1853 - 1857

1853

– Tháng 1. Cho Phan Thanh Giản (nguyên Thượng thư bộ Lại sung phó Kinh lược Nam kỳ, lãnh Tuần phủ Gia Định, kiêm tri các đạo Biên Hòa, Long - Tường, An – Hà) thăng Thự Hiệp biện Đại học sĩ.

* Chuẩn cho Nam kỳ thi hành phép mở đồn điền và lập ấp, đặc biệt là 2 tỉnh An Giang và Hà Tiên: Thông báo cho dân chúng ở Nam kỳ và các trực tỉnh (từ Bình Thuận ra Bắc) cho phép tình nguyện việc mộ dân đưa đến bờ kinh Vĩnh Tế và phủ Ba Xuyên, Tịnh Biên khai phá đất hoang lập nghiệp. Dân mộ làm đồn điền thì dồn làm binh đồn điền, dân mộ lập ấp thì 10 người trở lên cho khai hoang lập thành 1 thôn. Sau đó, Nguyễn Tri Phương lại tâu xin cho dân lục tỉnh Nam kỳ không chỉ phải đến Ba Xuyên, Tịnh Biên khai hoang mà được phép khai phá các vùng đất hoang trong tỉnh hạt thuộc lục tỉnh mà lập ấp, sáp nhập vào các tổng đã hiện có. Các điều khoản đều theo lệ trước; nhưng thuế đinh, điền thì sau 5 năm mới thu thuế. Mặc khác, tù tội chính quán, ngụ quán ở 6 tỉnh (từ tội sung quân trở xuống) không kể quan hay dân bị phạm tội, nếu có người nào ra sức tình nguyện mộ dân lập thành 1 đội, hoặc 1 thôn, đều đủ 50 người thì cho phép lập làng, họ bảo nhận cam kết sẽ được tạm tha, đi chiêu mộ đủ thì tha tội.

– Tháng 5. Triều đình bàn việc sáp nhập các tỉnh thuộc lục tỉnh Nam kỳ. Người đề nghị nhập 2 tỉnh làm 1 tỉnh, người thì đề nghị nhập 3 tỉnh làm 1 tỉnh. Bàn tính ý kiến trao đổi không xong bèn bỏ đấy.

– Tháng 7. Dụ cho các tỉnh Nam kỳ xét có người nào làm ruộng xuất sắc hơn cả tâu lên để thưởng.

– Tháng 8. Các tỉnh Biên Hòa, Định Tường, An Giang, Hà Tiên, kỳ thuế thân tháng 4 phải nộp từ năm ấy, miễn cho 3 thành, gồm với thuế biệt nạp hoãn dến năm sau.

 Đặt các cục thợ ở các tỉnh trong Nam, ngoài Bắc (mộ thợ mộc, thợ đóng thuyền ở ngoài sổ đinh làm việc ấy. Tỉnh lớn 10 người, tỉnh nhỏ 5 người. Người nào không dự vào hạng thợ mộ, thì tới khi có việc, thuê 1àm công dịch).

* Định lại ngạch thuế sản vật ở Biên Hòa: 1 hộ dầu mỡ, đồng niên nộp thứ dầu rái 80 cân, nhựa trám 50 cân. Sở Tân Định ở đầu nguồn nộp sáp ong 120 cân. Sở Tân Thuận sáp ong 200 cân.

– Tháng 12. Giảm lính thú ở các đồn thuộc 6 tỉnh Nam kỳ.

1854

– Tháng 3. Giảm bớt các viên dịch ở Phiên ty (ty của Bố chánh), Niết ty (ty của Án sát) và phủ huyện ở 6 tỉnh Nam kỳ. Biên Hòa, Định Tường mỗi tỉnh Phiên ty giảm 1 kinh lịch, 1 bát phẩm, 2 cửu phẩm và 9 người vị nhập lưu; Niết ty giảm 1 thông phán, 1 cửu phẩm và 5 người vị nhập lưu.

Phủ nào công việc trọng yếu nhiều vừa hay nhiều lắm thì mỗi phủ để lại 1 Lại mục và 5 Thông lại; phủ nào công việc vừa phải hay ít thì mỗi phủ để lại 1 Lại mục và 4 Thông lại.

Huyện nào công việc trọng yếu thì để lại 1 Lại mục và 4 Thông lại. Huyện nào việc ít hay việc vừa thì để lại 1 Lại mục và 3 Thông lại.

– Tháng 4. Phát chẩn cho thôn Vĩnh An ở Biên Hòa vì bị hỏa tai.

* Giặc biển giết người cướp bóc thuyền buôn ở cửa biển Long Hưng về Biên Hòa.

* Định lại ngạch thuyền 6 tỉnh Nam kỳ (Biên Hòa: Thuyền điển thủ 30 chiếc. Gia Định: thuyền điển thủ 67 chiếc. Định Tường thuyền điển thủ 43 chiếc. Vĩnh Long thuyền điển thủ 67 chiếc. An Giang thuyền điển thủ 30 chiếc).

– Hợp lại voi và binh ở Biên Hòa vào với đội voi ở Gia Định (voi cộng 10 thớt, binh cộng 55 người).

* Vua Tự Đức chuẩn y lời tâu của Kinh lược sứ Nam kỳ Nguyễn Tri Phương xin khoan hoãn cho 3 năm về thuế thân cùng việc ra lính, tạp dịch cho dân trốn thuộc 6 tỉnh mới trở về, còn dân mới mộ thì khoan hoãn 5 năm. Xã dân nào, đã chiêu dụ dân trở về mà không đủ nguyên số, có tình nguyện lại mộ dân phiêu lưu thôn khác đến cày cấy khai khẩn, lập riêng tên thôn, để khấu điền vào số dân trốn ở thôn mình, thì việc ra lính tạp dịch và thuế lệ sẽ khoan hoãn cho 5 năm.

* Biên Hòa cùng 11 tỉnh Nam Bắc được mùa.

– Tháng 12. Phát chẩn cho 2 thôn Vĩnh Hội, Long Vinh ở Biên Hòa bị hỏa tai.

1855

– Tháng 10. Lúa đồng ở phủ Phước Tuy tỉnh Biên Hòa bị chuột cắn, hạ lệnh cho đặt cách đuổi chuột.

1856

– Tháng 1. Sai các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Biên Hòa đóng mới 3 chiếc thuyền bọc đồng: Thụy hồng, Tỉnh dương và Thanh hải (vì thiếu ngạch thuyết).

– Tháng 2. Tuần phủ Biên Hòa Nguyễn Đức Hoan xin được phái thuyền đi tuần tiểu vào trung tuần tháng 2 đến tháng 8 thì rút về thay vì lệ trước cứ đến thượng tuần tháng 4 thì phái đi, đến trung tuần tháng 9 thì rút về. Vua y cho.

– Tháng 10. Biên Hòa được mùa.

– Tháng 11. Vua Tự Đức chuẩn lời tâu của Kinh lược sứ Nam kỳ Nguyễn Tri Phương, Phạm Thế Hiển: Các bờ cõi mạn biển ở 6 tỉnh nam kỳ thì cửa Cần Giờ đã sâu lại rộng, thuyền lớn đi lại dễ dàng rất là quan yếu; cửa biển Tiểu ở Định Tường là quan yếu thứ nhì, xin ở quãng dưới bảo Tam Kỳ cho sông hẹp, bờ bên tả thuộc thôn Lương Thiện tỉnh Biên Hòa, bên bờ hữu thuộc thôn Bình Khánh (ở dưới thôn Lương Thiện) tỉnh Gia Định chia đặt 2 đồn bảo bên tả và bên hữu, để cùng nương tựa nhau.

1857

– Tháng 2.  Tự Đức sai quan tỉnh Biên Hòa tra lấy tên các biền binh mất tích vào tháng 3 năm 1856 trên thuyền vận tải đi biển chở các hạng về kinh nạp, gặp gió trôi mất, cho tiền tuất gấp đôi, đưa cho người nhà và sai quan tế 1 tuần.

– Tháng 4. Quan tỉnh Biên Hòa xin cho dân tỉnh bỏ trốn trở về được hoãn kén lính nộp thuế 5 năm. Tự Đức y cho.

– Tháng 5. Thuyền buôn bị mất cướp ở phần biển Biên Hòa, không có người biết để ứng cứu. Tấn thứ 2 đồn Ma Ly, Long Hưng và bổ biền ở Kinh tỉnh phái, cùng quan tỉnh đều phải giáng phạt có thứ bậc khác nhau.


Comments