1837

1837

– Tháng 6. Minh Mạng ban dụ cho bộ Hộ, nói về việc phát triển nông nghiệp, ở đó có đoạn: “Trẫm từ khi nối ngôi đến nay, việc đời sống của dân càng để ý nhiều hơn, nhân nghĩ một hạt Biên Hòa rất là rộng rãi. Trong đó, nguồn lợi của đất so với các tỉnh Nam kỳ cũng chả kém lắm, thế mà những đất cấy lúa được chưa khai khẩn hết, những người lêu lổng chưa về làm ruộng hết. Vì thế, tô thuế thu được trong một năm không đủ cung chi tiêu trong một năm. Trước đã theo lời bàn của đình thần, do quan sở tại đều chiểu ruộng đất bỏ hoang trong hạt, khuyên dạy dân trồng trọt, đặt làm phép công. Thế mà, hạt ấy gần đây việc báo cáo về khẩn hoang vẫn lặng ngắt (...) Nên (nay) truyền dụ cho bọn Bố chánh, Án sát từ nay phải sức rõ cho dân trong hạt, đều chiểu đất bỏ hoang, không cứ xã nào, thôn nào đều được đến quan báo khai khẩn; về canh ngưu điền khí cùng thóc giống có người nào không đủ thì lấy của công cấp cho. Cuối năm, đem số ruộng đã khai khẩn ấy báo lên bộ; 6 năm thành ruộng thuộc, theo lệ bắt đầu thu thuế. Và các dân Man trong hạt ấy (...) cần phải vỗ về, dạy bảo cho chúng biết cày ruộng, trồng dâu và trồng trọt (...) rồi tính đất lập làng, làm thành sổ ngạch...”.

– Tháng 7. Sai ở kinh và các tỉnh đóng 500 chiếc thuyền hiệu, vận tải đường biển, lấy thợ ở cục Kiên Chu chia đi các địa phương để chỉ bảo (ở kinh 5 chiếc, Gia Định 7 chiếc, Vĩnh Long 6 chiếc, Định Tường 4 chiếc, Biên Hòa 3 chiếc, Bình Thuận, Nghệ An đều 5 chiếc...).

– Tháng 9. Bố chánh Biên Hòa là Phạm Duy Trinh tâu: “Ruộng đất mới khai khẩn ở hạt ấy phải dùng lửa đốt một lần mới có thể cày cấy được, năm sau cày bừa 2 lần đã thành ruộng tốt, xin chiểu từ ngày có đơn trưng, tính đủ 3 năm theo lệ nộp thuế, không nên viện cớ 6 năm” Minh Mạng đã chuẩn theo lời tâu này, rút thời hạn miễn thuế cho ruộng mới khai hoang từ 6 năm xuống còn 3 năm.

* Định điều cấm về việc hát xướng ở dân gian các hạt Nam kỳ: “Các xã thôn diễn trò hát tạ thần, trong một năm chỉ được hát xướng một lần là một ngày đêm mà thôi, còn người hát thì được chiêu tập ở thôn dân gần tiện: 5 người, nếu quá số ấy thì xử tội trái phép. Người làm nghề đi hát thì quan địa phương xét thực: Ngoài sổ thì cho đăng ký vào sổ để chịu sai dịch, người nào tình nguyện về kinh thì giải về kinh để bổ sung vào Thự Thanh Bình; còn lại tất cả phải về làm ruộng, nếu không chăm chỉ làm ăn sinh sống thì phát đi làm lính ở đồn điền Trấn Tây. Tổng lý tư tình ẩn giấu và phủ huyện không xem xét kỹ thì sẽ phân biệt trị tội”.

* Cấp binh khí cho phủ, châu, huyện các địa phương: các nơi xung yếu như phủ thì cấp 30 ngọn dáo dài, 10 cái quắm dài; châu huyện thì dáo dài 20 ngọn, quắm dài 10 cái, quắm ngắn 5 cái.

- Hai thủ Phúc Khánh và Yên Lợi mỗi thủ được cấp 10 cây bắc cơ điểu sang; 2 thủ Long Hưng, Định Quan mỗi thủ 5 cây.

– Tháng 10. Chia đặt huyện Bình An tỉnh Biên Hòa ra làm 2 huyện là Bình An và Nghĩa An: huyện Bình An đất rộng người nhiều (số đinh hơn 4.900 người, ruộng đất hơn 6.600 mẫu) thế khó coi trông khắp được nên lấy 5 tổng (Bình Chính, Bình Điền, Bình Thổ, Cửu An, Quảng Lợi) vẫn để làm huyện Bình An và cắt 5 tổng (Bình Thiện, An Thủy, An Bình, An Điền, An Thổ) đặt thêm làm huyện Nghĩa An (đặt Tri huyện; huyện lỵ đặt ở thôn Linh Chiểu Tây (tức Thủ Đức TP. Hồ Chí Minh hiện nay).

– Tháng 11. Mới đặt huyện Long Khánh thuộc tỉnh Biên Hòa. Tù trưởng trại man ở hai đồn Long An và Phước Khánh thuộc hạt Biên Hòa, tình nguyện đặt thành làng ấp. Vua Minh Mạng chuẩn cho quan tỉnh xét địa thế nối liền nhau, đặt làm 5 tổng, 36 xã thôn (số đinh 451 người) lập làm một huyện tên là Long Khánh. Ngoài ra, 3 sách man Bình Thuận trước (số đinh 52 người) ở Long An cũng làm một tổng, 3 thôn lệ thuộc vào huyện ấy. Các dân tộc ít người ở đây được vua đặt cho các họ Tông, Đào, Lý, Dương (tổng cộng huyện có 6 tổng: Long Xương, Long Cơ, An Trạch, An Viễn, Tập Phước, Khánh Nhơn thuộc phủ Phước Tuy thống hạt). Huyện đặt một Tri huyện (chọn người địa phương mà bổ sung), 1 Lại mục, 4 Thông lại, 30 Thông lệ và hàng năm cấp tiền công cho 30 quan; đình thuế thân cho các đinh thuộc dân tộc ít người, hoãn việc đạc điền 6 năm, việc giản binh hoãn cho 10 năm. Như vậy, năm này đặt thêm phủ Phước Tuy và huyện Nghĩa An, huyện Long Khánh.

– Tháng 12. Đổi lại Tuần ty ở sông thuộc các tỉnh Nam kỳ làm sở thuế quan, chia phái bộ, ty thu thuế. Sở thuế quan Phước Lễ (Biên Hòa), tiền thu thuế một năm là 12.200 quan (so với sở thu thấp nhất là Tuyên Uy/Định Tường: 280 quan và nhiều nhất là Bến Lức/Lật Giang: 16.300 quan)

* Dồn các quân hiệu lẻ tẻ trong dinh và các tỉnh. Ở Biên Hòa: 1/ Thuộc binh đồn Long An 16 người trước gọi 3 thuyền Toàn nhất, Toàn nhị, Toàn tam; thuộc đội Toàn Thắng dồn với thuyền Kiên Tam, đội Kiên Uy làm binh đồn Long An; 2/ Thuộc binh đồn Phước Khánh 30 người, trước gọi 2 thuyền Du nhất, Du nhị, Du Sơn và hai đội Kiên Sai nhất, nhị dồn lại làm binh đồn Phước Khánh; 3/ Thuộc binh đồn An Lợi 35 người, trước gọi là An nhất đội Tiền Sung cùng với thuyền Tân nhất đội Tân Thành, thuyền Cao nhất đội Kiên Uy, đội Cao Sơn dồn làm binh đồn An Lợi; 4/ Thuộc binh đồn Định Quan 70 người, trước gọi thuyền Uy nhất, thuyền An nhất, thuyền Mã Soi dồn lại làm binh đồn Định Quan; 5/ Thuộc binh đồn Phước Vĩnh, trước gọi là thuyền Uy tam, nay đổi làm binh đồn Phước Vĩnh.

* Định lại tiền công nho cấp hàng năm ở các hạt: Phủ Thừa Thiên và các tỉnh lớn 200 quan; tỉnh vừa (Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Bình Thuận, Biên Hòa...) 150 quan và tỉnh nhỏ 100 quan, phủ thì từ 40 – 50 quan, tùy theo lớn nhỏ, các huyện thì nơi làm việc nhiều thì 30 quan, nơi các huyện ít bận rộn là 20 quan.

Comments