3.1. Thời khai phá (trước 1698 đến 1802)

III.1. Thời khai phá (trước 1698 đến 1802):

Chỉ được hình dung một cách không đầy đủ qua một ít tư liệu quốc sử và thư từ của các nhà truyền giáo.

Năm 1623, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho đặt 2 trạm thuế ở Bến Nghé, Sài Gòn ắt là để thu thuế các thần dân của mình đã sinh sống, buôn bán thành nếp ở đây. Xứ Mỗi Xuy còn gọi là Mô Xoài (thuộc Trấn Biên, nay thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) có lẽ cũng đã hình thành các nhóm cư dân Việt chung sống với người Cao Miên từ trước năm 1658. Đến năm 1679, thêm sự xuất hiện người Hoa của nhóm Trần Thượng Xuyên ở Cù Lao Phố. Thời kỳ này, chủ yếu là các cuộc khẩn hoang tự phát, và trao đổi thổ sản với hình thức theo nhóm lẻ tẻ ở gò đồi ven sông, biển.

Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý phương Nam, lập huyện Phước Long, Tân Bình, định sổ bộ thuế khóa, đinh điền; việc chuyển cư khẩn hoang được thúc đẩy cùng với việc định rõ biên giới, quản lý lãnh thổ, ổn định xã hội. Dân số cả Đồng Nai - Gia Định hơn 4 vạn hộ. Kinh tế ruộng rẫy là chính. Ruộng có Sơn điền (nương rẫy), và thảo điền (ruộng lúa nước), thảy đều một vụ mùa, ruộng sớm gieo tháng 5 âm lịch, gặt tháng 9. Ruộng muộn gieo tháng 6, gặt tháng 11. Nông sản được nhắc đến thường là: Lúa tẻ (gồm lúa canh hạt nhỏ không dẻo và lúa thuật hạt tròn, lớn, dẻo), đậu, bắp, dưa, mía, cau...

Diện tích canh tác không tính được, tác giả Phủ biên tạp lục (Lê Quí Đôn) cho rằng cả vùng Đồng Nai - Gia Định thực canh hơn 787 mẫu. Năng suất lúa nước ở Phiên An, Biên Hòa thời này được Trịnh Hoài Đức cho là cao so với đương thời một hộc thóc giống thu hoạch được một trăm hộc. Đời sống sinh hoạt được Phan Huy Chú mô tả: Thời Chúa Nguyễn Phước Châu (1675 - 1725), Đồng Nai là chỗ đất tốt được lập dinh Trấn Biên mở đất nghìn dặm, Chúa mới cho "... chiêu mộ những người có vật lực ở Điện Bàn, Quảng Nam đã di cư vào đấy. Họ chặt cây, vỡ đất hoang thành ra bằng phẳng đất tốt, nước nhiều, tùy sức dân ai làm được bao nhiêu thì làm. Chúa lại sai bắt trai gái của những người Mọi ở đầu nguồn đưa đến bán, cho làm nô tỳ, được tùy tiện lấy nhau, rồi sinh ra nhiều người. Họ chăm làm ruộng sinh nhai cho nên cấy được rất nhiều thóc và có nhiều ruộng tốt. Các nhà giàu hoặc có chỗ 40, 50 nhà, hoặc có chỗ 20, 30 nhà. Mỗi nhà có đến 50, 60 điền tốt, trâu bò có đến 300 con, cày bừa, trồng cấy, gặt hái không lúc nào rỗi"[1][1] (1).

Để đạt được cuộc sống như thế, lớp người khai phá thời này đã phải trải qua quá trình gian khổ đấu tranh sinh tồn với xứ lạ, thú dữ, chướng khí rừng thiêng. Tâm trạng âu lo buổi đầu còn đậm dấu ấn trong văn chương truyền khẩu: 

Đến đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu phải sợ con cá vùng phải kinh. 

Đồng Nai xứ sở hãi hùng
Dưới sông sấu lội trên rừng cọp um. 

Cùng với đời sống kinh tế, với "tài sản" văn hóa mang theo, lớp người khai phá ở Đồng Nai dựng miếu lập chùa, sinh hoạt giao lưu văn hóa để bình ổn đời sống tinh thần sao cho vừa không xa cội nguồn vừa thích ứng với vùng đất mới. Tôn giáo cũng theo chân người khai phá, đặt trú sở ở Đồng Nai, gắn với tín ngưỡng dân gian. Miếu Quan Đế xây 1684 ở Cù Lao Phố, Văn miếu Trấn Biên dựng ở Bình Thành - Tân Lại năm 1715; chùa "Sắc tứ hộ quốc" ở Tân Vạn do Nguyễn Cửu Vân cho dựng năm 1734; nhà thờ Bến Gỗ xuất hiện trước năm 1710... cho thấy sự giao lưu, dung hợp tín ngưỡng tôn giáo từ khá sớm. Đó là một trong những nét đáng chú ý trong đời sống văn hóa tinh thần của người Đồng Nai.



([1][1]) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, tổ phiên dịch Viện sử học Việt Nam dịch và chú giải, tái bản, NXB KHXH, Hà Nội, 1992, trang 170.

Comments