1940

1940

* Lụt lớn tại Biên Hòa.

* Các đồng chí lãnh đạo đấu tranh công khai phong trào Dân chủ Đông Dương như: Nguyễn Văn Nghĩa, Phan Văn Khoai, Phạm Văn Thuận, Hồ Văn Đại... tạm lánh về các địa phương khác hoạt động. Các đồng chí trong Tỉnh ủy Lâm thời (Lê Văn Tôn, Huỳnh Văn Phan, Huỳnh Liễng, Nguyễn Hồng Kỳ, Trần Minh Triết...) rút vào hoạt động bí mật ở rừng Tân Uyên. Tại đây, các đồng chí đã xây dựng một đội võ trang 35 người do đồng chí Huỳnh Liễng chỉ huy. Đây là tổ chức tiền thân của Lực lượng Võ trang cách mạng Biên Hòa.

* Đồng chí Đặng Nguyên - Công nhân, Đảng viên chi bộ đề-pô Dĩ An bị đuổi việc, xin về làm ở nhà máy BIF. Tại đây, đồng chí Nguyên tiếp tục sinh hoạt Đảng, sau làm Bí thư chi bộ.

* Tình hình ruộng lúa của tỉnh Biên Hòa (*): Diện tích chung: 11.243 km2, Dân số: 166.000 người, Dân số/km2: 14 người, Ruộng lúa: 44.200 mẫu (ha), sản lượng 39.000 tấn.

(5 - 2) NĐ chỉ định Ô. Hồ Tấn Khoa đảm nhiệm chức vụ kiểm soát viên nhà cầm đồ ở Biên Hòa.

(22 - 6) Nước Pháp đầu hàng phát xít Đức. Thực dân Pháp ở Đông Dương đầu hàng phát xít Nhật: để cho bọn Nhật chiếm đóng Đông Dương.

– Tháng 7. Xứ Ủy Nam kỳ triệu tập Hội nghị mở rộng tại xã Tân Lương, Mỹ Tho: Thông qua chủ trương, kế hoạch khởi nghĩa và lập Ban Quân sự các cấp. Hội nghị cử đồng chí Phan Đăng Lưu ra Bắc dự Hội nghị trung ương lần thứ VII (tháng 11 - 1940) và xin chỉ thị trung ương về khởi nghĩa.

(22 - 9) Nhật đưa quân vào Đông Dương. Bộ Tư lệnh quân đội Pháp ký hiệp ước thỏa thuận cho phát xít Nhật sử dụng lãnh thổ Bắc kỳ vào những mục đích quân sự.

(27 - 9) Khởi nghĩa Bắc Sơn.

(6 - 11) Hội nghị lần thứ VII Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Nghị quyết Hội nghị vạch rõ: “Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị gánh lấy cái sứ mạng thiêng liêng lãnh đạo các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập”.

(22 - 11) Ở Biên Hòa công tác chuẩn bị khởi nghĩa tiến hành khẩn trương, nhất là một số địa phương thuộc Tân Uyên và Châu Thành. Tỉnh ủy Biên Hòa đã lập lực lượng vũ trang gần 35 người, nhưng do kế hoạch khởi nghĩa của Biên Hòa bị lộ sớm nên thất bại.

Lệnh khởi nghĩa toàn xứ Nam kỳ được ban hành.

(23 - 11) Công nhân nhà máy BIF treo cờ đỏ búa liềm lên dây điện trong khu vực nhà máy, một lá cờ khác cũng treo trên cây cao ngang ngã ba nhà máy cưa.

(24 - 11) Kế hoạch khởi nghĩa bị lộ. Địch tập trung lực lượng càn quét vào rừng Tân Uyên. Các đồng chí trong Tỉnh ủy Biên Hòa: Lê Văn Tôn, Nguyễn Hồng Kỳ bị địch bắt đày đi Côn Đảo. Đồng chí Huỳnh Liễn hy sinh ở Lạc An. Một số đồng chí khác bị địch bắt giam ở Bà Rá, Tà Lài. Đồng chí Chín Quỳ (Nguyễn Văn Quỳ) đưa lực lượng võ trang rút vào rừng hoạt động bí mật cho đến cách mạng Tháng Tám.

– Tháng 12. Thực dân Pháp tiến hành khủng bố trắng, bắt giam các cán bộ đảng và đàn áp các quần chúng tiến bộ, những người phụ trách các hội, đoàn ái hữu. Ngoài khám đường Biên Hòa, giặc lập thêm các trại tù ở Tà Lài, Bà Rá để giam giữ các chiến sĩ cách mạng. Một số các đảng viên về hoạt động ở các đồn điền: Đồng chí Hồ Văn Đại về sở Cốc Rang (An Lộc), Nguyễn Văn Long về sở Dầu Giây (Bình Lộc), Trần Văn Trà về sở Cuộc - tơ-nay; các đồng chí trong chi bộ Xuân Lộc cũng rút vào hoạt động bí mật ở các sở cao su An Lộc, Hàng Gòn, Túc Trưng.

(29 - 12) 2.000 công nhân ở sở cao su Cam Tiên, Cuộc – tơ - nay ([1][7]) bãi công, đòi: Ngày làm việc 8 giờ, được nghỉ ngày chủ nhật, hủy bỏ chế độ làm cỏ vào chiều thứ bảy hàng tuần. Thực dân pháp đàn áp dã man, làm chết và bị thương nhiều người. Hơn một trăm công nhân bị bắt.



* Biên Hòa không có nhà máy xay lúa trong khi hầu hết các tỉnh khác đều có, nhiều nhất là Mỹ Tho (71), Chợ lớn (45), Gò Công (34), Bến Tre và Rạch Giá (33), Cần Thơ (28), Tân An (27), Sa Đéc (29), Bạc Liêu (21), Sóc Trăng (15), Vĩnh Long (13), Trà Vinh (12), Châu Đốc (10), Bà Rịa (5).

([1][7]) Nay là nông trường Ông Quế (Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) và Cẩm Mỹ

Comments