1862

1862

(7 - 1) Thủy quân lục chiến Tây Ban Nha dưới quyền điều khiển của Đô đốc Bonard, tấn công và nhổ các công trình phòng thủ ở Rạch Hàm tại cửa sông Dinh trong khi phần lớn lực lượng đổ bộ lên Vung Vang (một xóm của làng Long Điền, còn gọi là “xóm tổng Tài”) nhưng vì nước ròng làm chậm trễ nên không đến Bà Rịa được. Một cuộc trinh sát hùng hậu cũng đã đến gần 2km cách thành Bà Rịa và nổ súng nhưng trước sự chống trả kiên quyết của quân đội Việt Nam (do Tổng ty Văn Đức Đại chỉ huy) và đêm đã xuống nên phải rút lui. Thành Bà Rịa thất thủ.

(8 - 1) Sau khi đội tiền quân của Pháp ngày hôm trước rút đi, Đô đốc Lê Quang Tuyên đốt các khám đường và rút quân khỏi vị trí, lui về hướng đông, ngừng ở làng Phước Thọ khoảng 15km cách Bà Rịa, suýt bị vây, bổ về hướng Bắc ở Long Phước để đánh lạc hướng. Một bộ phận quân đội rút đi theo ngã Bà Ca (vùng người thiểu số ở Bà Rịa) ở đây Đô đốc Lê Quang Tuyên theo đường cái quan dẫn quân đến Cù My trên biên giới Bình Thuận.

(1 - 3) Thiết lập nhà tù Côn Đảo – nhà tù đầu tiên của Thực dân Pháp trên đất nước ta.

(5 - 5) Simon, theo lệnh của Bonard, đi trên chiếc Forbin bỏ neo ở sông Hương, ra Huế để đề nghị giảng hòa.

(27 - 5) Lúc 6 giờ 30 phút, tín hiệu truyền tải qua đường dây thép (hữu tuyến) từ Biên Hòa được phát đi và sau đó 2 phút, tín hiệu này đã nhận được ở Sài Gòn. Đây là hệ thống liên lạc hữu tuyến đầu tiên được thực dân Pháp thiết lập dài 28km từ Sài Gòn – Biên Hòa.

Sau đó Simon về Sài Gòn báo cáo rồi đem chiếc Forbin ra Huế rước sứ đoàn Việt Nam, nhưng hai ông Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp đã đi trên chiến thuyền Thụy Nhạc và đến Sài Gòn ngày 26 – 5 -  1862.

(5 - 6) Hòa ước năm Nhâm Tuất, ký tại trường thi ([1][2]) nhường cho Pháp ba tỉnh Gia Định (Sài Gòn), Biên Hòa, Định Tường và Côn Đảo. Hòa ước gồm mười hai điều khoản đề cập tới những vấn đề sau :

- Tự do theo đạo Thiên chúa (khoản 2).

- Tự do mậu dịch (khoản 3, 5, 10).

- Ngoại giao (khoản 4 và 6).

- Bồi thường kinh phí (khoản 8): 4 triệu đôla (2.800.000 lạng bạc).

- Chuyển nhượng đất đai (khoản 3, 11).

(25 - 6) Mở đầu chế độ Đô đốc cai trị ở Nam kỳ cả về mặt dân sự lẫn quân sự. Bonard – Thiếu tướng hải quân Pháp được phong làm Phó Thủy sư Đô đốc và đây là viên quan đầu tiên được triều đình Pháp cử sang cai trị các tỉnh Nam kỳ.

Trong nhiệm kỳ của mình (25 – 6 - 1862 đến 30 – 4 - 1863), Bonard đã sử dụng hàng ngũ chánh, phó tổng, chánh phó lý để tổ chức bộ máy cai trị ngụy quyền. Đồng thời, Bonard đào tạo một số sĩ quan Pháp và phong cho bọn này chức danh “Thanh tra bản xứ sự vụ” (Inspecteur des affaires Indigienes) để bọn này trực tiếp chỉ đạo bộ máy quan lại ngụy quyền.

(7 - 7) Bà Rịa được nâng lên thành tỉnh ([2][3]) và được giao cho Thanh tra bản xứ sự vụ Coquet cai trị, ông này thuộc quyền điều khiển của “viên chỉ huy địa hạt” ở tại Biên Hòa. Bấy giờ Bà Rịa bao gồm luôn Mũi Thánh Jacques (Vũng Tàu) nhưng biên giới phía Đông đi dọc theo sông Ray thay vì ngang tầm mũi Ba Ke và Núi Vụng như ngày nay.

* Trương Định bị bãi chức vì không tuân lệnh đến trấn thủ An Hà, mà đã cùng với Nguyễn Túc Trưng, Đỗ Quang hoạt động chống Pháp ở Bình Dương, Bình Long, Biên Hòa.

* Thực dân Pháp ra nghị định đầu tiên về rừng ở Nam kỳ, cấm khai thác một số gỗ có chất dầu.

(17 - 12) Trương Định tấn công đồn Rạch Tra thắng lợi. Đêm 17 rạng sáng 18 - 12, nghĩa quân Trương Định gồm 1.200 tay súng, chia làm 2 mũi đánh chiếm đồn Đồng Môn (Long Thành).

(18 - 12) Trương Định tấn công đồn Thuận Kiều (Gia Định) tiêu hao nhiều sinh lực của địch. Bonard hốt hoảng xin viện binh từ Thượng Hải để chuẩn bị tấn công căn cứ Trương Định ở Gò Công; mặt khác yêu cầu triều đình giải giới quân Trương Định.



(1) Ký trên tàu Duperré (có ảnh) bỏ neo ở bến SàiGòn và kéo dài từ ngày 28. 5 đến ngày 31. 6. 1862 (Nguyễn Thế Anh, Việt Nam thời Pháp đô hộ, tr 17, và Nguyễn Duy Oanh, sđd, tr, 59)

(2) Năm 1862, chỉ có 3 tỉnh : Biên Hòa, Gia Định và Định Tường. Tuy nhiên, trước 1867 có nơi vẫn được gọi lẫn lộn : hạt, khu vực là tỉnh (Đào Văn Hội, sđd, 30 - 39)

Comments