1813 - 1816

1813

– Tháng Giêng. Số hộ khẩu ở Gia Định hàng năm tăng thêm. Thành thần dâng sổ đinh lên, sổ mới thêm 26.500 người.

– Tháng 2. Bắt đầu đặt tri huyện ở các huyện Gia Định , mỗi huyện 2 người. Kén các Tri huyện thâm niên ở 4 dinh trực lệ và hai trấn Quảng Ngãi và Bình Định để bổ sung. Ở trấn Biên Hòa, huyện lỵ Phước Chánh ở Sa Thị (chợ Cát), huyện lỵ Bình An ở Băng Vọt, huyện lỵ Long Thành ở Đồng Môn, huyện lỵ Phước An ở đạo Hưng Phước.

Định số lượng người lại dịch ở các huyện từ Quảng Bình vào Nam: Mỗi huyện có một Đề lại, 2 Thông lại, 6 Chính sai, 50 Lệ dịch. Lại thì được miễn phu dịch, lệ dịch (từ Quảng Bình từ mộ dân ngoại tịch. Gia Định được lấy dân sở tại) thì được miễn 5 phần 10 thuế thân.

– Tháng 7. Bắt đầu mở khoa thi Hương từ Quảng Bình trở vào Nam. Lấy đỗ Hương cống 17 người, trong đó trường Gia Định có 8 người.

– Tháng 12. Phó Đốc học Gia Định là Hoàng Công Xuân được cử làm Cai cơ Biên Hòa.

1814

– Tháng Giêng. Hạ lệnh cho Gia Định dồn 5 đội Gia Nghi để sung bổ vào 5 thuyền Bính; cho 5 trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường, Hà Tiên mộ dân ngoại tịch lập mỗi trấn một thuyền Bính, mỗi thuyền 50 người. Phiên An là thuyền An Bính, Biên Hòa là thuyền Hòa Bính năm Quí Dậu, lấy dân đinh các hạng tráng, quân dân các trấn là 49.700 người, trong đó Biên Hoà 5.201 người. Phạm cứ 8 đinh kén 1 người. Biên Hòa đặt làm cơ Biên Hùng và 4 đội Biên Dũng nhất, nhị, tam, tứ.

- Tháng 5. Hạ lệnh cho các thành, dinh, trấn lập nhà khám, nhà ngục ở phía bắc thành. Nhà khám 3 gian 2 chái, nhà ngục 5 gian 2 chái.

- Theo lệ chia ban phái đi thú ở Nam Kỳ, trấn Biên Hòa cử 50 người và 4 viên các đội đi thú trấn Hà Tiên. Cứ lệ 6 tháng đổi 1 lần.

- Tháng 10. Đặt thêm phu trạm ở trạm sông Gia Định. Các dinh Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường, mỗi dinh một trạm, phu trạm đều 300 người.

- Gia Long định về việc coi giữ đàn miếu. Hạt Biên Hòa có miếu Văn Thánh được nghị chuẩn có 50 người trông coi.

- Tháng 12. Hạ lệnh từ Quảng Đức về Bắc đến Thanh Hóa, về Nam đến Gia Định, phàm các nơi đồn thủ xung yếu thì vẫn để Thủ ngự, còn bao nhiêu giảm bớt.

* Thu giảm tiền thuế năm nay cho các nguồn ở Gia Định cho các bực khác nhau: Huyện Phước Long 2 nguồn, tiền thuế 22 quan tha hết; Tiền Giang - Hậu Giang 4 sở đầm ao, tiền thuế 6.500 quan, giảm cho 500 quan; huyện Kiến An 2 nguồn, tiền thuế 980 quan, giảm hơn 320 quan.

1815

- Gia Long chuẩn định về việc phòng ngừa biên giới. Viên bảo hộ và quan 5 trấn: Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, Hà Tiên cùng các nha môn không được tự tiện cho giấy thông hành sang nước Cao Miên. Từ nay về sau đặt làm phép thường.

- Tháng 8. Ban hành Quốc triều luật lệ (tức luật Gia Long).

- Tháng 11. Định việc quân chính ở Gia Định: phàm lính mới kén không được yêu sách xã dân phụng dưỡng. Người Quản suất không được sai việc riêng và quấy nhiễu, cùng nhân việc công mà thu góp. Nếu xã dân có bị Quản suất quấy riêng thì cho tố cáo với quan sở tại để xét xử. Binh lính bỏ ngũ trốn đi thì đánh 50 roi, hai lần thì đánh 70 roi và ba lần thì xử tử. Đi trận mà trốn thì tuy lần đầu cũng xử tử. Còn như đến kỳ đổi thú, người đương ban mà không đến thì chậm một ngày đánh 30 roi, mỗi ngày thêm một bực, trị chỉ đến 100 roi là cùng.

* Lệnh cho Quản cơ, Cai đội ở các trấn, đạo thuộc Gia Định mộ dân ngoại tịch làm lính theo hầu: Quản cơ 7 người, Cai đội 3 người.

- Gia Long định cờ hiệu trạm, nghi trượng trạm gồm: cờ có cắm mũi giáo, lệnh đồng thanh kiếm cho các trạm sông ở Biên Hòa, Gia Định… làm hiệu khi đưa trạm bằng chèo thuyền.

1816

- Tháng Giêng. Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Huỳnh Đức được cử làm Tổng trấn Gia Định.

- Tháng 3. Tha giảm tô thuế từ Quảng Bình vào Gia Định. Ở Gia Định thì tô ruộng giảm 2 phần 10, thuế thân giảm 4 phần 10.

* Dời trấn lỵ Biên Hòa nguyên ở thôn Phước Lư sang thôn Tân Lân (cả hai thôn đều thuộc huyện Phước Chánh).

- Tháng 11. Cử Trịnh Hoài Đức làm Hiệp Tổng trấn thành Gia Định.

* Lấy Thiêm sự bộ Hộ sung Hộ tào Bắc thành là Bùi Phu Đạo làm Cai bạ Biên Hòa.

* Đổi định lại lệ thóc phụ hao về việc trưng thu cho Gia Định. Ở Gia Định có 3 hạng hộc: Thuế ruộng dùng hộc lớn (mỗi hộc 75 thăng), ruộng núi và ruộng cỏ dùng hộc trung (47 thăng), ruộng đồn điền đều dùng hộc nhỏ (37 thăng 4 hợp) thóc phụ hao mỗi hộp đều 1 thăng. Đến nay đổi định theo như lệ từ Bình Thuận ra Bắc: Hộc lớn phụ 2 thăng, hộc trung phụ 1 thăng 2, hộc nhỏ phụ 1 thăng để cho được công bình.

Comments