1861

1861

(7 - 2) Charner điều quân từ Trung Quốc sang Sài Gòn: 2.200 lính và sĩ quan, 800 lính tagal và 600 người Trung Quốc mới tuyển ở Quảng Đông.

(25 - 2) Đại đồn Chí Hòa thất thủ cùng ngày, Phó đô đốc Page nhổ tất cả các đồn lũy trấn giữ thượng lưu sông Đồng Nai.

* Đắp hàn trên sông Đồng Nai chặn ở chỗ hợp lưu sông Đồng Nai với sông Tắc bởi 9 đập kiên cố bằng cừ cây và một kè cừ bằng đá. Tất cả các đập này được canh giữ bởi những đồn lũy và ụ pháo.

(28 - 2) Sau khi căn cứ tiếp vận Thuận Kiều và đồn Tân Thới thất thủ, cùng lúc các đoàn quân Pháp lục soát tỉnh Gia Định mới chiếm lại được, Phó đô đốc Page trấn giữ sông Đồng Nai và phong tỏa Biên Hòa (Histoire militaire, tr. 32 và 34).

(28 - 2) Tỉnh lỵ mới của Gia Định (huyện Tân Long, thôn Tân Tạo, phủ Tân Bình) cũng thất thủ, quân triều đình rút về phòng thủ Biên Hòa. Các tuyến đường dẫn tới Định Tường, Biên Hòa đều được phòng bị; sông rạch được đắp hàn cản, cấm đò ngang, đặt đồn và bố trí quân mai phục.

– Tháng 3. Định mức thưởng cho những người mộ nghĩa quân hoặc đem người thân thuộc trong gia đình mình gia nhập quân tỉnh hay quân thứ ở Nam kỳ để chống Pháp. Đối với những người ở Biên Hòa, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên; mộ đủ 50 người thưởng thụ Suất đội trật tòng ngũ phẩm; mộ 500 người thưởng thụ Quản cơ trật chánh tứ phẩm. Đem người thân gia nhập vào quân đội được thưởng từ cửu phẩm đến ngũ phẩm theo số lượng từ 10 người đến 50 người. Trường hợp mộ 2, 3 cơ (1.000 - 1.500 lính) đợi chỉ của vua cất nhắc lên bậc cao.

(8 - 3) Quân lính rút từ đại đồn Chí Hòa đến Biên Hòa, “do thượng đạo chạy lên Tây Ninh, rồi trở về Biên Hòa, cùng với các quan tỉnh Gia Định là Tuần vũ Đỗ Quang, Bố chánh Đăng Công Nhượng, Án sát Phạm Ý” (Phan Khoang, sđd, 155 - 156).

(14 - 4)  Thượng thư bộ Hộ, Nguyễn Bá Nghi, đem 4.000 quân vào Biên Hòa, xét tình thế, biết không chống nổi quân Tây nên cố ý giảng hòa, đem hiện trạng tâu lên vua. (Phan Khoang, 160).

– Tháng 5. Dụ của Tự Đức đốc thúc Nguyễn Bá Nghi hành động sau khi cùng Tôn Thất Đính được phái mang 4000 quân vào Biên Hòa để tăng cường phòng thủ tiếp theo vụ đại đồn Chí Hòa (25 – 2 - 1861) và Định Tường (14 - 4 - 1861) thất thủ.

– Tháng 6. Nguyễn Bá Nghi đem bản nghị hòa của Charner ra Huế, gồm có 12 điều, trong đó điều 4 yêu cầu nhượng Thủ Dầu Một cho Pháp. (Thủ Dầu Một lúc đó thuộc Biên Hòa).

Thượng tuần tháng 6, Trương Định từ Gò Công (Tân An) lên tìm ra mắt vị đại thần đang trấn nhậm Biên Hòa (Tôn Thất Hiệp, hay Cáp), hứa sẽ làm xoay sở cục diện.

(21 – 22 - 6) Tri huyện Long Thành (thuộc phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hòa), Đỗ Trình Thoại (hay huyện Toại), bị cách chức. Ông là người huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định, đánh nhau với giặc ở đồn Qui Sơn, tức Sơn Qui (Gò Công).

– Tháng 8. Khoảng tháng 8, bốn liên đội trong số 24 liên đội do Quản Định chiêu mộ và võ trang, trú đóng tại Biên Hòa (Lương Văn Lựu, 11,174).

Sau khi Biên Hòa thất thủ, triều đình khiển trách hai vị đại thần Thân Văn Nghiệp và Nguyễn Túc Trưng và ra lệnh họ hiệp cùng Tuần vũ Đỗ Quang Nhiếp tìm Trương Công Định ... Ông Định truyền lệnh cho nghĩa binh Tân Long, Bình Dương, Bình Long, Biên Hòa hợp ý, cùng một lúc tấn công đồn Mai Sơn, Thuận Kiều, Tây Thới, Phước Tuy, Bình An, Long Thành, để kiềm hãm quân Pháp.

– Tháng 12. Pháp quân quấy rối Suối Lũ, tỉnh Biên Hòa và sau đó rút lui vì bị quân ta hai lần đánh bất ngờ đẩy lùi được; nhưng sau đó lại kéo binh đến hai làng An Thạnh và Bình Chuẩn thuộc Biên Hòa, bị phó đề đốc Lê Quang Tiến ban đêm kéo quân đến đánh được.

(9 - 12) Côn Đảo bị Đại úy hải quân Lespès, chỉ huy chiếc Norzagaray, chiếm ngày 9 – 12 - 1861, và đặt ở đó một trại giam (1 – 3 -  1862). (Ghi chú: Năm 1702, người Anh chiếm Côn Lôn định làm thương điếm nhưng năm sau 1703 bị đánh dẹp. Nhường hẳn cho Pháp theo hòa ước 5 – 6 - 1862).

(10 - 12) Đô Đốc Bonard, tổng chỉ huy thay thế Đô đốc Charner (30.11.1861), quyết định tiến đánh Biên Hòa và Vĩnh Long, nhất là sau khi chiếc Espérance bị Nguyễn Trung Trực - gọi là Quản Lịch / Năm Lịch đốt cháy tại vàm sông Nhật Tảo, làm chết cháy 17 thủy binh Pháp và Tagal (10 - 12 - 1861).

(13 - 12) Bonard, chỉ huy trưởng quân Pháp ở Sài Gòn, ký huấn lệnh về kế hoạch đánh chiếm Biên Hòa: Lực lượng đánh chiếm Biên Hòa gồm đại đội khinh binh do Đại tá Foucault chỉ huy; đạo quân trừ bị gồm 300 lính thủy quân lục chiến, 100 quân Tây Ban Nha và 2 đại bác do Đại tá Domenech Diego chỉ huy, đạo quân thứ 3 gồm 2 hạm thuyền và lực lượng đổ bộ do Thiếu tá Lebris chỉ huy. Kế hoạch tiến công Biên Hòa chia làm 3 bước, trong đó dự định đánh chiếm Bến Gỗ để làm bàn đạp đánh lên Biên Hòa.

Tỉnh Biên Hòa (lúc ấy bao gồm cả Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay) do Tuần phủ Nguyễn Đức Hoan phụ trách và được Tự Đức cử Khâm sai đại thần Nguyễn Bá Nghi vào tiếp viện phòng thủ, với khoản 15.000 quân.

(14 - 12) Hai cánh quân đánh Biên Hòa, được lệnh tiến quân trong buổi sáng. Cánh quân bộ binh Pháp, Tây Ban Nha do tiểu đoàn trưởng Comte chỉ huy, đóng quân từ hôm trước trên đồi cao ở Hưng Lộc, đã tiến đánh làng Gò Công ([1][1]) (Thủ Đức), điểm then chốt của tiền đồn Mỹ Hòa, đồn thất thủ sau một cuộc đụng độ ngắn ngủi.

(15 - 12) Quân Pháp do Comte và Diego tấn công đồn Mỹ Hòa (2).

(17 - 12) Bonard, theo chiến hạm Ondine, chỉ huy quân thủy bộ tấn công tỉnh thành Biên Hòa. Tuần phủ Nguyễn Đức Hoan, Án sát Lê Khai Cẩn bỏ thành chạy; Khâm sai đại thần Nguyễn Bá Nghi rút quân, băng qua vùng rừng núi Phước Tuy chạy về Bình Thuận.

(21 - 12) Lãnh binh Nguyễn Đức Ứng hy sinh. Sau khi chiếm Biên Hòa, (26 - 11) Đại tá Diégo dẫn một cánh quân đánh xuống Long Thành. Lãnh binh Nguyễn Đức Ứng đã chỉ huy một nhóm nghĩa quân chận đánh địch quyết liệt. Trận chiến kéo dài từ sáng sớm đến 14 giờ chiều. Giặc tăng cường quân tiếp viện tấn công theo lộ 17 và 19 bao vây nghĩa quân. Nguyễn Đức Ứng bị thương nặng, nghĩa quân rút vô rừng. Đến ngày 26 tháng 11 năm Tân Dậu (theo dòng chữ trên bia mộ), ông qua đời. Nhân dân Long Phước (Long Thành) tôn Nguyễn Đức Ứng là thần. Hàng năm cúng tế thành lệ.

(Cuối tháng 12) Triều đình cử Thượng thư Bộ binh Nguyễn Tri Phương làm Đổng suất Quân vụ Biên Hòa và Thị lang Bộ binh Tôn Thất Cáp làm Phụ tế Quân vụ Biên Hòa, trực tiếp vào Nam kỳ tổ chức đánh giặc.



([1][1]) Đông nam Mỹ Hòa (Histoires militaires, 34) thuộc tỉnh Biên Hòa (Monographie..., 49)

Comments