1791 - 1795

1791

Tháng 2. Sai Tán lý Chiêu đi từ đầu nguồn Bà Rịa cho đến Ma Li (tên đất thuộc tỉnh Bình Thuận) hỏi rõ các sách người Đe: sách nào thuộc về đao thủ, sách nào thuộc về Thuận Thành thì ghi lấy sổ đinh chọn người cai quản.

– Tháng 4:

* Chưởng cơ Hiệu úy Trung quân dinh làm Lưu thủ Trấn Biên là Nguyễn Văn Nghĩa vì ốm miễn chức. Lấy Cai quản Hữu Thuận chi là Nguyễn Văn Nhân làm Lưu thủ Trấn Biên, kiêm quản tướng hiệu Hữu chi.

* Sai Tán lý Tiền quân cũ là Chiêu, Cai cơ quản Tiền chi là Nguyễn Văn Lợi, cai cơ quản Hậu chi là Nguyễn Văn Tánh chọn đất Bà Rịa và Đồng Môn xem nơi nào có thể mở đồn điền thì lượng chia quân sở bộ mà cày cấy, làm lấy mà ăn.

– Tháng 5. Trời không mưa, giá gạo tăng vọt. Nguyễn Ánh  khuyến khích người Hoa sang Xiêm và quan dân đi các hạt khác mua thóc gạo. Lại sai dinh thần Trấn Biên cầu đảo ở Văn Miếu và đền Long Vương: trời bèn mưa !

– Tháng 10:

* Trời hạn, sai các dinh thần đến các đền thiêng cầu đảo.

* Định lệ lễ ở Văn miếu và ở các miếu dự tự điển (tức được coi là lệ thờ chính thức của Nhà nước): Các dinh làm sổ kê những vị thần trong xã hạt đã được quốc tế mà dâng lên, sai cộng đồng bàn định thể lệ mà thi hành. Văn miếu một sở ở Trấn Biên, một sở ở Vĩnh Trấn, mỗi năm định mùa Xuân và mùa Thu tế lễ, tiền lễ mỗi nơi 75 quan, sái phu mỗi nơi 20 người. Miếu Hội đồng, 3 sở: Ở Trấn Biên, Vĩnh Trấn và Trấn Định, tế xuân thu hai kỳ, tiền lễ đều 70 quan. Ở Trấn Biên hai miếu Chưởng dinh Lễ Thành Hầu và Chưởng cơ Diên Lộc hầu thì lễ chính mỗi sở tiền 10 quan, sái phu mỗi sở 5 người; hai miếu Chưởng dinh Đại Đức hầu và Ký lục kiêm Cai cơ Giáp tiền lễ chính đán đều 5 quan, sái phu đều 3 người.

* Đổi đắp thành Đồng Môn. Nguyễn Ánh đích thân đến nơi xem xét hình thế, ủy cho Cai cơ Nguyễn Văn Tánh sửa đắp lại.

– Tháng 11. Sai Tri Đồ gia là Phan Văn Tào, Trịnh Phúc Thường, Nguyễn Quang Diệu kén chọn trong 62 ty các cục tượng lấy những người tinh xảo bổ làm các chức Cai đội, Cai quan, Ty quan, Thủ hợp, thứ bực khác nhau. Riêng dinh Trấn Biên có ty thợ bạc, ty thợ đúc, ty thợ nhuộm, ty trường sắt, nghề trường sắt, xã trường sắt, phường trường sắt, ty thợ sắt.

1792

Tháng Giêng. Nguyễn Ánh ban dụ sai Tán lý chiêu và Lưu thủ Trương Văn Giao chọn nơi cho dân chúng từ Phú Yên, Khang Thuận vì chiến tranh xiêu tán vào Bà Rịa, Sài Gòn cư trú làm ăn và chẩn cấp cho những người đói khát. Lại lệnh sai xét các quan quân Tây Sơn trốn vào Nam buộc họ phải trình báo thì cho giữ chức cũ và nếu không muốn thì không ép, cho làm dân.

* Nguyễn Ánh bắt đầu chiến thuật nhân mùa gió, cho thủy binh và bộ binh Bình Thuận - Bình Khang tiến ra Trung bộ đánh Tây Sơn.

– Tháng 7. Nguyễn Huệ chết. Con là Quang Toản 10 tuổi, lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh.

– Tháng 11. Sai Tả quân Khâm sai Đốc chiến Cai cơ là Vũ Công Bảo và Khâm sai Cai cơ Đoàn Văn Trí đem quân đi bắt voi ở các xứ Đồng Nai, Bà Rịa và Hỗn Thủy để nộp.

1793

– Tháng Giêng. Ký lục Trấn Biên là Nguyễn Văn Hướng chết. Lấy Tham tri Lễ bộ Ngô Tùng Châu làm Ký lục Trấn Biên.

– Tháng 2:

* Khâm sai Tán lý của dinh Tiền quân là Chiêu chết. Hình bộ Nguyễn Văn Nghị được sai đi Bà Rịa thay coi bộ thuộc, hiệp cùng Cai cơ chi Túc Oai là Nguyễn Văn Lợi quản quân dân đạo Hưng Phước và các sách thuộc man ở Phố Chăm để giữ các nơi hiểm yếu.

* Định cách thưởng người bắt trộm cướp: Bắt cướp thưởng 100 quan, bắt trộm 50 quan, kẻ cắp thường thưởng 25 quan.

* Lập Hoàng tử Cảnh (14 tuổi) làm Đông cung. Lấy Hàn lâm viện chế cao Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định làm Đông cung thị giảng.

– Tháng 3. Nguyễn Ánh triệu tập Lưu thủ Trấn Biên về và lấy Chưởng cơ Nguyễn Văn Nghĩa làm Lưu thủ Trấn Biên.

– Tháng 4. Nguyễn Ánh đích thân cầm quân đi đánh Qui Nhơn: liên tiếp lấy được Bình Khang, Bình Thuận, Phú Yên, Qui Nhơn.

– Tháng 9. Nguyễn Nhạc chết. Quang Toản phong cho con Nguyễn Nhạc là Nguyễn Văn Bảo làm  Hiếu công, cắt huyện Phù Ly cho làm thuộc ấp.

1794

Sửa lại Văn miếu Trấn Biên vì lâu năm đã đổ nát. Lễ bộ Nguyễn Hồng Đô (Nguyễn Đô) khâm mạng giám đốc việc trùng tu: giữa làm Đại Thành điện và Đại Thành môn, phía đông làm Thần miếu, phía tây làm Dục Thánh từ; trước xây tường ngang, phía Tây có cửa Kim Thanh, phía đông có cửa Ngọc Chấn, chính giữa sân trước dựng Khuê Văn Các, treo trống chuông trên ấy; phía tả có Sùng Văn đường, phía hữu có Duy Lễ đường. Chu vi bốn mặt ngoài xây thành vuông, mặt tiền làm cửa Văn miếu, phía tả phía hữu có hai cửa Nghi môn. Rường cột chạm trổ, qui chế tinh xảo, đồ thờ có những thần bài, khám vàng, ve chén và đồ dùng để cúng tế đều tinh khiết chỉnh nhã. Thường năm có hai lệ tế xuân và thu; thay mặt vua, quan Tổng trấn đến hành lễ, phân hiến hai bên là các Trấn quan, quan Đốc học, còn lại đều đứng làm bồi tế. Lệ đặt 50 lễ sanh và 50 miếu phu.

1795

– Tháng 9:

* Nguyễn Ánh sau thời gian dài thân chinh đôn đốc việc đánh nhau với Tây Sơn ở Trung bộ, trở về Gia Định.

* Lệnh cấm thuyền buôn nước ngoài thu mua vải lụa.

– Tháng 10:

* Thu vải trắng của dân trại đồn điền nộp thay thuế để may áo chiến cho quân sĩ: mỗi người nộp một tấm, trị giá 2 quan 5 tiền, khấu trừ tiến thuế năm Bính Thìn (1796).

* Lại định việc duyệt tuyển, kiểm kê ba hạng tráng, quân, dân cùng những hạng lão, tàn tật, cùng cố và những người chưa đến tuổi và đến tuổi 17 trở lên.

– Tháng 11. Định rõ điều lệ nấu rượu: mỗi lò nộp 200 quan tiền thuế

– Tháng 12. Định lại phép thi: Kỳ đệ nhất gồm 2 bài kinh nghĩa, truyện nghĩa; 2 bài thơ vịnh sử, vịnh cảnh; kỳ đệ nhị thì văn sử, văn tả cảnh, mỗi thứ đều 3 bài; kỳ đệ tam: thơ và phú, vịnh sử, vịnh cảnh đều một bài. Người được đỗ chia làm 3 hạng giáp, ất, bính để lượng bổ quan chức và cho được miễn binh dịch theo thứ bực.
Comments