1832

1832

- Tháng Giêng. Lê Văn Duyệt, Tổng trấn thành Gia Định, vì tuổi già sức yếu dâng sớ xin cáo lão; sớ tâu: “Hiện nay từ phía Bắc kinh kỳ trở ra đã chia hạt đặt quan, có các nha Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát cùng gìn giữ nhau, ràng buộc nhau rất hợp với chức Phương bá (quan đứng đầu một địa phương) Liên suất (người đứng đầu chư hầu 10 nước, tức như Án sát sứ đời sau) đời xưa. Thần dân già yếu, trong lòng cũng biết mưu kế dài lâu không gì hay hơn thế. Vậy xin sắc sai các đình thần bàn xét về các trấn ở thành hạt Gia Định để kiến thiết một thể, tỏ ra một chính sách chung, đại đồng, khiến thần được nghỉ việc thành, điều dưỡng cho khỏi sẽ xin về kinh chầu hầu”. Đề nghị bỏ cấp thành để lập tỉnh như đã làm ở miền Bắc của Lê Văn Duyệt này được vua Minh Mạng dụ rằng: “(...) đợi sau sẽ xuống chỉ quyết định”.

- Tháng 4. Định điều lệ khảo khóa và giảng dạy của học thần thành Gia Định vì học trò của thành hạt có người trải qua 8 khóa mà học chưa đủ văn thể 4 trường. Vua Minh Mạng sai bộ Lễ bàn xét rồi chuẩn định: Từ này các học thần ở thành Gia Định cứ 3 ngày một lần giảng tập, lần nào cũng ra đủ đầu bài 4 trường (tức 4 kỳ thi trong một khoa Hương), người nào chưa biết đủ thể văn nào thì bắt chuyên tập thể văn ấy rồi hội bình để nhận xét những câu đáng điểm, đáng sổ, yết bảng để nêu rõ quyển hơn, quyển kém. Người nào khi làm khi nghỉ sẽ bị răn dạy bằng hình phạt, giáo dục cốt sao cho 4 thể văn đều thông.

- Tháng 6. Trấn thủ Biên Hòa là Phạm Phú Chung chết. Cử Phó vệ úy ở Ban trực trung vệ doanh Thần sách là Phạm Hữu Tâm làm Trấn thủ Biên Hòa.

- Tháng 8. Tổng trấn thành Gia Định là Lê Văn Duyệt chết. Nguyễn Văn Quế lãnh ấn Tổng trấn thành Gia Định. Sau đó, Quế dâng sớ báo việc xét nhà con nuôi của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Yến thấy có chứa 10 tờ giấy đóng sẵn ấn “Quốc gia tín bảo” và 10 tờ giấy đóng sẵn ấn “Công đồng” và phát giác hơn 1070 tấm gỗ táu và gỗ dầu mà Duyệt đã trữ riêng. Minh Mạng ra lệnh sung công gỗ, hủy các giấy có ấn và tiếp tục tra xét tội của Lê Văn Duyệt để tâu lên nghị xử.

- Tháng 9. Gia Định có giặc biển Chà Và lén lút nổi lên ở tấu phận Long Hưng thuộc tỉnh Vĩnh Long, cướp bóc, bắt người đem đi. Quan Trấn thủ Lê Văn Nghĩa đem binh thuyền đuổi bắt. Việc đến tai vua, vua sai Trấn thủ Biên Hòa là Phạm Hữu Tâm, Thự Trấn thủ Phiên An là Trần Hữu Thành đem binh thuyền đi hội tiễn. Giặc liền ra đảo Côn Lôn thuộc Phiên An, đón cướp thuyền buôn; lại lên bờ đốt nhà, cướp của (...) Đội trưởng đội Phú Cường, sở Phú Quốc là Ngô Văn Thành đánh nhau với giặc ở Hòn Dừa chém được mấy đầu giặc, bắt được thuyền súng ống và khí giới của giặc.

* Bắt đầu chia tỉnh, đặt quan từ Quảng Nam trở vào Nam. Ở Gia Định bỏ cấp thành, đổi ra lục tỉnh: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Tỉnh Biên Hòa thống trị một phủ Phước Long và 4 huyện: Phước Chánh, Phước An, Bình An, Long Thành.

* Bắt đầu đặt 17 phân phủ ở các phủ địa phương (các huyện trong phủ hạt thuộc đồng Tri phủ kiêm lý hoặc thống hạt thì gọi là “phân phủ”). Theo lệnh này, ở Biên Hòa, Tri phủ Phước Long kiêm lý huyện Phước Chánh, thống hạt huyện Bình An, Phước An và Long Thành. Phủ Phước Long được coi là phủ trung khuyết (địa điểm trọng yếu vừa phải, công việc không nặng quá, không nhẹ quá) hoặc giản khuyết (địa phương công việc có ít và giản đơn): chỉ đặt 1 tri phủ kiêm lý 1 huyện, còn các huyện khác đều là thống hạt và huyện kiêm lý không cần đặt huyện thừa. Lệnh này cũng định rõ việc giữ ấn triện, xác định nhiệm vụ (thu thuế, xử kiện, đắp đê, đánh cướp, trị an...) của Tri phủ, đồng Tri phủ, các huyện thừa, huyện do phủ thống hạt... (Xem ĐNTLCB, tập XI, tr 268 – 275).

* Đổi bổ Hiệp trấn Biên Hòa là Vũ Quýnh làm Bố chánh sứ, Thự lý ấn quan phòng của Tuần phủ; Thự Tham hiệp Lê Văn Lễ đổi bổ làm Thự Án sát, cho Quân cơ Hậu quân là Hồ Kim Truyền, Thự phó Vệ úy, trật tùng tam phẩm sung Lãnh binh quan Biên Hòa; cho Vương Văn Lễ làm Thành thủ úy Biên Hòa.

- Tháng 11:

* Trẻ chăn trâu ở Biên Hòa bắt được cái mũ cổ bằng vàng (nặng 2 lạng 5 đồng cân) đem đập ra đi chia nhau. Quan tỉnh thu lại đem dâng. Thấy mảnh vàng có khắc chữ nhỏ là thứ chữ “phiên”, vua Minh Mạng bảo thị thần rằng: “Mũ này là đồ cổ của nước Chiêm Thành, lũ mục đồng không biết, tự tiện đập vỡ khiến đồ vật mấy trăm năm về trước không còn lại làm ghi, thực khá tiếc”. Ra lệnh thưởng cho người bắt được cái mũ ấy 20 lạng bạc.

* Định ngạch cho các thuyền 6 tỉnh Nam kỳ. Tỉnh Biên Hòa hiệu thuyền Biên An 1 chiếc và thuyền sam bản nhỏ kèm theo 1 chiếc, thuyền Hải đạo 5 chiếc, thuyền Lê, thuyền Ô, thuyền Chu mỗi thứ 10 chiếc; cộng 37 chiếc và thuyền Hải đạo ngoại ngạch 2 chiếc.

- Tháng 12.  Cấp ấn tròn bằng sừng cho 6 tỉnh Nam kỳ: mặt ấn khắc tên tỉnh. Ví dụ tỉnh Biên Hòa thì khắc 2 chữ “Biên Hòa”.

Về quan chức: Cứ 2 tỉnh An – Biên, Long – Tường, An – Hà thì Tổng đốc kiêm làm Tuần phủ; Biên Hòa, Định Tường và Hà Tiên thì dùng Bố chánh quyền giữ ấn và làm việc Tuần phủ; hai ty Bố và Án – mỗi ty có một Thông phán và một Kinh lịch; các Bát cửu phẩm thư lại đến vị nhập lưu thư lại thì tùy tỉnh to hay nhỏ mà nhiều ít khác nhau.

Về quân sự: Quảng Nam, Phú Yên, Khánh Hòa, Biên Hòa, Định Tường, Hà Tiên mỗi tỉnh đặt một quan Lãnh binh, dùng quan tùng tam phẩm. Lãnh binh Biên Hòa chuyên coi 2 cơ Biên Hùng và cơ Biên Hòa, 2 cơ Biên Uy tả hữu, tượng cơ Biên Hòa kiêm quan thủy cơ Biên Hòa. (Cơ Biên Hòa nguyên là các đội Diêm Tiêu, Kiên Thành, Hoa Tiêu thuộc cơ Tuần Thành và thuộc binh Vũ Nha thuộc thành Gia Định cùng các đội trấn binh cơ Biên Thạnh thuộc Biên Hòa và trung chi Kiến Võ cũ dồn bổ cơ Biên Uy tả nguyên là Hậu chi Gia Uy đồn điền đổi ra. Tượng cơ Biên Hòa nguyên là đội tượng cơ Định Tường thuộc thành Gia Định chia bổ voi trận 20 thớt. Thủy cơ Biên Hòa nguyên là Tả chi Gia Uy đồn điền đổi ra).

Về công việc nên làm:

 - Tất cả văn thư, sổ sách của Gia Định cũ đều giao lại cho Tổng đốc An – Biên để sau này có hạt nào tra cứu thì sao lục đưa cho để chấp chiếu.

- Tỉnh Biên Hòa được chuẩn y hạn định 100 ống đưa trạm. Mỗi ống phải khắc danh hiệu "nha môn, địa phương và số hiệu".

- Từ Quảng Nam trở vào Nam, các tượng cơ đã lệ thuộc vào quan địa phương và quan Lãnh binh cai quản. Còn những viên chuyên quản ở kinh trước đều bỏ; vệ binh kinh tượng đi thú Gia Định cũng rút về hàng ngũ.

- Các hạt Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên có sự giao thông bằng đường thủy, những nhà, trạm thủy dịch đặt từ trước để chuyển đạt đến để như cũ. Việc đi lại quan báo thì do địa phương tùy tiện sắp đặt.

- Các đồn điền nguyên có thuế thân, nay đã bổ sung vào cơ binh thì đều nên miễn.

- Đội Lục thuộc Giáo Dưỡng binh ở thành Gia Định cũ có người nào tình nguyện về kinh thì bổ vào đội Giáo Dưỡng, còn thì xét theo quê quán, ghi tên vào sổ đinh.

- Các đội pháo thủ cũ cũng phiên chế lại. Đội pháo thủ Biên Hòa gộp với đội pháo thủ Ngũ của thành Gia Định cũ dồn làm đội pháo thủ Biên Hòa.

- 10 đội Hồi Lương của thành Gia Định cũ chia cho lệ thuộc Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang mỗi tỉnh 2 đội.

- Các thuế tiền, thóc, sản vật các hạt thuộc thành Gia Định cũ từ đây về sau đều nộp vào kho ở tỉnh. Các chỗ thủy lợi, giang tuần, tổ ong, lưới cá đều do quan địa phương đấu giá phát mại. Còn các sản vật của kho hàng năm, do bộ Hộ xem xét ở kinh cần dùng bao nhiêu, sẽ tư đi từng hạt để thu mua.

- Các kho tàng thuộc thành Gia Định cũ và kho An Bình ở Phiên An vẫn do Tổng đốc An – Biên nhận giữ; còn kho Hòa Phước tỉnh Biên Hòa, kho Vĩnh Viễn tỉnh Vĩnh Long, kho Định An tỉnh Định Tường đều dỡ về làm ở tỉnh.

- Các tỉnh Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên và các đồn tấn trước hết hãy đem thuyền của thành Gia Định cũ mà chia phát ra, rồi do bộ Công tiếp tục xét bàn, sẽ chuẩn định thành ngạch.

- Những phủ huyện mới lập thì phủ đặt một Giáo thụ, huyện đặt một Huấn đạo để dạy học.

Comments