3.2. Thời triều Nguyễn (1802 - 1861)

III.2. Thời triều Nguyễn (1802 - 1861):

Thực ra, kinh tế xã hội ở Đồng Nai đi vào ổn định theo sự cai quản thống nhất của vương triều Nguyễn Ánh từ năm 1788, khi Nguyễn Ánh chiếm lại Đồng Nai - Gia Định, chọn nơi đây làm "kinh đô", xây thành bát quái ở Sài Gòn, đắp lũy Đồng Môn, lũy Ký Giang ở Long Thành, vừa củng cố lực lượng quân sự, vừa phát triển sản xuất để tính chuyện lâu dài.

Các chính sách tuyển quân, khuyến học, khuyến nông liên tục được ban hành: Đặt quan cai trị đến tổng, xã, thôn làng; lập sổ bộ phân định các hạng thuế, cho phép các thuyền buôn ngoại quốc đến giao dịch, buôn bán; cấm giết trâu bò, cấm đồng bóng, đánh bạc. Đặt chức quan điền tuấn để khuyên bảo dân cố sức làm ruộng; có chế độ cho vay, cấp trâu bò, nông cụ để khai phá ruộng hoang; lập đồn điền ở Vàm Cỏ, Bà Rịa, Đồng Môn đưa quân đến cày cấy và rèn luyện; tập trung các ty thợ bạc, thợ đúc, thợ nhuộm, thợ sắt... để phát triển nghề thủ công ở Trấn Biên; lập đội thiết trường khai mỏ sắt ở Lá Buông (Biên Hòa), phát triển nghề đường, khuyến khích nghề khai thác lâm sản; khai khẩn thêm rừng đất núi Chứa Chan, đặt huyện Long Khánh để quản lý đồng bào dân tộc ít người; định phép học hành thi cử, mỗi xã chọn một người đức hạnh được miễn dao dịch để dạy bảo con em ở địa phương; ban hành luật Gia Long (từ 1815); chăm sóc tu sửa, và định lễ nghi ở các cơ sở tín ngưỡng văn hóa như Văn miếu, chùa Đại Giác, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh...

Năm 1819, quan địa phương dâng sổ sách, lúc ấy Biên Hòa có 10.600 dân đinh, điền thổ có 28.000 sở. Năm 1836, vua Minh Mạng sai đo đạc, lập địa bạ, đất thực canh ở Biên Hòa có 13.427 mẫu 1 sào 6 thước 5 tấc (khoảng 6.700 ha) gấp gần 20 lần con số Lê Quí Đôn nêu ở thời kỳ khai phá. Trong số đó, đa phần là ruộng lúa nước (thảo điền) chiếm 52,4 %; đất rẫy (sơn điền): 29,7%; còn lại là đất trồng dâu, mía, trầu, vườn cây ăn trái và thổ trạch. Ruộng tư chiếm 89,16 %, ruộng công chỉ có 10,84%.

Những năm 1841 đến 1846, ở Biên Hòa thường được mùa, được xếp là một trong 11 tỉnh được mùa hạng thượng. Đời sống dân sinh theo đó bình ổn, dần đi vào nền nếp theo trật tự phong kiến.

Comments