1804 - 1812

1804

– Tháng 4:

* Lưu trấn Gia Định là Nguyễn Văn Nhân tâu rằng: “Các hạng lão tật của dân đồn điền, xin từ nay giảm bớt thóc thuế cho 5 phần mười. Ngoài ra khe ngòi xưa nay không có thuế, gần đây bị bọn gian mưu lợi bắt dân nộp thuế làm rối cho dân xin tha cho”. Gia Long chấp thuận lời tâu.

* Định ra quan chế và định lệ quân cấp công điền công thổ (xem ĐNTLCB, tập III, 180-188).

– Tháng 7:

* Định lệ trạm mục và trạm phu ở các trạm. Quảng Đức 6 trạm, Quảng Nam 7 trạm: Phiên Trấn, Vĩnh Trấn, Trấn Định, Trấn Biên đều 2 trạm. Mỗi trạm đặt Cai đội, 1 phó đội và từ Quảng Nam đến Gia Định mỗi trạm đều đặt 5 phu.

* Đặt lệ thưởng bắt hổ: Bắt được một con thì thưởng 30 quan tiền. (Có lẽ do lệ này mà cọp được gọi là “ông ba mươi”).  

1805

– Tháng 6:

* Gia Long sai 6 dinh trấn Gia Định: Trấn Biên, Phiên Trấn, Vĩnh Trấn (tức Vĩnh Thanh), Trấn Định (tức Định Tường) và Hà Tiên kê khảo sự tích cương vực thổ sản trong địa hạt và đo xem đường sá xa gần, núi sông chỗ nào hiểm yếu hay bình thản, vẽ vào bản đồ, ghi chép biên bản theo từng khoản, cước chú rõ ràng, dâng lên để làm Trình lục (sách kê hành trình)

* Hạ lệnh cho Gia Định thông sức với người Hán (Việt) và dân Man (các dân tộc ít người) họp chợ, chỉ được ở đầu địa giới để trao đổi, không được tự tiện vào sách Man. Kẻ nào không theo lệnh thì trị tội. Thủ trấn mà dung túng thì xử biếm hay bãi.

– Tháng 7. Đặt kho dự trữ ở ba dinh Trấn Biên, Trấn Định và Vĩnh Trấn. Theo lệ trước đó tô thuế ở các dinh đều nộp vào kho trấn ở Gia Định. Mỗi khi có phát chẩn thì do kho trấn chuyển phát. Gia Long cho rằng đường xa không tiện nên ra lệnh 3 dinh phải dựng kho riêng để trữ thóc tô. Trấn Biên 6.000 phương, Trấn Định và Vĩnh Trấn đều 1.000 phương phòng sẵn dùng. Lại lệnh: Ở Gia Định khi gặp đói kém thì quan Lưu trấn phát trước thóc cho dân vay kịp thời rồi sau hãy tâu.

– Tháng 8. Lấy Trần Minh Nghĩa làm Cai bạ Trấn Biên.

– Tháng 12. Lấy Tham hiệp Nghệ An là Nguyễn Xuân Thục làm ký lục Trấn Biên.

1806

– Tháng 5. Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế ở điện Thái Hòa. Lấy hành thổ tượng trưng cho vua nên chuộng sắc vàng. Đặc biệt, vào dịp này ban tám điều ân xá: Tha 5 phần 10 thóc tô ruộng công tư và các ruộng đồn điền, điền trang, quan trại. Các dinh thuộc trấn Gia Định trước đã có chiếu tha tiền thuế sai dư 5 năm, nay tha thêm 1 năm nữa là 6 năm. Giảm hạn án cho tù đồ đày, tù phạm tội nhẹ.

– Tháng 9:

* Hạ lệnh cho thành thần Gia Định: thông sức cho quan quân dân chúng ở 4 dinh, ai có đóng thuyền nan, thuyền ván từ 5 thước trở lên, có thể đi biển được thì mỗi năm đến tháng 11 phái người khám thực làm danh sách tâu lên.

* Sách Nhất thống địa dư chí làm xong. Sách do Gia Long sai Thượng thư binh bộ Lê Quang Định kê cứu bản đồ sách vở cả nước, các thành, dinh, trấn, đạo từ kinh đô trở vào Nam đến Hà Tiên, ra Bắc đến Lạng Sơn để biên soạn rõ núi sông, đường đi, giới hạn bờ cõi, sông biển, nguồn lạch cho đến cầu cống, chợ điếm, phong tục, thổ sản. Sách gồm 10 quyển.

1807

– Tháng 2. Định phép thi Hương và thi Hội. Lấy tháng 10 năm nay mở khoa thi Hương, sang năm Mậu Thìn mở khoa thi Hội.

– Tháng 6:

* Lưu trấn thần Gia Định tâu rằng: “Trộm cướp trong hạt nổi lên luôn, xin đặt đồn bảo ở những nơi xung yếu trên đường thủy bộ và sai thôn ấp đặt điếm canh để xét hỏi nghiêm ngặt”. Gia Long y cho.

* Dân Gia Định kiếm nộp ván gỗ, ván long hiệp cốt (dùng để đóng sườn ghe thuyền) và gỗ tròn có nhiều tì vết, thước tấc lại không đúng kích thước. Do đó, quan trấn Gia Định đem việc tâu lên. Gia Long dụ rằng: “Lên núi làm gỗ là việc vất vả. Nếu câu nệ mẫu thước thì không khỏi làm khổ cho dân. Nên châm chước mà thu nhận để dân được tiện”.

– Tháng 9. Định điều lệ thuyền vận tải, bao gồm qui định về kích cỡ (phép đo), cấp bài chỉ, định lệ trọng tải cho các loại thuyền, qui định việc thuyền buôn vận tải của công, việc bồi thường tai nạn, giá tiền thuê chở, tiền thuê bến.

 

1808

Đổi Gia Định trấn làm Gia Định thành; chỉ định Khâm sai Chưởng Chấn võ quân Nhân Quận công làm Tổng trấn, Khâm sai Lễ bộ Thượng thư An Toàn hầu Trịnh Hoài Đức làm Hiệp Tổng trấn; ban cho ấn trên chóp có hình sư tử và được phép dùng son đỏ. Trấn thành đóng ở huyện Bình Dương phủ Tân Bình.

Năm này dinh Trấn Biên cải đổi thành trấn Biên Hòa, đem huyện lên làm phủ, đem tổng làm huyện. Phủ Phước Long có 4 huyện: Phước Chánh (tổng Tân Chánh cũ), Bình An, Long Thành, Phước An; xét đất rộng hẹp, dân ít nhiều thì theo địa thế liền lạc nhau mà chia đều; lại đặt thêm hai tổng. Địa giới trấn Biên Hòa được chuẩn định: Phía Đông giáp núi Thần Mẫu, lập trạm Thuận Biên, chạy dài ra Bắc đều là sách động của sơn man; phía Nam giáp trấn Phiên An, trên từ suối Băng Bột qua sông Đức Giang đến Bình Giang bẻ quanh về Tam Giang Nhà Bè (đại thể hiểu là sông Sài Gòn), thẳng xuống vùng biển Cần Giờ qua Vũng Tàu ra Thát Sơn (Gành Rái) lấy một dải sông làm giới hạn; đất ở bờ phía Bắc có con sông ấy là địa giới trấn Biên Hòa, phía Đông giáp biển, phía Tây đến sơn man.

– Tháng 7. Thành thần Gia Định tâu rằng: “Danh hiệu phủ huyện ở các trấn đã thay đổi, xin đặt mỗi huyện một tri huyện”. Vua Gia Long y lời. Sai xem xét địa thế để lập các huyện nha, lại thấy buổi đầu mới chia đất, công việc nên theo đơn giản, sắc rằng: Các đạo Long Xuyên, Kiên Giang, Đông Khẩu, Đồng Môn, Hưng Phước, Trấn Giang thuộc địa phận huyện nào thì không phải đặt huyện nha nữa, vẫn cho Quản đạo kiêm lý công việc huyện.

1809

– Tháng Giêng. Đặt kho Hưng Phước ở Biên Hòa. Vua thấy Hưng Phước là nơi quan quân đi lại phải qua nên lập kho để sẵn đề phòng chi cấp, nên cho xây kho ở Khu My (tên đất), rồi thu thóc tô ở huyện Phước An chứa trữ vào đó.

1811

– Tháng Giêng. Bãi hương binh Gia Định lại cho về làm ruộng.

– Tháng 2. Ở Gia Định gạo rẻ: mỗi phương giá 2 tiền 30 đồng. Gia Long sai 4 trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường cho dân nộp tô đều nộp thuế gấp đôi, quan theo giá khấu trừ tiền thuế thân.

– Tháng 3. Khai mỏ sắt ở La Bôn, Biên Hòa. Nhóm lái buôn người Hoa là Lâm Úc Tam và Lý Kinh lãnh trưng, mộ thổ dân và người Hoa ở đó lập làm đội Thiết trường. Mỗi năm  nộp thuế sắt mỗi người 50 cân.

1812

Tháng 7 âm lịch:

* Soạn xong luật Gia Long, gồm 22 quyển, có 398 điều (về hình danh và phàm lệ 45 điều, luật lại 27 điều, luật hộ 66 điều, luật công 10 điều).

* Sai Hiệp Tổng trấn thành Gia Định là Ngô Nhơn Tịnh và Tả tham tri bộ Hộ là Lê Viết Nghĩa kiểm tra lệ thuế tiền thóc sản vật ở các trấn, đạo thuộc thành.

* Triệu Nguyễn Văn Nhân về, lấy Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn thành Gia Định, Trương Tấn Bửu làm Phó Tổng trấn; đồng thời khiến 3.000 người thuộc quân Thần sách ở Thanh Nghệ cùng Ngũ quân và Tượng quân ở Bắc thành theo đi thú ở Gia Định.

Comments