1717 - 1738

1717

Mùa Thu năm Tân Mão, Hiển Tông thứ 20 (1917), Nguyễn Cửu Vân (nguyên chức Chính thống Cai cơ, thống lĩnh quân thủy bộ Gia Định đánh bọn giặc Xiêm ở Rạch Gầm rồi đưa quân về khẩn đất ở Vũng Gù/Long An ngày nay, đào thông sông Vũng Gù và Mỹ Tho) được thăng làm Phó tướng dinh Trấn Biên. Vân thường bắt dân trong địa hạt phục dịch riêng. Chuyện tới tai triều đình, chúa xuống chỉ quở trách. Từ đó, Vân cải hối chuyên chú lo việc ích nước lợi dân; phàm lưu dân trở về, Vân đều chia cấp ruộng đất, lập ra thôn phường, dân được yên nghiệp. Vân vào buổi đầu ở Trấn Biên, khoảng sau 1717, có dựng chùa ở phía Nam sông Phước Long (tức sông Đồng Nai); chùa ấy là chùa Hộ Quốc (tức chùa Sắc tứ Hộ quốc tự) hiện còn ở phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa.. 

1725

Chúa Nguyễn Phước Châu mất, con Nguyễn Phước Trú lên thay.

1726

Chúa Nguyễn Phước Trú phong cho Mạc Thiên Tứ (tự Sĩ Lân) trấn Hà Tiên là Đô Đốc Tôn Đức Hầu kế lập theo cha là Mạc Cửu, Tổng binh trấn Hà Tiên.

1728

Ngày 19/10 Tổ sư Nguyên Thiều - Thọ Tông, hiệu Hóan Bích viên tịch ở chùa Quốc Ân (Huế) ([1][1]).

1729

Mồng 8 tháng 4, chúa Nguyễn Phước Trú làm bài văn bia tháp và ban Thụy hiệu cho Tổ sư Nguyên Thiều là “Hạnh Đoan thiền sư”. Chưa rõ lý do nào, Hòa thượng Minh Vật – Nhứt Tri (? – #1786) lập tháp thờ Thiền sư Nguyên Thiều ở chùa Kim Cang (Đồng Nai) ([2][2]).

1731

Đặt 11 thuyền Ô tất ở Gia Định để khai thác sơn. Đất ở các vùng ven rừng Gia Định (kể cả vùng Trấn Biên) sản xuất nhiều sơn, bèn mộ 500 dân, đặt làm 11 thuyền. Mỗi người quân hạng mỗi năm phải nộp 11 cân sơn; những người xiêu dạt mới về và những người mới vào sổ đinh thì nộp một nửa; người đã đi lính hay trưng dụng làm việc công khác thì được miễn thuế. Mỗi năm thu được 6528 cân sơn.

1732

Nguyễn Cửu Triêm được cử làm Thống dinh Trấn Biên.

1733

Thiền sư Pháp Thông thuộc phái Tào Động, đời 36, khai sơn chùa Long Ẩn, (nay thuộc xã Tân Bửu, TP. Biên Hòa)([3][3]).

1734

Tháng 8. Chúa Nguyễn Phước Trú/Túc Tông Hiếu Minh Hoàng đế, ban biển ngạch cho chùa Hộ Quốc: “Sắc tứ Hộ Quốc tự” ở phía Nam sông Phước Giang, thuộc Biên Hòa do Thống suất Nguyễn Cửu Vân dựng. Chúa nhớ công của Vân mới đặt tên chùa ấy là chùa Hộ Quốc và viết biển ngạch ban cho. Biển ngạch ấy nay vẫn còn tại chùa, 2 bên có hai dòng chữ: bên trái khắc “Long Đức tứ niên, tuế thứ Ất Mão, trọng đông, cốc đáng” (Ngày lành tháng trọng đông năm Ất Mão, niên hiệu Long Đức thứ 4); bên phải khắc “Quốc chủ Vân Tuyền đạo nhân ngự đề”.

1737

Hòa thượng Liễu Huệ - Tâm Thông (đời 37 phái Lâm Tế) khai sơn chùa Long Hòa (Bà Rịa).

1738

Chúa Nguyễn Phước Trú băng, ở ngôi được 13 năm, thọ 43 tuổi. Hoàng tử cả Nguyễn Phước Khóat lên nối ngôi, tước Hiểu Quốc Công, tự xưng là Võ vương, được truy tôn là Hiếu Vũ vương, năm 1806 truy tôn Hiếu Võ Hoàng đế, đạo hiệu Từ Tế đạo nhân, miếu hiệu là Thế Tông.

Tháng 6, Thế tông Hiếu Võ Hoàng đế (Nguyễn Phước Khoát/Hoạt) định quan chế, cải đổi sắc phục, đổi phong tục trong dân gian đều theo lối mới, cho khác với tập tục vốn có từ Bắc Hà. Theo Gia Định Thành thông chí thì ở Gia Định, có người Tây Dương (Phú Lãng Sa, Hồng Mao, Ma Cao), Cao Miên, Đồ Bà (Java, chỉ chung các tộc người thuộc quần đảo Nam Dương) kiều ngụ chung lộn nhưng y phục, khí dụng đều theo quốc hóa của họ. “Duy có người Việt ta, noi theo tục cũ Giao Chỉ: Người quan chức thì đội khăn cao sơn, mặc áo phi phong, mang giày bì đà; hạng thứ sĩ thì bới tóc, đi chân trần; con trai, con gái đều mặc áo vắn tay, bâu thẳng, may khít hai nách; không có quần. Con trai dùng một miếng vải buộc từ sau lưng thẳng đến dưới háng, quanh lên rún gọi là cái khố, con gái có người không mặc váy, đội nón lớn; hút điếu bình, ở nhà lớn, trải chiếu ngồi dưới đất, không có bàn ghế. Năm Mậu Ngọ (1738), Thế tôn Hiếu Võ Hoàng đế định lại sắc phục, các quan văn võ châm chước theo chế độ đời Hán Đường đến Đại Minh thì hình thức mới chế như phẩm phục quan chế đời nay đã ban hành theo hội điển, gồm đủ cả văn chất. Còn y phục, gia thất, khí dụng của hàng sĩ thứ đại lược như thể chế đời Minh” (GĐTTC, tập Hạ, tr 6).


(1) Tổ sư Nguyên Thiều (1648 – 1728), họ Tạ, quê ở Trình Hương, Triều Châu, xuất gia năm 19 tuổi ở chùa Báo Tứ. Năm 1777 qua Việt Nam, ở phủ Qui Ninh, dựng chùa Thập Tháp – Di Đà; sau vào núi Phú Xuân ở Thuận Hóa làm chùa Quốc Ân, xây tháp Phổ Đồng ... Ông là tổ sư của Phật giáo Lâm Tế Đàng Trong.

(2) Về sự kiện tháp tổ Nguyên Thiều ở chùa Kim Cang có 2 giả thiết khác nhau:

a. Tổ Nguyên Thiều đã khai sơn chùa Kim Cang để hoằng hóa Phật pháp ở Đồng Nai và viên tịch ở đây.

b. Minh Vật - Nhất Tri, người lập chùa Kim Cang lập tháp vọng để thờ thầy tổ của mình là Nguyên Thiều.

([3][3]) Chùa khai sơn năm Quí Sửu, tức có thể là 1733 hoặc 1793.

Comments