1741 - 1755

1741

– Chúa Nguyễn Phước Khoát sai kiểm tra tiền thóc thuế và thuế muối trong ba năm 1738, 1739, 1740 đủ thiếu như thế nào. Tình hình buổi đầu, tùy đất mà đặt kho, kho ở xã nào thì lấy xã ấy mà đặt tên, để thu chứa tiền thóc và tiền sản vật để tiện cho dân chở nộp: Thuận Hóa có 7 kho, từ Quảng Nam trở vô Nam có 12 kho, ở Gia Định có một kho Tân Định. Về sau lại cho rằng Gia Định (hiểu là cả Nam bộ) đất rộng, lập 9 khố trường nộp riêng (Cửu khố trường biệt nạp): Qui An, Qui Hóa, Cảnh Dương, Thiên Mụ, Quản Thảo, Hoàng Lạp, Tam Lạch, Bả Canh, Tân Thạnh. Ở vùng Đồng Nai hồi đó, theo Gia Định thành thông chí  (Hạ, tr 114) thì có 1 kho Điền tô “ở bờ phía bắc sông Hậu Giang (khúc sông Đồng Nai bọc quanh Cù Lao Phố) làm kho dựa theo núi, thuở trước làm chỗ trưng thu thuế khóa trong hạt. Nay (đầu thế kỷ XIX) đã cải đổi, nền cũ vẫn còn” (Địa điểm ở khu vực nay còn lưu lại địa danh Bến Đò Kho); và 3 thương trường biệt nạp là Tân Thạnh, Cảnh Dương và Thiên Mụ. Trước 1775, “đặt làm chỗ cho dinh Trấn Biên trưng thu tô thuế để vận tải về kinh, ở bờ phía đông sông Tam Giang Nhà Bè. Từ 1775 bãi bỏ 3 kho này, tô thuế nộp theo Quản thảo công khố để cho tiện việc chuyển vận, cấp phát quân lương".

– Thiền sư Đại Ngạn khai sơn chùa Hội Khánh (Thủ Dầu Một)

– Năm sinh Thiền sư Thiệt Thoại - Tánh Tường (1741 - 1817), đệ tử của Hòa thượng Minh Vật - Nhất Tri (trụ trì chùa Kim Cang/Biên Hòa). Sau thời gian tu học ở đây, Thiệt Thoại - Tánh Tường đã vân du hoằng hóa đây đó và dừng chân ở làng Linh Chiểu (Thủ Đức), đã khai sơn chùa Huê Nghiêm. Ông đã đào tạo được nhiều đệ tử xuất sắc đóng góp lớn cho sự phát triển của Phật giáo vùng Sài Gòn - Bến Nghé.

1744

Chúa Nguyễn Phúc Khoát đúc ấn Quốc Vương, lên ngôi vua ở phủ chính Phú Xuân. Trong văn thư vẫn dùng niên hiệu vua Lê, nhưng với các nước thần phục thì xưng là Thiên vương. Chúa ra lệnh bắt đầu đổi y phục của dân, qui định lại triều phục.

Nguyễn Đăng Cẩn/Nguyễn Cư Cẩn được cử làm Cai bạ, giữ quyền ký lục dinh Trấn Biên. Nguyễn Đăng Cẩn là con của Nguyễn Đăng Đệ, anh của Nguyễn Cư Trinh, tính ngang tàng không chịu câu thúc, thích võ nghệ. Năm 1712 nhờ ấm thụ được làm Văn chức Viện, vì nhà nghèo lấy tiền công nên bị bãi chức về nhà; 1749 được khôi phục làm Văn chức, kế đổi làm Cai bạ giữ quyền Ký lục Trấn Biên. Gia Định thành thông chí lại chép Cư Cẩn làm “Khâm sai Cai đội Cẩn Thận hầu Nguyễn Cư Cẩn” đã bị chết trong trận chống trả bọn tặc đảng Lý Văn Quang năm 1747 ở Biên Hòa. Tin về triều đình truy tặng Cẩn là Đại lý tự khanh, thụy Trung Nghị; dân chúng cũng đã dựng đền thờ ở Trấn Biên để thờ Cẩn. (Nay dấu tích chưa truy xét được cụ thể là đâu, còn hay mất.)

1746

Chúa Nguyễn đúc tiền kẽm trắng, lưu thông tiện lợi. Sau đó lại đúc tiền pha kẽm xanh gọi là tiền “Thiên Minh thông bảo” vành mỏng, không được ưa nên giá hàng tăng cao.

Dương Bao Lai và Diệp Mã Lăng cầm đầu cuộc nổi dậy của người Chàm ở Thuận Thành (Thuận Hải). Lưu thủ Trấn Biên là Nguyễn Cương đem quân đánh dẹp, giết được Bao Lai và Mã Lăng.

1747

Tháng Giêng năm Đinh Mão, đời vua Thế Tông Hiếu Võ Hoàng đế, có bọn thương khách người Phước Kiến (Trung Hoa) là Lý Văn Quang đến ngụ ở Đại Phố (Cù Lao Phố / xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa). Thấy cảnh trí thái bình, không dùng võ nghệ, bèn bí mật kết hợp bè đảng hơn 300 người tự xưng là “Đông Phố Đại vương”, dùng Hà Huy làm quân sư, Tạ Tam làm Tả Đô đốc, Tạ Trí làm Hữu Đô đốc, mưu toan đánh úp lấy dinh Trấn Biên, nhưng chỉ sợ có Khâm sai Cai đội Cẩn Thận hầu là Nguyễn Cư Cẩn (ĐNTLTB chép là Nguyễn Đăng Cẩn), người có võ nghệ cao cường nên chúng bàn mưu trước tiên phải giết được Cẩn thì sự việc sẽ dễ như trở bàn tay. Nhân ngày khánh tiết Nguyên đán, bọn Lý Văn Quang cho đặt phục binh trong phố, cho 50 tên gan dạ sửa soạn y phục theo kiểu ngày xuân, đem lễ đến mừng tuổi tại dinh Cẩn Thận hầu, rồi nhân lúc vô tình chúng rút đoản đao trong tay áo chém Cẩn Thận hầu bị thương. Cẩn Thận hầu vọt chạy lấy được ngọn đao trên giá, quay lại chém được 5, 6 tên. Chúng rút lui, rồi lại ào vô trong trại quân đoạt được cây thương, quay lại hiệp chiến. Lúc ấy Cẩn Thận hầu đã bị trọng thương đuối sức, kéo đao định bước giật lùi, không ngờ cán đao mắc vào cây rào khiến ông vấp ngã, liền bị quân giặc đâm chết. Sau đó, thuộc hạ của Cẩn Thận hầu liền đến tiếp ứng. Quân giặc chạy về tụ tập bên kia cầu để chống cự.

Quan Lưu thủ Cường Oai hầu Nguyễn Cường đem binh thủy bộ dàn ở bờ phía Bắc, đốt phá cầu ván để cứ thủ, không dám tiến đánh, rồi đưa hịch báo cáo cho Cai cơ Đại Thắng hầu Tống Phước Đại ở đạo Mỗi Xuy (Hưng Phước) hiệp binh đánh dẹp; bắt được bọn Lý Văn Quang và bọn cừ khôi 57 tên đem giam vào ngục. Năm 1756, nhân có bọn thuộc hạ của Tổng đốc Mân Chiết (Trung Quốc) thuyền bị gió dạt đến nước ta trở về xứ, bèn gởi bọn tặc đảng Lý Văn Quang 16 tên (trừ bọn bị thương và chết) giải về tỉnh Mân, trình quan Tổng đốc ở đó xử chém.

1748

Nguyễn Hữu Doãn, giữ quyền Điều khiển Gia Định thấy đường bộ mới mở, hồi ấy chưa thông suốt đi lại khó khăn, việc báo tin ở biên giới cũng bất tiện nên cho ngắm đo địa thế, chăng dây phóng lại đường cho thẳng từ Cầu Sơn (nay thuộc quận Bình Thạnh TP. HCM) đến Hưng Phước (huyện Phước An, Trấn Biên - tức vùng Bà Rịa bây giờ), tùy chỗ đặt trạm, gọi là đường Thiên lý, gặp sông lớn thì sai dân sở tại lập ra bến đò, cho miễn thuế má giao dịch. Quân dân từ đó đi lại đều tiện.

1749

Thiền sư Tổ Ấn - Mật Hoằng (1735 - 1835) quê ở Phù Cát, phủ Qui Nhơn (Bình Định) vào tu học ở chùa Đại Giác (Cù Lao Phố). Năm 1773, Mật Hoằng thọ giới cụ túc với Hòa thượng Phật Ý - Linh Nhạc ở chùa Từ Ân (ở làng Tân Khai, huyện Tân Bình, dinh Phiên Trấn (nay thuộc quận 3 TP. Hồ Chí Minh); sau được Hòa thượng Linh Nhạc cử làm trụ trì chùa Đại Giác. Năm 1804, Gia Long ban chỉ cung thỉnh Mật Hoằng về kinh đô sắc phong làm tăng cang và trụ trì chùa Thiên Mụ.

1755

Nguyễn Cư Trinh làm tham mưu điều khiển tướng sĩ năm dinh (Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ) cùng với Thiện Chính làm Thống suất tiến đánh Chân Lạp, bảo vệ người Côn - Man (1753 - 1754). Trong tờ tâu năm 1755, Nguyễn Cư Trinh đã cho biết tình hình tổng quát về vùng Trấn Biên vào giữa thế kỷ XVIII như sau: “Năm xưa mở phủ Gia Định cũng trước mở ở Hưng Phước (Mỗi Xuy/Bà Rịa), kế tới Đồng Nai để tiện hội tụ dân quân đầy đủ, rồi sau mới lấy Sài Gòn. Nay đất cũ, từ  Hưng Phước tới Sài Gòn chỉ có hai ngày đường mà dân ở chưa yên, quân giữ chưa khắp”.

Comments