4.1. Thành phố Biên Hòa

Diện tích tự nhiên: 154,73 km2.

Diện tích canh tác: 3.209,07 ha.

Dân số: 470.528 người ([1][1])

Mật độ trung bình: 3088,26 người/km2.

Trung tâm, đầu mối giao lưu của tỉnh; giáp với: Thành phố Hồ Chí Minh (phía Tây và Nam, cách 30km), huyện Long Thành (Nam), huyện Thống Nhất (Đông), huyện Vĩnh Cửu (Bắc), tỉnh Bình Dương (Tây Bắc).

Thành phố được công nhận đô thị loại II, Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 

Địa danh Biên Hòa xuất hiện từ năm 1808, khi vua Gia Long đổi dinh Trấn Biên thành trấn Biên Hòa. Thời điểm 1820, trấn Biên Hòa gồm 1 phủ (phủ Phước Long), 4 huyện (Phước Chánh, Bình An, Long Thành, Phước An), 8 tổng, 307 xã, thôn, phường. Năm 1832 Vua Minh Mạng đổi trấn Biên Hòa thành tỉnh Biên Hòa, năm 1836 lập địa bạ lúc đó tỉnh Biên Hòa vẫn 1 phủ, 4 huyện nhưng gồm 22 tổng, 285 thôn, xã. Sau nhiều lần thay đổi địa giới, đến năm 1948, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ tách quận Châu Thành của tỉnh Biên Hòa thành thị xã Biên Hòa và huyện Vĩnh Cửu. Tháng 6 năm 1973, thị xã Biên Hòa được đổi tên thành thành phố Biên Hòa.

Ngày 10 tháng 5 năm 1993, thành phố Biên Hòa được công nhận đô thị loại 2 theo quyết định số 219/TTg của Thủ tướng Chính phủ; ngày 20 tháng 12 năm 1994, được tuyên dương "Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".

Hiện thành phố Biên Hòa có 23 phường và 3 xã:

1. Xã Hiệp Hòa.

2. Phường An Bình.

3. Phường Thống Nhất.

4. Phường Thanh Bình.

5. Phường Hòa Bình.

6. Phường Tân Phong.

7. Phường Tam Hiệp

8. Xã Tân Hạnh.

9. Phường Bửu Hòa.

10. Phường Tân Hiệp.

11. Phường Bửu Long.

12. Phường Long Bình Tân.

13. Phường Quyết Thắng.

14. Phường Tân Vạn.

15. Phường Bình Đa.

16. Phường Trung Dũng.

17. Phường Long Bình.

18. Phường Trảng Dài.

19. Phường Quang Vinh.

20. Phường Tam Hòa.

21. Xã Hóa An.

22. Phường Tân Mai.

23. Phường Tân Hòa.

24. Phường Hố Nai.

25. Phường Tân Biên.

26. Phường Tân Tiến.

 

Thành phố Biên Hòa xinh xắn trải dài ven sông Đồng Nai, kiến trúc cổ từ thời Pháp thuộc, có nhiều cảnh quan thơ mộng, có quĩ đất chuyên dùng phong phú (chiếm 44,4 % diện tích tự nhiên), giàu tài nguyên khoáng sản: Như nguồn nước, cát ở lòng sông Đồng Nai, Laterit ở Long Bình, Hố Nai, kao - lin ở Tân Mai; than bùn Hóa An; đá xanh Hóa An, Bửu Hòa, Bửu Long... Đất và người đều thuận cho sinh hoạt và sản xuất cho nên cư dân tập trung ở Biên Hòa từ sớm, có truyền thống sản xuất và trao đổi hàng hóa, nhanh bước trên con đường phát triển công nghiệp hướng đến hiện đại hóa. Cù Lao Phố nổi tiếng là thương cảng sầm uất xứ Đàng Trong giao lưu với thương nhân nhiều nước từ Thế kỷ XVII - XVIII; các làng gốm Bửu Hòa, Tân Vạn, nghề đúc đồng Cù Lao Phố, nghề đá Tân Bửu, Bình Đa... nổi danh một thời. Từ truyền thống tiểu thủ công nghiệp Biên Hòa có ưu thế trong sản xuất công nghiệp; khu kỹ nghệ đầu tiên của Nam bộ lập ở Biên Hòa là do ưu thế ấy. Sau này thống nhất đất nước, ngoài khu công nghiệp Biên Hòa I được tiếp quản nguyên vẹn, ở Biên Hòa qui hoạch, phát triển khu công nghiệp Biên Hòa II, khu công nghiệp AMATA và nhiều cơ sở công nghiệp khác như khu vực nhà máy gỗ Tân Mai. Cơ sở tiểu thủ công nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh cũng phát triển mạnh; giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm 1995 tăng gấp 39 lần năm 1976.

Đời sống xã hội theo nhịp sống công nghiệp phát triển ở mức cao (cao nhất trong toàn tỉnh); theo số liệu điều tra đến ngày 1/7/1997 mức sống bình quân của người dân lao động ở thành phố Biên Hòa có nhiều "cái nhất" trong tỉnh: Tỷ lệ nhà ở kiên cố và bán kiên cố 76,7 %; hộ có máy thu thanh 64,6 %, hộ có máy thu hình 58,30 %; hộ có xe gắn máy 48,6 %; bình quân bác sĩ trên 1 vạn dân 18,6 người; bình quân 359 máy điện thoại/vạn dân; giường bệnh 33,28 giường/vạn dân, học sinh: 2.177 em/vạn dân...

Di sản văn hóa xưa và nay cũng tập trung trên đất thành phố Biên Hòa:

- Văn miếu sớm nhất Nam bộ: (năm 1715 tại Bình Thành, Tân Lại, đã bị thực dân Pháp phá hủy, năm 1998 vừa động thổ tái thiết).

- Nhà thờ Bến Gỗ sớm nhất ở tỉnh: Trước năm 1710 (nay thuộc Long Bình Tân).

- 13/20 di tích được xếp hạng quốc gia: Mộ và đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, đền thờ Nguyễn Tri Phương, Lăng mộ Trịnh Hoài Đức, Đài kỷ niệm, Nhà hội Bình Trước, Đình Tân Lân, Mộ và đền thờ Đoàn Văn Cự, Công trường Sông Phố, Chùa Đại Giác, Chùa Long Thiền, Nhà Xanh, Trung tâm cải huấn Biên Hòa, Khu danh thắng Bửu Long; và 2 di tích được ủy ban nhân dân tỉnh công nhận: Tòa Bố và Chùa Cô Hồn.

- Chùa Ông có niên đại sớm nhất Nam bộ xây dựng 1684 ở Cù Lao Phố.

- Nhiều công trình văn hóa được xây dựng từ năm 1975 đến nay: Công viên nhà văn hóa trung tâm (1980), Nhà Bảo tàng (1990 - 1998), Rạp 30 - 4 ở Tân Biên, Sân bóng đá (1982), Công viên Biên Hùng (1985), Công viên tượng đài chiến thắng sân bay Biên Hòa (1994), Công viên tượng đài Long Bình (1995), Nhà bia kỷ niệm 300 năm ở khu đền Nguyễn Hữu Cảnh (1998). Với các thành tích kháng chiến, 5 đơn vị thuộc Biên Hòa và 3 đơn vị Trung ương hoạt động trên địa bàn Biên Hòa được Nhà nước tuyên dương "Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân":

 

1. Nhân dân và lực lượng vũ trang (LLVT) thị xã Biên Hòa (20/12/1994).

2. Nhân dân và LLVT xã Hiệp Hòa (20/12/1994).

3. Nhân dân và LLVT phường An Bình (29/01/1996).

4. Nhân dân và LLVT phường Thống Nhất (29/01/1996).

5. Công an nhân dân Thành phố Biên Hòa (03/08/1985).

 

10 cá nhân Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thuộc Biên Hòa:

 

1. Trương Văn Hải (liệt sĩ).

2. Bùi Văn Hòa (liệt sĩ).

3. Bùi Văn Bình (liệt sĩ).

4. Bùi Văn Trung.

5. Nguyễn Văn Huệ.

6. Nguyễn Trọng Tâm.

7. Trần Văn Kìa (Trần Công An).

8. Huỳnh Tấn Minh.

9. Nguyễn Thanh Tùng.

10. Đỗ Văn Thi (liệt sĩ).

 

Và 36 Bà mẹ Việt Nam anh hùng.



([1][1])Các số liệu về dân số đều theo kết quả điều tra 1/4/1999, nguồn Cục Thống kê Đồng Nai

Comments