3.3. Thời thuộc Pháp (1861 - 1945)

III.3. Thời thuộc Pháp (1861 - 1945):

Chiến tranh xâm lược và sự cai trị của thực dân Pháp gây xáo trộn, khiến nhiều đổi thay trong đời sống kinh tế - xã hội ở Biên Hoà - Đồng Nai nói riêng, cả Nam kỳ nói chung. Từ 1862, Biên Hòa trở thành nhượng địa thuộc Pháp. Cùng với việc đàn áp phong trào chống Pháp, thực dân Pháp từng bước ra sức làm biến đổi văn hóa bản địa theo kiểu văn hóa Pháp: Đốt phá Văn miếu, hạn chế sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng truyền thống; khuyến khích việc truyền đạo Công giáo, phân chia lại địa giới hành chính và đặt quan cai trị đến xã, thôn; dần đưa chữ Pháp, chữ quốc ngữ thay thế chữ Hán trong hành chánh và giáo dục; tổ chức giáo dục đào tạo từ bậc tiểu học đều theo kiểu Pháp nhằm phục vụ cho bộ máy cai trị của nhà cầm quyền Pháp; từ 1877, áp dụng hình luật nước Pháp. Tuy nhiên, nhà cầm quyền thực dân Pháp cũng làm xuất hiện ở Biên Hòa - Đồng Nai những cơ sở tiến bộ: Có trường dạy nghề (Trường bá nghệ Biên Hòa, 1903); có nơi để gửi đào tạo y tá, nữ hộ sinh cho trạm y tế xã (Trường Y tế thực hành Nam kỳ, 1903), có bệnh viện chữa trị người bị tâm thần (Nhà thương điên Biên Hòa, 1916), có hệ thống truyền tin (liên lạc hữu tuyến Biên Hòa - Sài Gòn đầu tiên ngày 27/5/1962); có tuyến đường sắt qua Biên Hòa (tuyến Sài Gòn - Biên Hòa năm 1903, năm 1905 đến Giá Ray, Xuân Lộc; năm 1913 thì đến Nha Trang, Khánh Hòa).

Ngay khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông, thực dân Pháp nhanh chóng khai thác kiếm lợi, việc đầu tiên là cố tìm cách khôi phục sản xuất nông nghiệp, đo đạc lại ruộng đất, kêu gọi đăng ký đất đai, cấp bằng khóan, khuyến khích đầu tư nuôi trồng. Nhân dịp này, tầng lớp quan lại, hương chức, hội tề giàu có hoặc thế mạnh đứng ra thâu tóm đất đai, xuất hiện tầng lớp điền chủ thế lực hợp sức với bộ máy cầm quyền thực dân chi phối đời sống kinh tế xã hội.

Đến năm 1873, sản xuất nông nghiệp mới có dấu hiệu tăng trưởng (tăng 3.066,5 ha so với năm 1871) nhưng căn bản vẫn không đủ lương thực, phải mua gạo từ các tỉnh miền Tây. Những nông sản khác: Khoai, đậu, bắp, thuốc lá, mía, cau... khi được khi thất vô chừng. Dấu hiệu dân nghèo bỏ đất đi làm mướn ngày càng tăng. Đất tập trung vào tay người giàu. Sự phân hóa giàu nghèo càng thêm rõ nét.

Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân làm xuất hiện các Colon. Colon đầu tiên ở tỉnh Biên Hòa là Michelet, được khẩn 716 ha đất ở Lạc An từ năm 1866. Đến năm 1901, ở Biên Hòa có cả thảy 13 Colon. Một số giống cây mới được đưa vào thử nghiệm, thành công nhất là cà phê và cao su.

Cà phê có nguồn gốc ở Nam Mỹ, được trồng thử nghiệm ở Thủ Dầu Một năm 1897, thành lập đồn điền cao su đầu tiên Suzannah ở Dầu Giây năm 1905; đến năm 1923, toàn tỉnh Biên Hòa có 30 đồn điền cao su qui mô lớn với tổng diện tích chiếm hữu 21.338 ha, trong đó diện tích thực trồng cao su 4.887 ha.

Các ngành nghề thủ mỹ công truyền thống được vận hành từ thời khai phá chung số phận với nghề ruộng rẫy, mãi đến đầu thế kỷ XX mới có dấu hiệu phát triển như: Gạch gói ở Tân Vạn, An Hòa, Hóa An; chế tác đá ở Tân Lại, khai thác đá xây dựng ở Châu Thới, Bửu Long, Bình Trị, Hóa An. Nghề rèn kim loại ở An Hòa, đúc đồng ở Cù Lao Phố, đúc lưỡi cày ở Bình Thạnh; nghề mộc ở Tân Uyên, Long Thành... Tuy nhiên các ngành nghề này đều tự phát trong dân, kỹ thuật lạc hậu và năng suất không cao.

Nghề được khởi sắc nhất là khai thác gỗ. Năm 1924, tỉnh Biên Hòa có 500.000 ha rừng, trong đó, 337.000 ha chưa khai thác, và đây là miếng mồi ngon cho nanh vuốt thực dân. Từ năm 1897, nhà tư sản Blondel đã được phép khai thác gỗ ở Trảng Bom, Xuân Lộc. Riêng năm 1923, số gỗ được khai thác là 180.000 m3. Lợi ích từ gỗ béo bở dẫn đến việc lập Nhà máy chế biến gỗ BIF tại Tân Mai năm 1905, đây là nhà máy công nghiệp cỡ lớn đầu tiên ở Biên Hòa. Cũng nơi đây, đội ngũ công nhân công nghiệp ở Biên Hòa xuất hiện, sớm trưởng thành trong phong trào đấu tranh; từ đấu tranh tự phát đến đấu tranh cách mạng.

Ngoài nhà máy BIF, công nghiệp ở Biên Hòa - Đồng Nai gần như không đáng kể. Từ năm 1920 - 1930, vài xí nghiệp chế biến mủ cao su được lập ở đồn điền cao su An Lộc, Hàng Gòn, Cẩm Mỹ... nhưng chủ yếu chỉ sơ chế để xuất thô. Trước đó, năm 1870 Kresser có thử đầu tư công nghiệp sản xuất đường mía, nhưng thất bại, năm sau đóng cửa. Năm 1880, Lancelot lại xây Nhà máy đường Lạc An hoạt động được bốn năm, thua lỗ, lại dẹp. Trước 1900, một Nhà máy sơn vecni được thành lập cũng chỉ hoạt động trong một thời gian gắn.

Nói chung, thời thuộc Pháp (1861 - 1945) kinh tế - xã hội ở Biên Hòa - Đồng Nai diễn ra dưới chiếc gậy chỉ huy của thực dân Pháp, có xuất hiện nhiều nhân tố mới nhưng chỉ phát triển những mặt có lợi cho mục đích khai thác thuộc địa. Đời sống tinh thần của nhân dân do vậy mà bất ổn, luôn xung động trong mâu thuẫn giữa tinh thần dân tộc bị tổn thương và chủ nghĩa thực dân đang cầm quyền. Các phong trào chống Pháp tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, công khai vũ trang hoặc hội kín, hoặc vận động bất hợp tác. Hoàn cảnh này là thời cơ tốt để lý luận cách mạng theo người cộng sản bám rễ trong công chúng.

Comments