân uỷ Miền quyết định mở chiến dịch tây Bến Cát, nhằm phá vỡ tuyến phòng ngự vùng trung tuyến bảo vệ Sài Gòn ở hướng tây bắc; kìm chân quân chủ lực nguỵ tại chỗ, phá tan ý đồ tăng viện cho đồng bằng sông Cửu Long để bình định Khu 8; điều lực lượng tấn công lấy lại Lộc Ninh, nơi đặt cơ quan lãnh đạo của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam.

Mặt trận tây Bến Cát trở thành “chảo lửa” từ tháng 5 cho đến mùa mưa 1974. Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 của Miền đảm nhiệm 2 hướng chính có xe tăng của Bộ phối thuộc và pháo binh Miền trợ chiến tiến công vào quân địch trên đường 7 kéo dài từ Rạch Bắp đến Bến Cát và ở phía đông, từ bắc Tân Uyên nối với đường 1A.

Sau khi diệt đồn Rinet, vây ép bức rút đồn Rạch Bắp, chi khu Bến Cát bị uy hiếp mạnh. Trước nguy cơ bị xe tăng và bộ binh quân giải phóng tràn ngập, địch huy động bộ binh, xe tăng, bom pháo phản kích vô cùng ác liệt suốt 135 ngày đêm. Sư đoàn 9 đã hoàn thành nhiệm vụ kềm chân địch ở tây Bến Cát, mặc dù phải chịu thương vong lớn.

Ở hướng Tân Uyên, Sư đoàn 7 phối hợp với lực lượng địa phương tấn công căn cứ Phước Hoà trên đường 16, bức rút một đồn bót địch đóng lấn chiếm vào cùng giải phóng. Một mũi khác của Sư đoàn 7 đánh chiếm đồn Nha Bích, giải phóng đường 14 (đoạn Chơn Thành-Đồng Xoài), tiến ra bờ sông Đồng Nai, đánh Lạc An-Bà Sầm, thu hút sư đoàn 18 nguỵ để “chia lửa” với mặt trận đường 7-Bến Cát. Địa bàn Chiến khu Đ được củng cố và mở rộng về phía tây nam và nam giáp đường 16; nối với khu tam giác (Dầu Tiếng-Bến Cát-Củ Chi) uy hiếp địch ở “thủ đô” Sài Gòn.

Chiến khu Đ đã góp phần rất lớn cho các chiến dịch năm 1974 về tổ chức lực lượng, bàn đạp xuất phát tiến công, công tác hậu cần, hậu cứ, giải quyết các hậu quả sau chiến dịch…
Comments