Chiến khu Đ‎ > ‎

70. Trong mùa khô cuối cùng của cuộc chiến tranh, trận Phước Long báo hiệu sự sụp đổ của nguỵ quyền Nam Việt Nam?

Mùa khô 1974-1975, chiến trường miền Nam đã có sự chuyển biến quan trọng. Nguỵ quân thay vai trò quân Mỹ không đủ sức đương đầu với quân giải phóng. Kết hợp với mặt trận chính trị và ngoại giao, lực lượng cách mạng đang thắng thế. Mục tiêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” đã hiện ra trước mắt. Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị họp đánh giá tình hình “Ta đã thúc đẩy thời cơ chiến lược chín muồi, tạo nên những yếu tố chiến lược quan trọng để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”.

Cuối tháng 11-1974, Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở đợt hoạt động mùa khô 1974-1975 ở miền Đông Nam Bộ với nội dung: Hoàn chỉnh khu giải phóng cách mạng, nối liền hành lang chiến lược từ biên giới xuống bờ biển phía đông, xây dựng thành căn cứ địa vững chắc, liên hoàn, tạo thế bao vây Sài Gòn… Riêng khối chủ lực đứng chân trên địa bàn Quân khu 7 phải đánh những trận thối động, tiêu diệt gọn từng đơn vị địch.

Chiến dịch mùa khô 1974-1975, bắt đầu từ tháng 12-1974 kéo dài đến tháng 4-1975. Lực lượng của Miền và Quân khu đã tiến công mạnh mẽ quân địch trên đường 14 Phước Long, giải phóng Bù Đăng, Bù Na, đánh chiếm chi khu Bù Đốp; tấn công địch ở Châu Thành, phía nam Chiến khu Đ, chi khu Đồng Xoài, diệt các đồn bót trên tỉnh lộ 1A, giải phóng đoạn từ Phước Vĩnh lên Đồng Xoài.

Mất toàn bộ đường 14 và Đồng Xoài, tàn quân địch dồn hết về tiểu khu quân sự và thị xã Phước Long, tổ chức phòng thủ để giữ vững vị trí quan trọng sâu nhất trong vùng giải phóng của ta.

Trong lúc địch đang hoang mang lúng túng, Bộ Tư lệnh Miền và Quân đoàn 4 hạ quyết tâm giải phóng Phước Long. Kế hoạch giải phóng Phước Long được Bộ Chính trị chấp thuận. Bởi hệ quả của nó có thể dẫn đến những tình huống phức tạp, cần được cân nhắc và quyết định sáng suốt.

Thị xã Phước Long cách Sài Gòn 120km về hướng đông bắc, nằm sâu trong vùng căn cứ Chiến khu Đ có 50 ngàn dân. Địa hình Phước Long bao trùm rừng núi, có nhiều cao điểm. Đặc biệt phía nam thị xã và đông nam chi khu Phước Bình có núi Bà Rá cao 763m địch dùng để khống chế toàn khu vực thị xã, chi khu và cả sân bay Phước Bình.

Tham gia chiến dịch Phước Long, lực lượng chủ yếu của Quân đoàn 4 phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương (có cả hoả lực pháo binh, cao xạ, xe tăng, công binh). Trận đánh vào Phước Long bắt đầu lúc 5 giờ 30 phút ngày 31-12-1974. Ngày 1-1-1975, quân ta chiếm cao điểm Bà Rá, truy quét và bức rút các cụm quân địch ở Thác Mơ, Hiếu Phong, Long Điền… Từ ngày 2-1, tuyến phía nam thị xa Phước Long bị phá vỡ, quân ta đột phá vào trung tâm thị xã… Trước nguy cơ mất Phước Long, Nguyễn Văn Thiệu triển khai kế hoạch đổ quân tiếp ứng, từ ngoài đánh vào nhưng không thực hiện được. Chiều 6-1, Sư đoàn 9 đã chiếm được dinh tỉnh trưởng, Phước Long được hoàn toàn giải phóng. Trong chiến dịch này, ta tiêu diệt 500 tên địch, bắt 1.179 tên, thu 1.498 súng các loại, 190 máy thông tin, 80 xe cơ giới; bắn rơi 12 máy bay, phá huỷ 10 xe cơ giới và ra đa… Phía ta 150 chiến sĩ, cán bộ hi sinh.

Phước Long thất thủ làm cho Mỹ và tướng tá nguỵ bàng hoàng. Mỹ-nguỵ định tập trung lực lượng tái chiếm, nhưng mọi toan tính của chúng dẫn đến quyết định bất khả kháng: “bỏ Phước Long!”. Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam, ta giải phóng hoàn toàn một tỉnh do địch kiểm soát. Chiến thắng Phước Long đã góp phần cho Trung ương Đảng đánh giá đúng tình hình khả năng Mỹ-Nguỵ, đề ra chủ trương chiến lược, quyết tâm giành thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Với chiến dịch đường 14, Phước Long, căn cứ Chiến khu Đ đã được mở rộng về phía bắc và tây bắc giáp với Bình Long và biên giới Campuchia. Chiến khu Đ thực sự trở thành một hậu phương lớn và trực tiếp của miền Đông Nam Bộ, nơi tiếp nhận, triển khai binh khí, kỹ thuật và cơ sở vật chất từ Trung ương xuống các chiến trường; đồng thời là địa bàn tập kết các cánh quân lớn tiến công vào hang ở đầu não địch ở Sài Gòn.
Comments