1790

1790

Tháng 1, 2. Hạ lệnh 4 dinh sửa lại sổ tiêu bạ (cũng gọi là sổ tiêu sai, giống như sổ hộ tịch), ghi đủ họ, tên, tuổi, quê quán, các hạng dân; quan quân ghi riêng ở sau sổ. Lại ra lệnh cho những người Đường (Hoa kiều) thuộc các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, Triều Châu, Thượng Hải ngụ trong hạt, mỗi tỉnh đặt một người Cai phủ và một Ký phủ, rồi chiếu theo sổ hiện tại, hoặc làm binh, hoặc làm dân, làm thành hai sổ do Binh bộ và Hộ bộ phê chữ làm bằng. Hương trưởng sở tại nếu dám ẩn lậu một người thì đánh 100 roi và sung phu dịch 3 năm.

* Định lệ cấm quan quân và dân thứ đánh bạc: Ai phạm thì cho  Hương trưởng sở tại bắt giải trị tội, cấp thưởng như thường lệ. Nếu dung túng thì Hương trưởng bị phạt đánh 50 roi, sung dịch phu 6 tháng, lại thu 50 quan tiền để thưởng cho người cáo giác.

* Lệnh cho Sai đạo các thủ Quang Hóa, Đồng Môn, Ba Can, Băng Bột nộp ván gỗ để đóng thuyền đi biển.

– Tháng 4:

* Lấy Khâm sai cai cơ Tiền quân Lê Văn Lân giữ đạo Hưng Phước, Cao Văn Cửu giữ đạo Đồng Môn, Đặng Văn Trưng giữ cửa biển Tắc Khái, Vũ Văn Kế giữ thượng đạo Hưng Phước, Đỗ Văn Thịnh giữ hai đạo Lý Lê và Xích Lam, Tạ Văn Nhuệ giữ đạo Vũng Tàu.

* Ra lệnh cho quan công đường 4 dinh: Phàm xã thôn trong hạt, cứ dân số từ 40 người trở lên thì chọn đặt một Xã trưởng, hầu lãnh bằng thị bằng chữ son, lại cấp cho một người kinh phụ; nơi nào không đủ số ấy thì tạm cấp văn bằng.

* Ra lệnh thợ rèn, thợ súng, thợ bạc phàm thuộc về Nhà đồ thì chia làm 2 phiên, thuộc về 4 dinh thì chia làm 4 phiên, cứ mỗi tháng đổi phiên một lần.

– Tháng 6. Lấy Chưởng cơ Nguyễn Văn Nghĩa làm chức Lưu thủ Trấn Biên vì  Lưu thủ Phùng Văn Nguyệt theo Lê Văn Chuân đi đánh Bình Thuận.

– Tháng 7. Ra lệnh cho hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn mộ lập các nậu biệt nạp: nậu dầu rái, mỗi người một năm nộp 8 vò; nậu dầu tràm mỗi người nộp 800 cân; đèn sáp lớn mỗi người nộp một cây dài 4 thước, hình tròn 1 thước 2 tấc, sáp nhỏ 40 cây; nậu mây sắt, mây nước, mỗi người nộp 14 ngàn sợi, mỗi sợi dài 7 thước, bề ngang 3 phân; nậu lá buông, mỗi người nộp 4000 lá; nậu buồm lá, mỗi người 80 bó, thuế thân nộp theo lệ thường, lao dịch thì được miễn trừ.

– Tháng 8. Sai các đạo làm sổ quân dân trong hạt, sai các tổng xã thôn phường 4 dinh lập sổ ghi các tăng ni đồng đạo và các chùa chiền để biết rõ nhiều ít; và sai biền binh các chi hiệu và các dinh quân đặt đồn để canh gác và tuần phòng các nơi hiểm yếu để ngăn chận bọn trộm cướp hay tụ tập ở đường sông rạch.

– Tháng 9. Lấy Cai bạ Trấn Biên là Trương Đức Khoan làm Binh bộ và Hàn lâm viện Ngũ Khắc Bạn  làm Cai bạ Trấn Biên.

– Tháng 10. Bắt đầu đặt phép lập đồn điền; lệnh cho các đội túc trực và các vệ thuyền dinh Trung quân đi khai hoang làm ruộng ở Vàm Cỏ; lại sai các Nha văn võ mộ người lập các đội nậu đồn điền, hàng năm thu thóc sưu mỗi người 6 hộc. Dân thực nạp mộ được 10 người trở lên thì cho làm Cai trại và rút tên khỏi sổ thôn.

* Lệnh cho các tổng, xã, thôn bốn dinh Phiên Trấn, Trấn Biên, Vĩnh Trấn, Trấn Định đóng sổ tuyển bạ và mở đợt duyệt tuyển. Theo lệ 3 năm là một điển nhỏ, 6 năm làm một điển lớn: Ghi tên số dân đinh đến tuổi và thải những người tàn tật già yếu ra.  

– Tháng 11. Lệnh miễn dao dịch cho thuộc binh và dân phụ lũy ở các đạo thủ cửa biển bốn dinh. Dinh Trấn Biên: đạo thủ Xích Lam, thuyền Kiên nhất, đội Kiên hải thuộc binh, đạo thủ Lý Lê, ba thuyền Thuận nhất, Thuận nhị, Thuận tam làm hải đội, thuyền Tân nhất thuộc binh, đội Hàm ngư  nhất thôn Thanh Chữ phụ lũy, đạo thủ cửa biển Tắc Khái, thôn Tỉnh Bổng phụ lũy; đạo thủ Vũng Tàu, Gành Rái, ba thuyền Thắng nhất, Thắng nhì, Thắng tam thuộc binh.

– Tháng 12:

* Cấp 5 người từ phu coi đền thờ Khai quốc công thần Nguyễn Hữu Cảnh (đều ở thôn Bình Kính Đông, Biên Hòa); hàng năm cấp tiền kho để lo việc thờ tự.

* Chia tướng sĩ dinh tiền quân ra ba đạo: Khâm sai Tổng nhung Cai cơ Phùng Văn Nguyệt coi Trung chi và Nguyễn Văn Lợi coi Tiền chi giữ Bà Rịa; Nguyễn Văn Tánh coi Hậu chi giữ đạo Đồng Môn. Sai Cai cơ Nguyễn Văn Nhân kén phủ binh ở Trấn Biên chia bổ vào hữu chi dinh trung quân và các chi hiệu đội Tiền quân.

Comments