1906 - 1910

1906

– Đồn điền Suzannah, đồn điền cao su đầu tiên ở Nam bộ được thành lập tại Dầu Giây.

– Thành lập Công ty Cao su Đông Dương S.I.P.H. Các đồn điền trực thuộc: An Lộc, Bình Lộc, Dầu Giây, Túc Trưng, Trảng Bom, Cây Gáo, Cam Tiêm, Courtenay (Cẩm Mỹ).

1907

* Thành lập các đồn điền cao su ở Biên Hòa tại Xuân Lộc, An Lộc; ở Thủ Dầu Một, Xa Trạch, Tân Thạnh Đông (G.Đ); Thành Tuy Hạ (BH).

- Công ty canh nông Suzannah (Société Agricole Suzannah)

- Công ty cao su Nam kỳ (Société de Caoutchoucs de Cochinchine)

- Công ty Courtenay

- Công ty Thành Tuy Hạ

- Công ty Canh nông Suzannah (Société Agricole de Suzannah).

- Công ty cao su Dầu Giây (Biên Hòa) Vốn : 2.500.000 quan Pháp. E, Girard: quản trị viên - ủy quyền, giám đốc. (xem: 9. 8. 1935).

         – Tháng 3. Thành lập trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội với mục đích truyền bá tư tưởng mới, cổ động bài trừ hũ tục, đề cao tinh thần yêu nước, gây phong trào chống Pháp... Trong thời gian tồn tại, trường đã lập các tổ chức kinh doanh công thương ở Hà Nội, Nghệ An, Quảng Nam và Phan Thiết: Công ty Liên Thành.

         (5 - 9) Nguyễn Vĩnh San lên ngôi thay vua Thành Thái, niên hiệu là Duy Tân.

1908

* Thành lập Công ty cao su Đồng Nai (Les Caoutchoucs du Donnai). Trụ sở đặt tại Paris (Pháp). Đối tượng hoạt động: Khai thác các đồn điền trồng cao su, trồng cây có dầu và đồn điền trồng mía ở Đông Dương. Về vốn: năm 1908 có 500.000 Fr (500 cổ phần loại 100 Fr; 1911: 2.000.000 Fr; 1919: 6.000.000 Fr).

* Thành lập Cty Biên Hòa kỹ nghệ và lâm nghiệp (Biên Hòa Industrielle et forestière – viết tắt: B.I.F) khai thác tại các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa, và Bà Rịa.

(11 - 3) Khởi đầu phong trào đấu tranh chống thuế ở Trung kỳ (11 -  3: Quảng Nam, 30 - 3: Quảng Ngãi; 9 - 4: Thừa Thiên; 16 - 4: Bình Định).

– Tháng 9. Nhật Bản ký điều ước với Pháp, trở mặt giải tán các tổ chức của phong trào Đông du ở Nhật và trục xuất lưu học sinh Việt Nam ra khỏi đất Nhật.

1909

– Tháng 2. Chính phủ Nhật ra lệnh trục xuất Phan Bội Châu và Kỳ Ngoại hầu Cường Để. Phong trào Đông Du tan rã.

(13 - 4) Toàn quyền Đông Dương ra nghị định về vấn đề nhân công người bản xứ làm tại các đồn điền nông nghiệp ở Nam kỳ:

1/ Chủ đồn điền nào muốn tổ chức số nhân công làm tại đồn điền của mình ở thành làng trên địa bàn đồn điền của mình đều phải làm đơn xin Thống đốc Nam kỳ.

2/ Tiêu chuẩn để lập làng kể từ 1 – 1 - 1910 là: a) Đồn điền phải rộng ít nhất 400 ha; b) Ít nhất phải có 80 công nhân.

3/ Đối với đồn điền có đủ tiêu chuẩn để lập làng và đã lập làng thì: a) Chủ phải dành cho dân làng một diện tích để canh tác và hưởng hoa lợi, không quá 1/25 diện tích dành cho lập làng. Hoa lợi trên phần đất đó được coi như hoa lợi thu được trên phần công điền ở các làng xã khác ngoài đồn điền; b) Dân làng họp lập một Hội đồng Kỳ mục, lập sổ hộ tịch, sổ nghĩa vụ cho dân làng; c) Nhân công đồn điền các làng này đều có thẻ đặc biệt và được coi như thẻ căn cước dân đinh các làng khác; d) Số dân đinh của các làng này chỉ có nhiệm vụ tuần tra, canh gác làng, làm quân dịch (không phải đi lính) và đóng một khoản tiền phụ hàng năm để chi dùng, coi như khoản phụ thu thuế thân.

4/ Đồn điền nào chưa đủ tiêu chuẩn lập làng: Nhân công ở đó đóng một khoản thuế cho làng xã mà họ cư trú.

5/ Những đồn điền chưa đủ tiêu chuẩn để lập làng thì: a) Đồn điền ở địa phận làng xã nào, nhân công sẽ phụ thuộc làng xã đó; b) Kể từ 1 – 10 - 1910, số nhân công này sẽ được miễn mọi khoản thuế: thuế thân, sưu dịch, việc canh gác và các khoản đóng góp cho làng xã đó, nhưng phải có nghĩa vụ ra lính.

1910

* Thành lập Công ty Cao su Đông Dương (Société des Caouchoucs de l’Indochine). Trụ sở đặt tại Paris. Đối tượng hoạt động: khẩn hoang và trồng cao su thuộc vùng đất đai ở Viễn Đông, đặc biệt là Đông Dương. Về vốn: năm 1910 có 1.500.000Fr (gồm 15.000 cổ phần 100Fr); cuối tháng 8/1910: 3.000.000Fr; năm 1912: 4.500.000Fr; 1917: 6.000.000Fr; 1920: 8.000.000Fr; 1923: 10.000.000Fr; 1929: 15.000.000Fr; 1931: 20.000.000Fr; 1932: 22.500.000Fr; năm 1934: 28.000.000Fr.

* Thành lập Công ty Đồn điền Đất Đỏ (Société des Plantation des Terres Rouge). Trụ sở đặt tại Sài Gòn. Đối tượng hoạt động: Trồng và khai thác bông, cao su, cà phê, khai thác các đồn điền cao su ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa; ngoài ra còn khai thác cả các đồn điền  cao su, cà phê ở Java, Mã Lai. Về vốn: 1910: 2.300.000Fr gồm 23.000 cổ phần 100Fr); 1912: 1 triệu Fr; 1918: 2 triệu Fr; 1920: 4 triệu Fr; 1926: 8 triệu Fr; 1943: 16 triệu Fr.

* Thành lập Công ty Nông nghiệp Thành Tuy Hạ (Société Agricole de Thanh Tuy Ha). Trụ sở đặt tại Biên Hòa. Đối tượng hoạt động: khai thác các đồn điền nông nghiệp và mua bán các sản phẩm nông nghiệp. Về vốn: 1910 có 600.000Fr; 1912: 1 triệu Fr; 1919: 1.200.000Fr; 1924: 2 triệu Fr; tháng 1 - 1925: 2.200.000Fr; tháng 7 - 1930: 2.320.000 Fr; tháng 1 - 1935: 3.311.800Fr.

* Thực dân Pháp thí nghiệm đưa máy móc vào canh tác các đồn điền ở Nam kỳ. Nhưng phải bãi bỏ vì chỉ phù hợp với đồn điền lớn thiếu nhân công và trong thực tế tập quán canh tác nhỏ đang còn là phổ biến.

(15 - 1) Khai thác đoạn đường sắt Gia Ray – Mường Mán, dài 77 k m; đặt chi nhánh phụ ở Phan Thiết, cũng bắt đầu khai thác từ 15 – 1 - 1910.

(4 - 6) Toàn quyền Đông Dương ra nghị định miễn thuế 6 năm cho một số đất trồng các loại cây công nghiệp như cao su, đay, bông, cà phê để khuyến khích chủ đồn điền canh tác các loại cây đó.

(25 - 8) Thành lập Công ty Cao su Đồng Nai (Cie Générale des hévéas du Donnai).

Comments