1834

1834

– Tháng Giêng. Giặc Xiêm chia ra chiếm đóng ở phủ Ba Cầu Nam ở Chân Lạp. Tuần phủ Gia Định cho rằng nơi ấy có đường sông thông đến Quang Hóa và thượng du Trọc Giang (Nước Đục ?) Biên Hòa, liền làm giấy tư cho Thự Tuần phủ Vũ Quýnh theo địa hạt canh giữ. Quýnh ủy cho Án sát Phạm Duy Trinh đến Thượng Nguyên (chỗ đối ngang với Trọc Giang) thuộc thủ sở An Lợi, đốc thúc biền binh phái đến trước đóng ngăn chận. Còn Quýnh đem binh dõng và voi trận, theo dụ trước, đến quân thứ Gia Định.

* Giặc Xiêm xâm lấn Ba Cầu Nam bị quan quân Chân Lạp đánh bại nặng, đuổi chúng chạy đến Lô Viêm, Tham Môn.

* Quan quân ở quân thứ An Giang lấy lại được đồn Châu Đốc. Quân Xiêm hơn 10.000 bộ binh rút chạy về nước.

* Thự Án sát Biên Hòa là Phạm Duy Trinh tâu: “Trước đây mộ 2.000 dân trong hạt, dồn thành đội ngũ: có hơn 800 người được theo Thự Phủ Vũ Quýnh đi Gia Định làm việc bắt giặc, còn hơn 1.000 người thì được để lại đóng giữ thành tỉnh”. Minh Mạng cho rằng giặc Xiêm đã yên, chuẩn cho liệu thả về ngay những lính trú phòng ấy.

– Tháng 3. Định rõ điều lệ thi Hương: 1/ Trường Gia Định: Sĩ tử Khánh Hòa trở vào Nam thi chung. 2/ Ba tháng trước khi thi thì các Giáo thụ Huấn đạo thi thử một lượt, rồi chuyển giao cho Thượng ty học chính sát hạch lại. 3/ Các nghĩa tử du học ở các tỉnh thì về nguyên quán ứng thí. Riêng những người ở Biên Hòa trở vào Nam, hoặc sinh trưởng ở kinh kỳ và những người ở huyện Tống Sơn cư trú từ Quảng Bình trở vào Nam đã được lâu đời thì cho phép phụ thí tại chỗ mình ở.

– Tháng 4. Cho phép dân tỉnh Biên Hòa năm nay được nộp thuế trừu nam (một thứ hàng tơ ta dệt, có tuyết thô sơ) thay bằng tiền.

* Quan quân ở quân thứ Gia Định tổng công kích thành Phiên An, nhưng bị lực lượng nổi dậy chống trả mãnh liệt nên không vào được thành và bị thiệt hại nặng, chết trên 300, bị thương 2.400 người. Tướng quân Tống Phước Lương, Tham tán Lê Đăng Doanh đều bị giải chức. Tham tán Nguyễn Xuân được trao chức Thảo nghịch tả tướng quân.

* Truyền dụ 5 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Định Tường, Biên Hòa, Hà Tiên chiếu theo ngạch quân, cho tập hợp quân lính: Biên Hòa, Hà Tiên mỗi tỉnh 500 người (các tỉnh kia 1000 người) nếu thiếu thì lấy thêm hương dõng quanh tỉnh sung vào rồi cấp phát lương tiền cho đi thao diễn để giữ tỉnh thành. Về võ khí thì 500 lính chỉ cho 200 cầm điểu thương, 200 cầm trường thương, còn lại mang cờ trống. Các tỉnh ấy phải sửa chữa các thuyền, thành trì, súng lớn và khí giới cho được vững vàng và tinh nhuệ.

– Tháng 5. Chia sai quan đi 6 tỉnh Nam kỳ xếp đặt công việc. Đặng Văn Chương (Thự Tả tham tri bộ binh) đi đôn đốc công việc 2 tỉnh An - Hà, Đoàn Văn Phú (Thự Tả tham tri bộ công) đi đôn đốc công việc 2 tỉnh Định -  Biên, Dương Văn Phong đi hai tỉnh Long - Tường. Đây là công việc chỉnh đốn những công việc quan yếu đã bị hư hỏng sau thời kỳ binh lửa trước đó: 1/ Lo việc tuyển lính, tập luyện tổ chức thành đội ngũ. 2/ Tổ chức thành cơ đội cho binh đồn điền. 3/ Tổ chức lại lực lượng hương dõng. 4/ Cấm binh dõng quấy nhiễu dân. 5/ Giải ngũ một số binh dõng. 6/ Sửa chữa và bảo quản thuyền ghe. 7/ Đắp thành tạm, sửa thành cũ ở các tỉnh.

– Tháng 6. Xây đắp thành đất ở tỉnh Biên Hòa ; 4 mặt thành đều dài 70 trượng, cao 4 thước 3 tấc, dày 1 trượng, mở 4 cửa. Đào hào rộng 2 trượng, sâu 6 thước. Sai Khâm sai Đoàn Văn Phú cùng quan tính việc làm. Chuẩn cho lấy 1.000 dân trong hạt đứng ra xây đắp, hậu cấp cho tiền gạo.

– Tháng 7. Đổi các binh dõng sai phái phòng thủ các tấn sở ở quân thứ Gia Định: nguyên hương dõng Vĩnh Long 800 giảm xuống 600, binh dõng Biên Hòa 500, tăng số giản binh thêm 100, hương dõng Định Tường 500, vẫn để như cũ. Tất cả 2.800 người.

* Tỉnh Biên Hòa mưa lụt, ở tỉnh lỵ và các huyện Bình An, Phước Chánh, nhà cửa, vườn ruộng phần nhiều ngập lụt.

* Đặt 2 đội Tuần hải ở Biên Hòa. Chuẩn cho trích lấy quân ở 3 thuyền thuộc thủ sở Phước Thắng, 50 người làm đội Nhất, 50 người thuộc thủ sở Long Hưng làm đội Nhị. Mỗi đội đặt một Suất đội. Hàng năm nhằm thượng tuần tháng 4, do tỉnh cấp thuyền công, súng đạn, khí giới, theo viên giữ Tấn sở đi tuần tiễu phần biển thuộc tỉnh mình cho đến cuối tháng 9 thì thôi.

– Tháng 11. Vời Thự Đốc học Biên Hòa là Nguyễn Đình Lập về kinh và cử Trưởng sử Nguyễn Vĩnh Trinh lãnh Đốc học Biên Hòa.

– Tháng 12. Quan tỉnh Biên Hòa tâu: “Trong tỉnh, một năm chi lương ước hết 8.300 phương gạo, mà số thuế chính cung toàn hạt chỉ có 4.300 hộc thóc và 4.300 phương gạo. Vậy xin đến kỳ thuế sang năm, chiếu số đóng thu bằng tiền, cho dân được Phiên An thay bằng thóc và gạo để đủ dùng trong một năm”. Minh Mạng y cho.

* Ban hành lại thể lệ mức hao của sắt thỏi khi chế thành đồ dùng. Theo đó, thì “sắt sống, sắt chín Nghệ An, Hà Tĩnh và sắt chín Thanh Hóa xếp vào hạng xấu nhất (...). Sắt Biên Hòa đánh làm đinh dùng việc công, sắt chín mỗi 100 cân thành khí 50 cân, hao 50 cân; làm những đồ sắt dùng vào việc công, sắt chín 100 cân, thành khí 77 cân, hao 33 cân; sắt sống mỗi 100 cân thành khí 40 cân, hao 54 cân.

- Minh Mạng xem xét voi chiến ở kinh và đóng giữ các tỉnh phía Nam. Những voi chiến ở Gia Định, Biên Hòa được rà soát xem xét. Biên Hòa được định ngạch 10 thớt voi để phòng thủ và mỗi năm lưu trữ 3.000 cân thuốc nổ.

Comments