3.6. Thời kỳ xây dựng và phát triển (1975 - 1995)

III.6. Thời kỳ xây dựng và phát triển (1975 - 1995):

Thời kỳ này thể hiện chuyển biến mạnh mẽ, đồng bộ của bức tranh kinh tế xã hội Đồng Nai trong điều kiện hòa bình, độc lập, tự chủ, thống nhất đất nước. Công cuộc xây dựng và phát triển liên tục trong 20 năm được tiến hành qua 4 kế hoạch 5 năm: 1976 - 1980, 1981 - 1985, 1986 - 1990, 1991- 1995; gắn liền với 4 kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh.

Kế hoạch 5 năm 1976 - 1980 (nhiệm kỳ I): Tập trung vào nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và cải tạo các thành phần kinh tế theo hướng xã hội chủ nghĩa; vận động nhân dân hồi hương, định cư, định canh, khai hoang phục hóa, xây dựng các mô hình kinh tế quốc doanh và hợp tác xã, xây dựng các công trình thủy lợi như đập chứa nước, đê ngăn mặn, trạm bơm điện phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Trong giai đoạn này tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân mỗi năm 9,9 %. Do nóng vội và chủ quan, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp thiếu sức sống và việc cải tạo xã hội chủ nghĩa thiếu động viên đối với thành phần kinh tế cá thể và tư sản dân tộc.

Kế hoạch 5 năm (1981 - 1985) (nhiệm kỳ II): Rút được bài học kinh nghiệm, cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa mềm dẻo hơn, củng cố và mở rộng cơ sở kinh tế quốc doanh sát hợp với điều kiện thực tế, thực hiện chỉ thị 100 của Ban Bí thư khóan sản phẩm đến người lao động nông nghiệp; phát huy quyền chủ động sản xuất của các xí nghiệp quốc doanh. Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân tăng 6,4 % năm, đặc biệt kinh tế cá thể tăng 6,2 %.

Kế hoạch 5 năm 1986 - 1990 (nhiệm kỳ III): Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng được cụ thể hóa ở địa phương, chuyển đổi cơ chế quản lý, sửa đổi những thiếu sót, hạn chế đã có, thực hiện kế hoạch bằng năng lực nội sinh, ít dựa vào bao cấp và vay nợ nước ngoài. Tỷ lệ tăng trưởng 2,7 % năm mang ý nghĩa thực chất.

Kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 (nhiệm kỳ IV): Gặt hái kết quả đổi mới của nhiệm kỳ trước, bước vào giai đoạn "tăng tốc" với nhịp độ tăng trưởng cao, ổn định; trừ năm 1992 do mất mùa; 5 năm liền điều tăng trưởng vượt kế hoạch, tổng sản phẩm trên địa bàn tăng 17,7 %, gần gấp đôi con số bình quân của cả nước (9,5 %).

Diễn trình phát triển 20 năm của đời sống kinh tế xã hội ở Đồng Nai đi từ sản xuất lương thực không đủ ăn đến tự túc và có nông sản xuất khẩu, chuyển đổi từ cơ cấu nông - công nghiệp sang cơ cấu công - nông nghiệp - dịch vụ rồi công nghiệp - dịch vu - nông nghiệp luôn giữ mức tăng trưởng xứng đáng là vùng kinh tế trọng điểm.

Thử lấy năm 1995 làm thời điểm đối chứng, kết quả cho thấy các mặt kinh tế xã hội đều phát triển đồng bộ, vững chắc:

- Về nông nghiệp: Sản lượng lương thực qui thóc đạt 556.164 tấn, bình quân tăng 20,5 nghìn tấn năm, tốc độ tăng 6,6 % mỗi năm; đưa bình quân lương thực đầu người lên mức 292 kg (so với 1976: 178,7 kg). Kết quả ấy nhờ các biện pháp tăng diện tích gieo trồng (đạt 67,705 ha) thay đổi cơ cấu mùa vụ, đưa giống mới vào gieo cấy đại trà, lập các vùng chuyên canh, phân bón và phòng trừ sâu bệnh tốt, năng suất lúa bình quân 34,2 tạ/ha, tăng gấp đôi so với năm 1976.

Nông nghiệp không phải độc canh cây lúa, còn phát triển các loại cây màu lương thực; bắp và khoai chiếm vị trí quan trọng, năm 1995 với 63.766 diện tích gieo trồng, đạt 250.578 tấn bắp, tăng gần 10 lần năm 1976; trong đó Xuân Lộc, Tân Phú, Thống Nhất là những huyện thành công nhất về cây bắp. Cây mì cũng vậy, đạt 206.250 tấn, tăng gấp hơn 3 lần 20 năm trước. Cây công nghiệp cũng phát triển với tốc độ cao, rõ nhất là cao su và cà phê. Với diện tích 42.521 ha và sản lượng 27.600 tấn, cao su đạt mức tăng trưởng hơn gấp đôi năm 1976. Các con số về cà phê cũng cho thấy mức tăng trưởng tương tự như vậy.

Chăn nuôi phát triển cùng nhịp độ với trồng trọt nhờ nguồn thức ăn dồi dào, chuyển dần từ chăn nuôi tự nhiên sang sản xuất hàng hóa, nhờ vậy năm 1995, đàn heo 378,6 nghìn con, đàn gà 3,4 triệu con, đàn bò 45,3 nghìn con... gấp nhiều lần hơn 1976.

- Về công nghiệp: Chính quyền cách mạng tiếp quản gần như nguyên vẹn hạ tầng và cơ sở công nghiệp của chế độ cũ, nhưng trong năm đầu, sản xuất công nghiệp đình trệ vì khó khăn thiếu nguyên liệu, vật tư, phụ tùng, công nhân thiếu việc làm. Từ sau nghị quyết của Tỉnh Đảng bộ lần thứ nhất, sản xuất công nghiệp được định hướng đầu tư và quản lý, phát triển khởi sắc dần. Trải 20 năm, sự phát triển thể hiện ở tốc độ tăng truởng, tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân ngày càng cao, cơ cấu và phân bổ các cơ sở công nghiệp đồng bộ, hợp lý hơn, không gian công nghiệp và các ngành công nghiệp ngày càng phát triển vững chắc, dẫn đến việc hình thành các khu công nghiệp qui mô lớn. Tốc độ tăng trưởng bình quân của công nghiệp trên địa bàn 20 năm qua là 22,1 % năm, trong đó công nghiệp trung ương trên địa bàn tăng 30,9 % năm, công nghiệp địa phương tăng 17,5 % mỗi năm. Cao nhất là giai đoạn 1991 - 1995, tăng mỗi năm 32,3 % (trung ương trên địa bàn: 32,7 %, địa phương 31,5 %).

Do tốc độ tăng trưởng nhanh, tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội cũng tăng từ 10,1 % của năm 1976 lên 19,2 % ở năm 1990 và đạt 33,4 % năm 1995. Con số này gắn liền với qui mô sản xuất của các cơ sở, từ gia công, lắp ráp là chủ yếu đến trang bị hiện đại (như Thủy điện Trị An, Nhà máy đường La Ngà, Nhà máy giấy Tân Mai); từ tiêu thụ nội địa vươn đến xuất khẩu. Cơ cấu các ngành công nghiệp và hình thức quản lý sản xuất công nghiệp tiến bộ dần, những năm đầu, công nghiệp quốc doanh là chủ yếu đến năm 1995 có 4.785 cơ sở với giá trị tổng sản lượng gấp 18,6 lần năm 1976; từ năm 1992, thêm sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài đi vào hoạt động, góp phần đưa tỉ trọng công nghiệp ngoài quốc doanh lên 30,8 % so với năm 1976: 23,1 % và năm 1980 (cải tạo công thương nghiệp): 6,9 %.

Sự phát triển đa dạng của các ngành công nghiệp ở Đồng Nai cộng với không gian công nghiệp nhiều thuận lợi dẫn đến sự hình thành các khu công nghiệp tập trung. Ngoài khu công nghiệp Biên Hòa I được tiếp quản nâng cấp gồm 76 doanh nghiệp; đã qui hoạch thêm 16 khu công nghiệp khác với tổng diện tích 8.067 ha chia làm hai tuyến, tuyến 1 gồm 13 khu (kể cả khu Biên Hòa 1) trên địa bàn Biên Hòa, Thống Nhất, Nhơn Trạch, Long Thành; tuyến hai gồm 4 khu trên địa bàn Xuân Lộc, Long Khánh, Định Quán, Tân Phú. Các ngành công nghiệp mũi nhọn: Điện, luyện kim, kỹ thuật điện tử, hóa chất, vật liệu xây dựng, giấy, chế biến lâm sản, chế biến lương thực thực phẩm, da giày và may mặc... đã và đang có mặt với qui mô lớn dần trở thành chủ lực thể hiện thế mạnh của công nghiệp Đồng Nai trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đang trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

- Về cơ sở hạ tầng và dịch vụ: Cơ sở hạ tầng được chú trọng đầu tư để phục vụ sản xuất và sinh hoạt xã hội. Giai đoạn 1991 - 1995 đã đầu tư xây dựng cơ bản: 5.479,9 tỷ đồng, trong đó 53,8 % bằng nguồn vốn trong nước và 46,2 % nguồn vốn nước ngoài. Ngày 15/12/1990 thành lập Công ty phát triển khu công nghiệp (SONADEZI) với chức năng xây dựng, tu bổ, phát triển cơ sở hạ tầng của các khu công nghiệp. Các ngành điện, nước, giao thông, bưu điện... tăng trưởng với tốc độ cao. Ngành điện phát triển đồng bộ về công suất, hệ thống đường dây và mạng lưới sử dụng điện cho nông thôn. Năm 1995 đạt công suất 429,8 MW, gấp 119,3 lần công suất năm 1976, xây dựng 1.411,3 km2 đường dây các loại và 1.331 trạm biến áp. Đến năm 1994 thì điện đủ dùng cho sản xuất công nghiệp và sinh hoạt đô thị, đưa về 83% số xã nông thôn (năm 1998 đưa điện về trong nông thôn 100% số xã trong tỉnh).

Nước được khai thác từ nguồn tài nguyên dồi dào của tỉnh. Việc cấp nước đáp ứng nhu cầu sinh hoạt đô thị. Nhà máy nước Biên Hòa và Nhà máy nước Long Khánh có tổng công suất 12.000 m3 trên ngày, cung cấp bình quân trên 9 triệu m3 trên năm. Riêng Biên Hòa, hệ thống đường dẫn nước dài 74,9 km, đưa nước đến các vùng cư dân nội và ngoại thành. Tuy nhiên, nước cung cấp vẫn chưa đủ nhu cầu các mặt, nhất là nhu cầu sản xuất công nghiệp. Trong kế hoạch, sẽ triển khai việc đầu tư xây dựng nhà máy nước Thiện Tân, nâng công suất cấp nước lên 100.000 m3 ngày/đêm.

Hệ thống giao thông tiếp quản từ chế độ cũ được giữ nguyên vẹn, nâng cấp và khai thác sử dụng tốt. Trong 20 năm xây dựng, phát triển, nhiều công trình giao thông được xây mới, đến năm 1995, trong tỉnh có tất cả 889 tuyến đường với tổng chiều dài 3.067,8 km; trong đó 4 tuyến đường quốc lộ do trung ương quản lý dài 232,4km. Đáng kể, hệ thống giao thông nông thôn ở Đồng Nai được xây dựng vào loại tốt trong khu vực, 99% số xã có đường ô tô đến tận vùng xa nhất, đa phần là đường nhựa, và xe có trọng tải trên 5 tấn đến được 68% trong số 163 xã phường; nhờ vậy mà nông sản hàng hóa lưu thông được dễ dàng. Đường bộ còn phải kể đến 87,5Km đường sắt thống nhất với 11 ga qua địa bàn tỉnh. Đường hàng không được khai thác từ sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất chỉ cách Biên Hòa 30Km; sân bay Biên Hòa với qui mô lớn và trong tương lai là sân bay quốc tế được qui hoạch tại Bình Sơn (Long Thành). Hệ thống đường thủy góp phần không nhỏ trong giao lưu quốc tế và lưu thông hàng hóa với tổng chiều dài 424,3 km. Hệ thống cảng gồm: Cảng Đồng Nai, cảng Gò Dầu, cảng Vedan... có vị trí thuận lợi, đón được tàu vài nghìn tấn, công suất nửa triệu tấn hàng hóa /năm.

Ngành Bưu điện có bước phát triển nhanh nhạy, thích ứng với nhu cầu xã hội và sớm hiện đại hóa. Từ cơ sở lạc hậu tiếp quản năm 1975 với một tổng đài 200 số và 1 cặp viba 24 kênh cho 200 máy thuê bao, chủ yếu ở địa bàn thị xã Biên Hòa; sau 20 năm toàn tỉnh đã có 70 bưu cục, 18 tổng đài điện thoại với dung lượng 22.136 số (1), 790 km cáp điện thoại, 17 nghìn máy thuê bao; so với năm 1976, số lượng và chất lượng đều tăng gấp đôi. Sau 1995, mức độ phát triển còn cao và nhanh hơn, Bưu điện tỉnh đưa vào sử dụng các loại máy móc hiện đại, trang bị tổng đài tự động đến tất cả các huyện thị từ năm 1990, đến năm 1996 thì nâng lên tổng đài điện tử kỹ thuật số, bình quân 100 người dân có 1 máy điện thoại. Bưu điện phát triển khiến thông tin liên lạc nhanh, rộng, chính xác, tạo điều kiện tốt cho kinh tế xã hội phát triển theo hướng hiện đại hóa.

- Về các lĩnh vực xã hội: Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng dần theo nhịp độ phát triển kinh tế. Giai đoạn 1976 - 1985 còn khó khăn do hậu quả chiến tranh và tình trạng bao cấp, chậm đổi mới. Từ năm 1986, sự chuyển biến thấy rõ, kết quả điều tra hộ giàu nghèo năm 1993 (theo tiêu chuẩn chung toàn quốc) cho thấy mức thu nhập của 5 loại hộ (cao, trên trung bình, trung bình, dưới trung bình, nghèo) đều cao hơn con số chung của cả nước. Ví dụ, số hộ thu nhập cao ở Đồng Nai (3,27 % số hộ điều tra) đạt 994,1 nghìn đồng/tháng, so với mức chung của toàn quốc là 530,2 nghìn đồng/tháng (chênh lệch gần gấp đôi). Nhìn chung, bình quân thu nhập chung của tỉnh đạt 139 nghìn đồng/tháng, bằng 116,8 % mức thu nhập bình quân cả nước. Con số ấy cho thấy mức thu nhập của người dân Đồng Nai luôn cao hơn mức trung bình. Các con số khác như hộ có tivi, đầu video, máy thu thanh, xe máy đều cũng vậy. Như số hộ có tivi, đầu video chẳng hạn, cả nước 21,83 %; ở Đồng Nai 36,94 %.

Khu vực nông thôn có chuyển biến rõ nhất. Số nhà ở từ 101.297 căn của năm 1976 tăng lên 306.747 căn trong năm 1994; trong đó, hơn 50 % nhà kiên cố và bán kiên cố. Đáng lưu ý là, nông thôn Đồng Nai tiếp cận nhanh với kỹ thuật, máy móc phục vụ sản xuất. Số liệu điều tra năm 1996 cho thấy khu vực nông thôn có 2.403 máy kéo lớn 4.476 máy kéo nhỏ, 780 máy phát điện, 2.930 động cơ chạy xăng dầu, 895 tàu thuyền vận tải, 37.544 máy bơm nước, 1.366 máy xay xát, 308 máy tuốt lúa và 137 máy nghiền thức ăn gia súc. Cũng ở khu vực nông thôn thời điểm này, có 117.284 máy thu thanh, 88.716 máy thu hình, 59.307 xe gắn máy. Bình quân 100 hộ gia đình khu vực nông thôn có 43 máy thu hình, 33 máy thu thanh, 22 xe gắn máy. Những con số này cho thấy năng lực sản xuất, mức sống vật chất tinh thần của nhân dân Đồng Nai phát triển với nhịp độ cao.

Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế được chăm sóc đạt kết quả tương ứng với tiềm lực kinh tế xã hội. Thiết chế văn hóa ở khu dân cư tập trung được xây dựng đủ mạnh: Các rạp Biên Hùng, LiDo, Khánh Hưng, Thanh Bình, Long Thành, xây thêm rạp 30 tháng 4 ở Tân Biên... được tiếp quản, đưa vào sử dụng chiếu phim và biểu diễn sân khấu; thành lập Nhà bảo tàng sưu tập hơn 12.000 hiện vật, đến năm 1998 cơ sở thay mới khánh thành trưng bày tầng thứ nhất; 20 di tích được xếp hạng quốc gia; xây 3 thư viện sau đó nâng lên 14 thư viện tỉnh, huyện với hơn 300.000 đầu sách; lập 2 đoàn nghệ thuật; ấn hành báo Đồng Nai và báo Văn nghệ Đồng Nai (sau đổi tên thành Sông Phố) đến năm 1995 có thêm tờ Lao động Đồng Nai; 1980 quyết định thành lập Nhà Xuất bản Đồng Nai; Công ty Điện ảnh băng từ và Công ty Phát hành sách cũng có ngay từ những năm đầu giải phóng. Hội Văn nghệ Đồng Nai thành lập năm 1979, tập hợp hơn 100 hội viên, trong đó 25 hội viên các hội chuyên ngành trung ương. Đài phát thanh Đồng Nai được thành lập ngày 19/11/1976, đến năm 1985 thêm chức năng truyền hình, xây dựng Đài phát thanh truyền hình giai đoạn đầu với máy phát công suất 5 kw, phát sóng truyền hình 5 giờ/ngày. Sân bóng đá của tỉnh được xây dựng qui mô lớn với 30.000 chỗ, hiện chưa hoàn chỉnh, ngoài ra, còn 161 sân bóng đá, 130 sân bóng chuyền, 10 sân quần vợt được đầu tư bằng nguồn kinh phí Nhà nước và nhân dân cùng làm. Thành tích văn hóa, văn nghệ, thể thao của tỉnh sâu rộng trong phong trào, đạt nhiều giải cao trong khu vực miền Đông và toàn quốc; riêng ở lĩnh vực võ thuật có thành tích Huy chương đồng Seagames 19 Taekwondo của vận động viên Đỗ Thị Thu Thảo.

Sự nghiệp giáo dục phát triển không ngừng, phát triển nhanh về số lượng giáo viên, phòng học, lớp học, các cấp học ở các mặt: giáo dục phổ thông, bổ túc văn hóa, chống mù chữ, đào tạo, dạy nghề. Năm 1995 trên địa bàn toàn tỉnh có 541 trường mẫu giáo và phổ thông, trong đó 485 trường công, 20 trường bán công và 36 trường dân lập. Số phòng học được nâng cấp, xây mới đạt 6.800 phòng (gấp 3 lần năm 1976) đội ngũ giáo viên gồm 10.878 người (cũng gấp gần 3 lần năm 1976) bình quân 1 giáo viên/ 41 học sinh, đáng lưu ý phần lớn là giáo viên trẻ, được đào tạo bài bản, 94,9 % giáo viên cấp III, 92,7 % giáo viên cấp II đạt chuẩn quy định. Trong đó có 21 giáo viên được Nhà nước tuyên dương danh hiệu nhà giáo ưu tú. Khối đào tạo dạy nghề có 1 trường Cao đẳng Sư phạm, 9 trường chuyên nghiệp và 6 trường dạy nghề (đến năm 1998, có thêm trường Đại học Dân lập Lạc Hồng với qui mô tuyển sinh 1.500 sinh viên/năm). Hàng năm có khoảng 10.000 học sinh theo học các trường này. Công tác bổ túc văn hóa và chống mù chữ cũng được chú trọng; mỗi năm vận động khoảng 15.000 người ở các độ tuổi học bổ túc văn hóa ở một trường bổ túc cấp III của tỉnh và 17 trường huyện. Việc chống mù chữ trở thành phong trào xã hội rộng rãi, sôi động ở cơ sở, gắn với phổ cập giáo dục tiểu học. Năm 1995 có 68/163 xã, phường được công nhận đạt chuẩn quốc gia về chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Đến năm 1998 100 % xã, phường được công nhận và toàn tỉnh được công nhận, đồng thời được Bộ Giáo dục - Đào tạo khen thưởng về thành tích chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học.

Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân phát triển khá về chất và lượng, về đội ngũ y - bác sĩ cũng như mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở và phương pháp điều trị kết hợp Đông - Tây y.

 Từ cơ sở mỏng manh tiếp quản năm 1975, năm 1995 phát triển thành 5 bệnh viện đa khoa cấp tỉnh và khu vực với số giường bệnh gấp 3 lần năm 1975, 4 bệnh viện huyện, 12 phòng khám khu vực và 119 trạm y tế xã. Cán bộ y tế được đào tạo chính quy không ngừng bổ sung, năm 1995 có 3.760 người, bình quân một vạn dân có 6,8 y bác sĩ. Con số chưa cao, nhưng so với 20 năm trước, đó là sự phát triển đầy cố gắng. Riêng lực lượng bác sĩ có 447 người, phân bổ đến tuyến huyện, một số phục vụ ở tuyến xã. Phương pháp điều trị dần kết hợp Đông - Tây y, khai thác tiềm lực y học cổ truyền trong tỉnh. Việc điều trị bằng phương pháp y học cổ truyền và sử dụng các bài thuốc Nam được nhà nước kiểm tra, công nhận; cho phép lập cơ sở bào chế thuốc Thiên Đăng với 8 loại thuốc trong danh mục quốc gia; 775 lương y được cấp giấy phép hành nghề; Hội y học cổ truyền được thành lập với 74 chi hội, 15 phòng chẩn trị, 149 tổ và 239 cơ sở tư nhân, thường xuyên hoạt động, có tác dụng trong phong trào phòng chống bệnh thông thường ở cơ sở, nhất là đối với người nghèo.

Các chương trình y tế cộng đồng khác: Phòng chống dịch bệnh, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ sức khỏe trẻ em, ngăn ngừa HIV/ AIDS... đều được thực hiện tốt, đạt kết qua( cao trên địa bàn Đồng Nai. Đáng kể là cuộc vận động kế hoạch hóa gia đình bằng nhiều biện pháp được xã hội quan tâm, giảm tỷ lệ phát triển tự nhiên trên 2,4 % những năm 1990 về trước còn 2,0 % năm 1995 và 1,8 % năm 1998.

Việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động và chăm sóc các đối tượng chính sách luôn là công việc khó khăn, nặng nề nhưng được Nhà nước và xã hội chăm lo với tất cả tấm lòng và trách nhiệm. Trong 20 năm, đã cố gắng giải quyết việc làm cho hơn nửa triệu người lao động, chăm sóc giải quyết chính sách cho 301 gia đình bà mẹ Việt Nam anh hùng, 8.626 gia đình liệt sĩ, 4.792 thương binh, 17.412 bộ đội xuất ngũ, qui tập 5.950 hài cốt liệt sĩ, xây 879 căn nhà tình nghĩa, trao 10 sổ tiết kiệm. Ngoài ra, phong trào đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn của các tầng lớp nhân dân còn thể hiện nghĩa cử dưới nhiều hình thức khác đem lại không khí ấm áp, nghĩa tình cho các đối tượng chính sách.

Trẻ mồ côi, người tàn tật cũng được xã hội chăm lo trong điều kiện cho phép, hơn 400 người gồm trẻ mồ côi, người tàn tật được nuôi dưỡng ở Trung tâm huấn nghệ cô nhi hoặc Trường trẻ em khuyết tật, hoặc Trại Bác Ái. Những người hoạn nạn đột xuất, nạn nhân chất độc màu da cam, hoặc vùng bị thiên tai, hỏa hoạn... đều được xã hội quyên góp, ủng hộ với tấm lòng "Lá lành đùm lá rách".

Kinh tế - xã hội Đồng Nai đang trên đường phát triển hướng đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thành tựu tuy phát triển ở mức độ cao so với toàn quốc và khu vực nhưng vẫn chưa thực sự giàu mạnh, còn phân hóa giàu nghèo, cách biệt thành thị và nông thôn, tệ nạn xã hội gia tăng. Tuy nhiên, điều đáng qúi là giá trị văn hóa truyền thống như tinh thần nhân ái, đoàn kết tương trợ, giúp nhau vượt khó... vẫn đầy sức sống, thể hiện qua các hoạt động văn hóa, xã hội hứa hẹn rằng, kinh tế - xã hội Đồng Nai tiếp tục phát triển, hiện đại hóa nhưng vẫn giữ gìn phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc.

Thành tích đấu tranh, xây dựng, phát triển của quân dân Biên Hòa - Đồng Nai được Nhà nước ghi nhận, phong tặng 59 tập thể và 26 cá nhân Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 6 tập thể và 2 cá nhân Anh hùng lao động; trong đó, nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Đồng Nai được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân theo Quyết định số 464 ngày 02/10/2000.

DANH SÁCH ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

A. Tập thể:

 

STT

Tên đơn vị

Ngày phong tặng

01

Đội Biệt động Thị trấn Long Khánh

03-06-1976

02

Đại đội DQDK xã Bình Lộc – Long Khánh

03-06-1976

03

Đội Trinh sát võ trang Thị xã Long Khánh

03-06-1976

04

LLVTND tỉnh Bà Rịa – Long Khánh

06-11-1978

05

Đội DQDK xã Bảo Binh – Long Khánh

06-11-1978

06

Đội Du kích cao su Bình Sơn – Long Thành

06-11-1978

07

Đội DQDK xã Hưng Lộc – Thống Nhất

06-11-1978

08

Đội DQDK xã Phước An – Nhơn Trạch

06-11-1978

09

Đội DQDK xã Phú Hội – Nhơn Trạch

06-11-1978

10

Đội DQDK xã Tam An – Long Thành

06-11-1978

11

Đội DQDK xã Thiện Tân – Vĩnh Cửu

06-11-1978

12

Bệnh xã K20 Phân khu 4

 

13

Trại Quản lý cải tạo phạm nhân K4

 

14

Nhân dân và LLVT thị xã Biên Hoà

20-12-1994

15

Nhân dân và LLVT huyện Long Khánh

20-12-1994

16

Nhân dân và LLVT xã Hiệp Hoà – Biên Hoà

20-12-1994

17

Nhân dân và LLVT xã Phú Hữu – Nhơn Trạch

20-12-1994

18

Nhân dân và LLVT xã Long Phước – Long Thành

20-12-1994

19

Nhân dân và LLVT Đồn điền cao su Cẩm Mỹ

20-12-1994

20

Nhân dân và LLVT Đồn điền cao su An Lộc

 

21

Huyện Nhơn Trạch

29-01-1996

22

Huyện Định Quán

29-01-1996

23

Huyện Vĩnh Cửu

29-01-1996

24

Xã Tam Phước – Long Thành

29-01-1996

25

Xã An Phước – Long Thành

29-01-1996

26

Phường Thống Nhất – Biên Hoà

29-01-1996

27

Phường An Bình – Biên Hoà

29-01-1996

28

Xã Phú Lý – Vĩnh Cửu

29-01-1966

29

Xã Bình Lợi – Vĩnh Cửu

29-01-1996

30

Xã Trị An – Vĩnh Cửu

29-01-1996

31

Xã Long Thọ – Nhơn Trạch

29-01-1996

32

Xã Phước Thái – Long Thành

29-01-1996

33

Cán bộ – CNV LL tự vệ Đồn điền cao su Bình Lộc

29-01-1996

34

Công an thành phố Biên Hoà

03-08-1985

35

Nhân dân và LLVT xã Túc Trưng – Định Quán

30-08-1995

36

Phòng Cảnh sát hình sự – Công an tỉnh Đồng Nai

03-08-1995

37

Phòng PA 38 – Công an Đồng Nai

22-07-1998

38

Huyện Long Thành

02-08-1998

39

Xã Xuân Thọ – Huyện Xuân Lộc

22-08-1998

40

TT.Trảng Bom – Huyện Thống Nhất

02-08-1998

41

Xã Bàu Hàm 1 – Huyện Thống Nhất

02-08-1998

42

Xã Tân An – Huyện Vĩnh Cửu

02-08-1998

43

Xã Tân Bình – Huyện Vĩnh Cửu

02-08-1998

44

Xã Xuân Tân –Huyện Long Khánh

02-08-1998

45

Xã Xuân Lập – Huyện Lonh Khánh

02-08-1998

46

Xã Tài Lài – Huyện Tân Phú

02-08-1998

47

Xã Phú Túc – Huyện Định Quán

02-08-1998

48

Huyện Xuân Lộc

02-08-1998

49

Xã Bàu Hàm 2 – Huyện Thống Nhất

01-06-1999

50

Xã Bảo Bình – Huyện Xuân Lộc

01-06-1999

51

Xã Thạnh Phú – Huyện Vĩnh Cửu

01-06-1999

52

Xã An Hoà – Huyện Long Thành

08-04-2000

53

Xã Long An – Huyện Long Thành

08-04-2000

54

Xã Phuwpwcs Khánh – Huyện Nhơn Trạch

08-04-2000

55

Xã Long Tân – Huyện Nhơn Trạch

08-04-2000

56

Xã Phú Đông – Huyện Nhơn Trạch

08-04-2000

57

Lực lượng Giao bưu Thông tin liên lạc tỉnh ĐNai

08-04-2000

58

Nhân dân và LLVT đồn điền cao su Ông Quế

08-04-2000

59

Nhân dân và LLVT nhân dân tỉnh Đồng Nai

02-10-2000

 

B.Cá nhân:

 

STT

Họ và tên

Chỗ ở

Ngày tặng

01

LS. Điểu Cải

Túc Trưng, Định Quán, Đồng Nai

06/11/1978

02

LS. Lê A

Bình Lộc, Long Khánh, Đồng Nai

06/11/1978

03

LS. Hồ Thị Hương

TT Xuân Lộc (Long Khánh)

06/11/1978

04

LS. Bùi Văn Bình

Trảng Dài, Biên Hoà, Đồng Nai

29/08/1985

05

LS. Đỗ Văn Thi

Công an Đồng Nai

22/07/1998

06

LS. Bùi Văn Hoà

Thành phố Biên Hoà, Đồng Nai

10/02/1970

07

LS. Trần Văn Nuôi

Tiểu đoàn 525 công binh

06/11/1978

08

LS. Nguyễn Văn Huề

Tân An, Vĩnh Cửu, Đồng Nai

28/04/2000

09

Dương Văn Thì

Phú Hữu, Nhơn Trạch, Đồng Nai

06/11/1978

10

Nguyễn Thanh Tùng

Chủ tịch Hội CCB tỉnh Đồng Nai

06/11/1978

11

Nguyễn Quyết Chiến

TT Long Thành, Đồng Nai

20/12/1969

12

Nguyễn Văn Quang

Trảng Dài, Biên Hoà, Đồng Nai

17/09/1967

13

Lê Duy Chín

TT Vĩnh An, Vĩnh Cửu, Đồng Nai

06/11/1978

14

Nguyễn Văn Huệ

An Bình, Biên Hoà, Đồng Nai

06/11/1978

15

Trịnh Xuân Thiều

Long Giao, Long Khánh, ĐNai

06/11/1978

16

Lương Văn Xuân

Bàu Cạn, Long Thành, Đồng Nai

28/08/1981

17

Nguyễn Trọng Tâm

Tân Tiến, Biên Hoà, Đồng Nai

30/08/1985

18

Trần Văn Kìa (Hai Cà)

Trung Dũng, Biên Hoà, Đồng Nai

23/10/1996

19

Huỳnh Tấn Minh

Trưởng CA thành phố Biên Hoà

19/01/1996

20

Phạm Văn Cán

Thành phố Biên Hoà, Đồng Nai

 

21

Nguyễn Văn Trung

Thành phố Biên Hoà

15/01/1976

22

Nguyễn Văn Binhg

Bình Lợi, Vĩnh Cửu, Đồng Nai

29/08/1985

23

Trương Văn Hải

Tân Vạn, Biên Hoà, Đồng Nai

06/11/1978

24

Trần Văn Chín

Trung đoàn 4 Đồng Nai

19/05/1972

25

Tống Viết Dương

Đoàn 367 đặc công

06/11/1978

26

Trần Đối

Tiểu đoàn 24 Sư đoàn 5

06/11/1978

 

DANH SÁCH ANH HÙNG LAO ĐỘNG

 

A. Tập thể:

 

STT

Tên đơn vị

Ngày phong tặng

1

Trường PTTH Tân Phú, huyện Định Quán

28/04/2000

2

Xí nghiệp chăn nuôi heo Phú Sơn

19/05/2000

3

CTy Xây dựng và SXVLXD Biên Hoà

14/07/2000

4

Bệnh viện đa khoa khu vực Thống Nhất

14/07/2000

5

Công ty Đường Biên Hoà

07/11/2000

6

Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT tỉnh ĐN

07/11/2000

 

B. Cá nhân:

 

STT

Họ và tên

Chỗ ở hiện nay

Ghi chú

1

Nguyễn Thị Ngời

Nông trường Hàng Gòn

 

2

Lê Văn Lập

Hưng Lộc, Thống Nhất

 

 

Comments