1839

1839

– Tháng 2. Định lại điều lệ tượng binh ở kinh và tỉnh ngoài. Ở các tỉnh cứ một thớt voi đực thì có 4 người cỡi chăn, mỗi thớt voi cái thì 2 người cỡi chăn. Biên Hòa ngạch voi 6 thớt, tượng binh 1 đội 18 người.

_ Những voi chiến cao từ 6 thước trở lên, to lớn, khỏe mạnh, thuần phục, hiền lành ở Biên Hòa được chọn 1 thớt dâng nộp về kinh.

* Định rõ thuế lệ đánh thuế thuyền buôn ở các quan tấn ở Nam kỳ. Lệ cũ: 4 thước trở lên tiền thuế 1 quan; 5 thước, 3 quan; 8 thước, 5 quan; 7 thước trở lên cũng theo lệ 6 thước mà thu. Nay định lệ mới: 7 thước trở lên mỗi thước thêm 2 quan; 8 thước trở lên 9 quan; 9 thước trở lên 11 quan; 10 thước trở lên theo lệ ấy thêm lên.

(Lần định lệ thuế thuyền buôn này, cũng đề ra biểu thuế cho thuyền buôn Lục tỉnh đi buôn ở Trấn Tây, Nam Vang. Việc đánh thuế chỉ đánh 1 lần ở quan sở đầu tiên và các quan sở khác không được thu nữa; trong năm đi buôn nhiều chuyến thì đánh theo số chuyến và số lượng gạo, muối thu lấy đều trừ vào số tiền đóng thuế theo lệ.

– Tháng 3. Bắt đầu khắc ấn “Đại Nam thiên tử” (Ấn hình vuông, mỗi chiều 2 tấc 9 phân, dày 1 tấc 2 phân 3 ly, cao suốt 2 tấc 4 phân).

* Định lệ phải đi tải cho tàu thuyền và thuyền đại dịch miễn dịch. Thuyền nào nguyên phái vận tải vào Nam mà đi buôn ra Bắc, hoặc phái vận tải ra Bắc mà đi buôn vào Nam, thì không cứ kỳ hạn vận tải lâu hay chóng, đều phải đuổi về cho kịp hạn để tải. Còn như thuyền nào tra xét không ở các tấn, tấn thủ không báo lên thì là đi biệt nước ngoài trốn vận tải, buôn gian thì giao cho địa phương nguyên  quán tra rõ trừng trị. Nếu tấn nào mà có các hạng thuyền ấy đậu lại, mà tấn thủ lại báo là không và dung túng ẩn giấu thì bắt tội.

* Đốc học Biên Hòa Nguyễn Vĩnh Trinh thăng Thự Lang trung bộ Lễ, biện lý nội vụ.

* Giáo thụ Kiến Xương Trần Lê Hóan thăng Thự Đốc học Biên Hòa.

– Tháng 4. Theo sớ của Binh khoa Chưởng ấn cấp sự trung Nguyễn Tự, Thự lại khoa Chưởng ấn cấp sự trung Trần Văn Triện, vua Minh Mạng sai các tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang hiểu thị dân trong hạt, phàm có người tình nguyện nộp vào nhà nước 500 hộc thì được miễn thuế thân và binh đao 5 năm; nộp 1000 hộc được miễn 10 năm; nộp 1500 hộc được miễn 20 năm; nộp 200 hộc tha hẳn thuế thân; nộp 2.500 hộc thưởng tòng cửu phẩm bá hộ; nộp 3.500 hộc thưởng tòng bát phẩm bá hộ; nộp 4.000 hộc thưởng chánh bát phẩm bá hộ; có ai nộp quá 4.000 hộc cũng chỉ cho hàm bát phẩm, thưởng thêm cho quần áo, đồ vật. Còn số thóc nộp vào kho đều chở nộp vào thành Trấn Tây, chở đủ năm thì thôi…đúng như bộ Hộ bàn định; nhưng lại chuẩn nếu có nộp thóc đến 5.000 hộc trở lên, thưởng quan thất phẩm, trường hợp ấy phải do bộ tâu rõ, đợi chỉ của vua mới thi hành.

– Tháng 5. Làm thêm cho kinh và các tỉnh 50 chiếc thuyền vận tải đường biển có thể chở được 50 vạn cân. (Lệ trước, mỗi chiếc trên dưới chở được 17 vạn cân): Biên Hòa 2 chiếc.

– Tháng 6. Ấn định lệ kiểm soát thuyền chở của công theo trọng tải chính xác và trị tội những thuyền khai gian, hạ sức trọng tải.

* Tỉnh thần Biên Hòa tâu xin cho Thông phán quyền thay coi việc phủ. Vua cho là trái lệ không cho. Bố chính Phạm Duy Trinh, Án sát Ngô Văn Thể bị phạt.

* Định rõ lại ngạch thuyền của kinh và các tỉnh. Biên Hòa 21 chiếc. Phàm số thuyền định ngạch ấy, nếu có chiếc nào mục nát, long ván mà thiếu ngạch thì đóng bù thêm vào. Hạng nào không có sẵn thứ gỗ đóng thuyền thì chuẩn cho tâu xin giao cho tỉnh có sẵn gỗ đóng giúp cho đủ ngạch. Chiếc nào dư quá số thì để vào ngoại ngạch.

– Tháng 7. Lý dịch huyện Phước Bình mới đặt thuộc hạt Biên Hòa dụ dân trốn tránh việc ra lính, tạp dịch, thuế khóa làm bậy bị trừng phạt. Thủ phạm: chém đầu bêu lên; đồng phạm cho phát lưu đi sở đồn điền ở Trấn Tây để cày cấy. Người tố cáo thưởng 200 quan tiền.

* Xây đắp pháo đài đồn cửa biển Phước Thắng thuộc Biên Hòa chắn giữ đồn Cần Giờ. Đài xây ở ghềnh đá Ngọc Ngưu thuộc địa phận đồn, dưới xây bằng đá núi, trên xây gạch. Khi xây xong, phía trước đặt 6 cỗ súng Hồng y, tả hữu mỗi bên đặt 2 cỗ Phách sơn, 1 cỗ súng Quá sơn. Thuốc súng và đạn mỗi cổ 100 phát. Phái 1 suất đội, 5 pháo thủ và 40 biền binh thuộc tỉnh hiệp cùng với viên tấn thủ canh giữ, cứ mỗi tháng 1 lần thay đổi.

– Tháng 8. Đổi định lại thể lệ lính ở kinh, ở các tỉnh phái đi đóng thú ở Trấn Tây và Gia Định, An Giang, Hà Tiên: – 12 vệ, cơ nguyên phái đi Trấn Tây thì 2 vệ ấy ở kinh và 5 cơ Gia Định, Vĩnh Long, Định Tường, Biên Hòa, An Giang cho đóng thú như cũ; còn 5 cơ Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, lấy kỳ thay thú sang năm bắt đầu.

– Tháng 9. Định lệ hàng năm chở vật hạng nộp về kinh và việc phái vát thuyền ghe. Thuyền công đóng thêm ngày một nhiều, nên thuyền dân cho về đi buôn bán nộp thuế. Hàng năm Nam kỳ cần tải thóc 10 vạn hộc, gạo 10 vạn phương cùng là sản vật, cộng nặng ước hơn 14.469.700 cân và các hạng gỗ tấm, cần vát: thuyền hiệu chữ “An”: Gia Định, Vĩnh Long, Định Tường mỗi nơi đều 3 chiếc; thuyền hải vận, Gia Định 14 chiếc, Định Tường 8 chiếc... lệ trọng tải cộng nặng ước hơn 17.980.700 cân, lãnh chở làm một chuyến, nếu còn nhẹ nổi chở thêm gỗ tấm và gạo.

Quan quân đi tải: Thuyền hải vận, mỗi chiếc 1 suất đội, 2 tay lái, 30 biền binh; thuyền hiệu chữ “An”, mỗi chiếc 1 suất đội, 2 tay lái, 50 biền binh... Phàm phai đi từ 3 chiếc trở lên phải chọn một Quản vệ hoặc Quản cơ làm Quản giải. Lãnh tải ở Nam kỳ thì do địa phương giao hàng, phái Lãnh binh hoặc Phó lãnh binh để cai quản chung.

– Tháng 10. Quan tỉnh Biên Hòa dâng sớ cử suất đội Hữu cơ Nguyễn Văn Tuấn (con của Tổng đốc Định Biên Nguyễn Văn Trọng) làm Quản cơ. Vua cho là có ý vì nể tình riêng, đổi bổ đi An Giang.

– Tháng 11. Sai dò tìm những di cảo văn chương của người bản quốc.

* Định lệ về kỳ hạn đi đường và thưởng phạt những thuyền giải vận: Biên Hòa, Gia Định 14 ngày, Vĩnh Long, Định Tường 16 ngày. Nếu đi chóng hơn kỳ hạn nửa ngày trở lên là hạng ưu, đúng hạn là hạng bình, chậm quá một ngày là hạng thứ, chậm đến 2 ngày là hạng kém...

Các tỉnh ở Nam kỳ tương đối xa hơn, thì hạng ưu: thưởng viên Quản giải kỷ lục 2 thứ, 10 quan tiền, suất đội coi thuyền kỷ lục 1 thức, 5 quan tiền, đội trưởng 15 quan tiền, tay lái 6 quan, biền binh 3 quan; hạng bình: quản giải kỷ lục 2 thứ, suất đội coi riêng thuyền kỷ lục 1 thức, đội trưởng 12 quan tiền, tay lái 5 quan, biền binh 1 quan 5 tiền.

– Tháng 12. Định lệ thưởng phạt về việc khai khẩn ruộng hoang ở Nam kỳ: hạt nào khẩn thêm đến 800 mẫu trở lên thì quan tỉnh được thưởng gia 1 cấp; 600 mẫu trở lên thưởng kỷ lục 2 thứ và 3 tháng tiền lương; 200 mẫu trở lên thưởng kỷ lục 1 thứ; 150 mẫu trở lên thưởng thì mỗi viên quan một Phi long ngân tiền lớn nhỏ mỗi hạng 1 đồng; 100 mẫu trở lên thưởng ngân tiền nói trên mỗi thứ 3 đồng. Về Cai tổng, Phó tổng: 100 mẫu trở lên thưởng 15 quan tiền; 50 mẫu thưởng 80 quan. Về xã thôn trưởng: 200 mẫu trở lên thưởng 20 quan tiền; 100 mẫu trở lên 18 quan; 20 mẫu trở lên 4 quan. Kèm theo lệ thưởng này cũng đề ra lệ phạt các quan tỉnh, huyện, cai tổng, lý dịch về tội bỏ ruộng hoang, từ hình phạt truất từ 1 năm lương đến 9 tháng hay 6 tháng lương đối với tỉnh huyện và từ đánh 100 trượng đến 60 trượng đối với cai tổng, lý dịch.

* Cho phép những người Thanh được sáp nhập vào các bang thuộc tỉnh họ ở và chiếu theo lệ người Minh Hương đánh thuế (người có vật lực đóng thuế 2 lạng bạc, người không có vật lực đóng 1 lạng bạc)

* Đổi định lại ngạch nhân viên trong tả thừa, hữu thừa phủ Thừa Thiên, ty Phiên, ty Niết ở các tỉnh và ở các phủ huyện (...Biên Hòa, Định Tường ở Nam kỳ, Ninh Bình, Hưng yên, Lạng Sơn ở Bắc kỳ, mỗi ty phiên đều có 2 bát phẩm thư lại, 5 cửu phẩm thư lại, 15 vị nhập lưu thư lại...)

* Định lệ kỳ hạn cầm đợ ruộng đất, nhà trong dân gian: Phàm việc bán, đợ ruộng nhà, vườn cây quả, vườn mầu thì chủ có ruộng đất sản nghiệp cần điều đình trước về niên hạn chuộc, hoặc 5 năm, 10 năm, hoặc 15, 20 năm trong văn khế viết rõ những chữ ấy là “mấy năm đến chuộc”. Khi hết hạn, người chủ ruộng đất, sản nghiệp, đem tiền đến chuộc, người chủ lấy đợ không được cố chấp. Nếu trái lệ chiếu luật trị tội. Nếu quá hạn mà chủ ruộng đất sản nghiệp không đến chuộc thì cho chủ lấy đợ được làm chủ sản nghiệp đó, không cho chuộc nữa.

Còn như, tự trước trong văn tự đợ không nói rõ về niên hạn chuộc thì tính 30 năm làm hạn. Nếu chưa đến 30 năm nhưng trong văn khế có nói được chuộc lại thì cho chuộc. Nếu đã ngoài 30 năm thì bất luận trong văn khế có nói cho chuộc lại hay không, cũng nhất thiết không cho chuộc lại nữa: đơn khiếu nại này sẽ làm án bỏ đi không xét.

Comments