Chiến khu Đ‎ > ‎

71. Không thể chiếm lại Phước Long, nhưng địch phản ứng rất mạnh nhằm giữ vững tinh thần quân nguỵ. Lực lượng vũ trang Chiến khu Đ đã làm gì để bảo vệ căn cứ, tạo điều kiện cho chiến dịch mùa xuân 1975 giành thắng lợi?

Phước Long - v trí “tiền đồn” quan trọng số 1 của quân nguỵ ở phía bắc Sài Gòn bị mất, địch không những phá vỡ thế phòng thủ vòng ngoài, mà còn thất thế về chính trị. Quân nguỵ ở miền Đông rất hoàn mang trước sức tấn công của quân giải phóng. Nguy cơ những vị trí xung yếu khác rơi vào tay đối phương xảy ra bất cứ lúc nào. Trên cục diện chiến trường miền Đông, Phước Long đã tạo ra một khoảng trống bất lợi chưa từng có đối với Mỹ-Nguỵ.

Trước những thuận lợi mới có thể dẫn đến những tình huống đột biến, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền họp quán triể Nghị quyết của Bộ Chính trị; bổ sung và điều chỉnh kế hoạch bước 2 mùa khô 1975 trên chiến trường B2 để đáp ứng với sự phát triển vượt bậc của cách mạng.

Yêu cầu bước 2 phải tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở thông hành lang xuống phía đông và tây bắc Sài Gòn; phát triển xuống cả đường 20 về Long Khánh, Bà Rịa; mở chiến dịch Dầu Tiếng và đường 20.

Về phía địch, sau khi ta giải phóng Phước Long, chúng bị dồn vào thế bị động lúng túng về chỉ đạo chiến lược. Trên địa bàn Chiến khu Đ, địch ra sức củng cố lực lượng, cố gắng tổ chức những cuộc hành quân càn quét vào phía nam căn cứ, hòng tạo ra một vành đại bảo vệ Sài Gòn về phía đông, ngăn chặn lực lượng tiến công vào các cơ quan đầu não của chúng ở miền Đông.

Ngày 20-2-1975, quân nguỵ tổ chức hành quân càn quét vào khu vực Bình Chánh, Khánh Vân, Vĩnh Tân, Phú Chánh với lực lượng tương đối lớn gồm một số tiểu đoàn biệt động quân, chủ lực sư đoàn 5 và thiết giáp. Tiếp theo, địch cho lực lượng tràn vào khu vực Ông Đông, Ba Tri ủi phá địa hình, lập tuyến ngăn chặn ta từ Bến Sắn đến đường 8. Đến tháng 3-1975, bọn sư đoàn 18 nguỵ càn quét vào Đất Cuốc đế suối Cát để thăm dò lực lượng ta…

Kiên quyết giữ vững vùng căn cứ giải phóng, chặn đứng âm mưu ủi phá địa hình, lấn chiếm đất, bộ đội địa phương tỉnh Thủ Dầu Một, Tân Uyên, Châu Thành liên tiếp chặn đánh các mũi tiến quân của địch diệt 100 tên, phá huỷ 23 xe tăng và xe bọc thép; đồng thời tổ chức các trận tập kích, pháo kích vào các vị trí xuất phát hành quân của địch. Sau 7 ngày nống ra vùng giải phóng, bị lực lượng ta đánh thiệt hại, địch buộc phải rút quân, co cụm về chi khu Tân Uyên.

Ngày 10-3-1975, quân chủ lực Tây Nguyên mở cuộc tiến công đánh chiếm Buôn Ma Thuột. Đòn “điểm huyệt” này đã mở đầu sự sụp đổ dây chuyên của quân nguỵ trên toàn miền Nam. Hoà cùng chiến thắng Tây Nguyên, quân chủ lực Miền Đông tấn công giải phóng huyện Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một). Chiến khu Đ được nối liền với vùng giải phóng dọc đường 14; Long Nguyên, Thanh An, Thanh Tuyền, Rạch Kiến, Bưng Còng, Rạch Bắp, nối sang vùng giải phóng Củ Chi, uy hiếp Sài Gòn từ hướng tây bắc. Cũng trong tháng 3-1975, quân chủ lực Miền tiến công trên đường 13, giải phóng An Lộc và bao vây quận lỵ Chơn Thành; giải phóng chi khu Định Quán, làm chủ đường 20 đi Đà Lạt. Đường hành lang về phía đông nam của Chiến khu Đ được mở thông… Các đoàn công binh, thanh niên xung phong ngày đêm khẩn trương bắc cầu, mở đường từ Đồng Xoài về Vĩnh An ra đường 20 cho các đơn vị cơ giới và bộ binh hành quân về phía đông Sài Gòn. Sư đoàn 6 Quân khu 7 tiến ra giải phóng đường 1 từ căn cứ số 4 đến căn cứ số 10 giáp Bình Tuy.

Như vậy, trong tháng 3-1975, quân chủ lực Miền và Quân khu 7 đã tiến công địch, giải phóng vùng nối liền Chiến khu Đ với vùng giải phóng Bà Rịa-Long Khánh, nối sang Khu 6, mở một địa bàn lớn cho các binh đoàn chủ lực triển khai các mũi tiến công vào Sài Gòn từ hướng đông và đông nam.

Căn cứ Chiến khu Đ không những giữ vững mà còn mở rộng làm bàn đạp xuất phát cho các cánh quân chủ lực của Miền và của Bộ áp sát quân địch từ nhiều phía.
Comments