Chiến khu Đ‎ > ‎

86. Có một Thiếu tướng-nhà văn trưởng thành từ Chiến khu Đ?

Không ai xa lạ. Đó chính là nhà văn Bùi Cát Vũ-Thiếu tướng Phó Tư lệnh Quân khu 7 vào những năm của thập niên 80, thế kỷ 20. Vừa giữ rất nhiều chức vụ chỉ huy lại vừa duy trì văn nghiệp trong suốt cuộc đời binh nghiệp như ông quả là hiếm. Nhưng người ta biết đến ông nhiều nhất có lẽ là vị Tư lệnh pháo binh miền Đông Nam Bộ, mà tên tuổi ông gắn liền với những chiến công vang dội như La Ngà, Tecnit, sân bay Biên Hoà, Hớn Quản, Phước Long…

Thiếu tướng-nhà văn Bùi Cát Vũ sinh năm 1924 ở xã Hưng Mỹ huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Cha mất khi ông 11 tuổi, ông phải làm thuê phụ mẹ nuôi 3 em nhỏ. Trong thời gian lên Sài Gòn làm thợ hồ và bán báo, ông học được cách lấy tin, viết phóng sự và truyện ngắn từ các bậc huynh trưởng Văn Nguyên, Thanh Mại và học làm cách mạng từ các bậc thầy tâm huyết An Ninh, Văn Hùm, Văn Tạo, Thu Thâu, Bạch Mai… Trên con đường dấn thân, ông bị địch bắt giam. Nhờ sự bênh vực của luật sư nên ông được tại ngoại hầu toà.

Trở về con sông Cổ Chiên quê hương, Bùi Cát Vũ bắt liên lạc với Quang Đông vào thời điểm khởi nghĩa (tháng 8-1945), Quang Đông là Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chánh tỉnh, Bùi Cát Vũ làm giám đốc Cộng hoà vệ binh. Nghiệp quân sự của ông bắt đầu từ đó.

Sau khi thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ, Bùi Cát Vũ trở lại Sài Gòn rồi lên Biên Hoà bắt liên lạc với Chiến khu Đ do Khu trưởng Nguyễn Bình và Khu phó Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy. Ông kết bạn với nhà quân sự-nhà thơ “mang gươm đi mở bờ cõi”. Khi được giao làm giám đốc Binh công xưởng, ông nghiên cứu chế tạo thành công mìn lõm.

Khu phó-nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ mô tả chiến công mìn lõm của Bùi Cát Vũ: Mặt nước bàu Cá Trê óng ánh như có trăng dưới rừng lá rộng… Các trái mìn lõm như những con mắt theo dõi bước đi của quân giặc. Và từ sau hốc đá trên sườn cao, chỉ huy phó vừa bấm công tắc mìn vừa ra lệnh: “Chi đội, nổ!”. Loáng một cái, đoàn xe thiết giáp từ Nha Trang vào tiếp sức cho địch ở Chiến khu Đ nổ tung trong biển lửa dậy trời. Trong số giặc bị tiêu diệt, có những sĩ quan cấp cao tử trận.

Sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Phó tư lệnh pháo binh Bùi Cát Vũ theo đơn vị tập kết ra miền Bắc và được cử đi học đào tạo Phó tiến sĩ pháo binh. Ông trở về Nam và được bổ nhiệm chức Tư lệnh pháo binh Miền. Gần 20 năm lăn lộn trên chiến trường trọng điểm cửa ngõ sào huyệt địch ở Sài Gòn, Biên Hoà với đối tượng kẻ thù là mới xâm lược Mỹ, ông đã góp nhiều công sức xây dựng lực lượng pháo binh Miền không ngừng lớn mạnh và lập được nhiều chiến công xuất sắc, nhất là trong các chiến dịch lớn như Đồng Xoài, Bình Giã, Mậu Thân, xuân-hè 1972, mùa xuân 1975 kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Khi cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam hạ màn, Tư lệnh phó Quân đoàn 4 chỉ huy đồng đội tiến vào giải phóng Phnôm Pênh, chấm dứt cuộc diệt chủng đẫm máu của bọn đồ tể man rợ Polpot-Iengsary.

Chính ở thời điểm giải phóng và làm nhiệm vụ quốc tế giúp đất nước Campuchia hồi sinh trên đống tro tàn, văn nghiệp của Thiếu tướng Bùi Cát Vũ được dịp thăng hoa. Ông viết thành công các tác phẩm: Đường vào Phnôm Pênh, Vòng hoa sứ trắng, kịch bản phim “Thành phố có người” (đã dựng thành phim) và đặc biệt là phim “Cơn lốc đen” khắc hoạ tội ác tày trời của tập đoàn phản động diệt chủng Campuchia. Truyện “Vòng hoa sứ trắng” được giải thưởng văn học. Ngoài ra ông còn viết truyện thiếu nhi, trong đó có tác phẩm Cát bụi Sài Gòn được giải thưởng văn học thiếu nhi của Hội nhà văn.

Từ năm 1980-1981, ông lên giữ chức Phó tư lệnh Quân khu 7, nhưng vẫn cần cù cày xới trên những trang văn đầy hơi thở của cuộc sống. Ông viết văn hay nhưng nói chuyện thì rất “buồn ngủ”, đó là một cá tính nổi bật của vị tướng nhà văn. Sau này ông bị đau nặng và đã qua đời vào tháng 3-2002 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Comments