3.5. Thời chống Mỹ (1955 - 1975)

III.5. Thời chống Mỹ (1955 - 1975):

Sau Hiệp định Gienève, đế quốc Mỹ thay chân Pháp dựng chế độ tay sai Ngô Đình Diệm để xâm lược miền Nam. Biên Hòa - Đồng Nai cùng Nam bộ vừa thóat nanh vuốt này lại mắc vào nanh vuốt khác.

Ngay khi cầm quyền, Mỹ - Diệm tính ngay các biện pháp để quản lý ruộng đất, năm 1955 và 1956 ban hành liên tục ba đạo dụ nhằm cướp đoạt ruộng đất của nông dân đã được cách mạng cấp thời 9 năm, khôi phục quyền lợi và vai trò của địa chủ, tách người nông dân khỏi môi trường cách mạng, đưa trở lại vị trí làm thuê. Nhưng đến năm 1961, trên căn bản, nông nghiệp vẫn lạc hậu, thủ công, phụ thuộc thiên nhiên, kỹ thuật lạc hậu và năng suất rất thấp.

Diện tích lúa có tăng nhưng năm 1957 (34.850 ha) chỉ bằng 78,85 % của năm 1930, năm 1961 cũng không khá hơn 1957. Tuy nhiên, nhờ nguồn phân bón viện trợ của Mỹ sản lượng lúa có tăng, năm 1961 gấp 2,3 lần năm 1956. Những năm 1959 - 1962, các cây công nghiệp chủ lực: Cà phê, thuốc lá, mía có tăng diện tích, sản lượng, mức tăng không đáng kể. Từ năm 1962 trở đi, Mỹ - Diệm thực hiện thủ đoạn "ấp chiến lược" gom dân nhằm "tát nước bắt cá" nhiều thôn làng bị bỏ hoang hoặc bị phá hủy, nông nghiệp lại lao đao, giảm sút.

Rồi để mua chuộc lòng dân, Mỹ - Thiệu áp dụng chính sách gọi là "canh tân nông nghiệp"; năm 1970 ban hành luật "Người cày có ruộng" nhưng thực chất chưa phải đã quan tâm đến số phận của người dân nông thôn, mà nhắm vào nguồn thu thuế cho bộ máy chiến tranh. Tuy nhiên từ cuộc "canh tân" này, một khối lượng máy móc, xăng dầu, phân bón khá lớn được đưa vào sản xuất nông nghiệp. Các con số: Lúa, bắp, đậu, khoai, trâu bò, heo, gà ở Biên Hòa, Long Khánh có dấu hiệu tăng trưởng, nhưng vẫn không đủ cung ứng nội tỉnh cho 343.660 nhân khẩu ở Biên Hòa và 143.518 nhân khẩu ở tỉnh Long Khánh.

Từ năm 1970 trở đi, do ảnh hưởng của cách mạng xanh trên thế giới, nông nghiệp Biên Hòa, Long Khánh được tiếp xúc với kỹ thuật mới nên năng suất và sản lượng khá hơn. Ví dụ, với giống lúa mới, thần nông, năng suất lúa tăng gấp 2,5 lần giống lúa cũ, đưa sản lượng lúa năm 1973 lên 141.570 tấn, trong đó riêng lúa thần nông chiếm 112.500 tấn. Các nông sản khác như: Rau, đậu, khoai, cà phê, thuốc lá... đều có giống mới. Chăn nuôi gia súc cũng theo bước trồng trọt mà nâng dần sản lượng nhờ giống và kỹ thuật chế biến thức ăn mới. Từ năm 1969, ở Biên Hòa đã xuất hiện mô hình trang trại chăn nuôi heo, bò sữa, gà công nghiệp... theo hướng sản xuất hàng hóa. 370 trại heo với 52.225 con và 24 trại gà với 172.160 con (số liệu 1970) chiếm hơn 1/3 tổng số đàn gà, heo đã có.

Nền nông nghiệp "canh tân" thời Mỹ - Thiệu chỉ có vậy; chú ý nhiều đến giống, kỹ thuật từ bên ngoài nhưng thiếu chăm sóc cho yếu tố nội lực như sức dân, thủy lợi, đất đai.

Ở các lĩnh vực khác, tiểu thủ công nghiệp vẫn gồm các ngành nghề truyền thống tiêu dùng là chính. Đáng kể là sự xuất hiện của các cơ sở công nghiệp. Năm 1959, Nhà máy giấy COGIDO và Nhà máy giấy Tân Mai đi vào hoạt động. Sau khi xây dựng xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa năm 1961, thêm nhiều nhà máy khác mọc lên ở khu Bình Đa, An Hảo. Tháng 6 năm 1961, chính quyền Sài Gòn lập Trung tâm khuyếch trương kỹ nghệ SONADEZI, lấy 511 ha đất đồi ở Tam Hiệp, Long Bình quy hoạch khu kỹ nghệ; sau đó ký sắc lệnh số 49 - KT ngày 21 tháng 5 năm 1963 lập Khu kỹ nghệ Biên Hòa; khu công nghiệp đầu tiên của Nam bộ. Nhiều nhà máy lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam đã khánh thành tại đây. Đến năm 1974, Khu kỹ nghệ Biên Hòa có 42 nhà máy, xí nghiệp xây dựng trên diện tích 1.229.515 m2 với tổng vốn 7.470 triệu đồng (thời giá) sử dụng 6.355 công nhân.

Ngoài ra, năm 1976, ở tỉnh Biên Hòa, Long Khánh còn có nhiều cơ sở công nghiệp khác với qui mô nhỏ hơn; đáng kể là công nghiệp khai thác gỗ (83 trại cưa ở Biên Hòa, 12 trại ở Long Khánh) và xay xát, sơ chế nông sản (119 ở Biên Hòa, 15 ở Long Khánh)...

Trước năm 1975, cơ sở hạ tầng ở Biên Hòa, Long Khánh khá tốt trong khu vực Nam bộ, các đô thị đều có máy phát điện; có 1.257 km đường bộ nối với các tỉnh giáp ranh, 87,5 km đường sắt đi qua địa bàn với 11 ga, nguồn điện Đa Nhim, Nhà máy nước Biên Hòa với công suất vừa đủ cho sinh hoạt đô thị và khu kỹ nghệ.

Sự nghiệp y tế, văn hóa, giáo dục thời này chủ yếu khai thác, sử dụng cơ sở được xây dựng thời Pháp. Việc nâng cấp, xây dựng cơ sở mới có tiến triển nhưng chậm hơn yêu cầu. Mãi đến năm 1972, Ty Y tế Biên Hòa mới có 6 chi y tế quận, 13 bệnh xá, 10 nhà hộ sinh và 59 trạm y tế ấp.

Trường học có số liệu khá hơn. Niên học 1974 - 1975, tỉnh Biên Hòa có 35 trường (6 công lập, 5 tỉnh hạt, 3 bán công, 21 tư thục) với 423 lớp, 672 giáo viên, 27.442 học sinh; tỉnh Long Khánh có 15 trường (7 công lập, 2 bán công, 6 tư thục). Điểm sinh hoạt văn hóa có vài rạp ở Biên Hòa như: LiDo, Biên Hùng, Thanh Bình, Trần Điền... của tư nhân chủ yếu là để chiếu phim.

Đế quốc Mỹ áp đặt nhiều thủ đoạn khủng bố, cách ly, diệt cộng nên những năm 1950 - 1959, cơ sở cách mạng bị tổn thất, chủ yếu sống trong lòng dân, lòng đất, chưa làm chủ trọn vẹn vùng lãnh thổ nào như thời kháng chiến chống Pháp. Sức mạnh của cách mạng ở chỗ tuyên truyền, vận động, xây dựng các tổ chức cách mạng, phát động phong trào đấu tranh chống Mỹ; ban đầu đấu tranh chính trị thể hiện qua các cuộc biểu tình của công nhân, nông dân, học sinh; dần tiến lên dùng bạo lực phá nhà lao Tân Hiệp, đánh Mỹ ở Nhà Xanh, khôi phục dần các vùng căn cứ Chiến khu Đ, Chiến khu Rừng Sác rồi làm chủ tình hình các vùng nông thôn, rừng núi và tham gia tổng tiến công góp phần giải phóng miền Nam. Phương thức sinh hoạt ở vùng giải phóng vẫn như thời kháng chiến chống Pháp: Chiến đấu và sản xuất, kết hợp sự hỗ trợ của nhân dân, tự lực giải quyết lương thực, chữa bệnh và các nhu cầu khác.

Thời kỳ 1955 - 1975 ác liệt và kéo dài hơn thời kháng chiến chống Pháp. Bằng viện trợ của Đế quốc Mỹ, chủ yếu cho quân sự, có dành phần nhỏ cho phát triển kinh tế, bức tranh kinh tế - xã hội ở Biên Hòa, Long Khánh có bước chuyển biến, đó là điều dễ hiểu, nhưng sản xuất nông nghiệp căn bản vẫn chưa đủ tiêu dùng. Với sự ra đời của Khu kỹ nghệ Biên Hòa và sự phát triển hạ tầng thuận lợi cho công nghiệp, vùng đất Đồng Nai (gồm tỉnh Biên Hòa và Long Khánh) đã bắt đầu với ưu thế của mình hướng đến con đường phát triển kinh tế theo cơ cấu công - nông nghiệp.

Comments