1944

1944

* Công nhân hãng cưa B.I.F lãn công làm chậm kế hoạch cung cấp 15 vạn tấn gỗ cho Nhật. Bọn Nhật giao cho hãng cưa Biên Hòa (B.I.F) khai thác 15 mét khối gỗ tốt, đưa về Sài Gòn để đóng tàu. Bọn chủ hãng lệnh cho công nhân làm be gỗ ở Xuân Lộc và Trảng Bom thực hiện việc khai thác đủ số gỗ này cho Nhật. Biết được ý đồ của giặc, công nhân xe goòng ở Trảng Bom phá đường rầy làm xe lửa chỡ gỗ bị đổ, phải sửa chữa một thời gian dài; ở Xuân Lộc, đồng bào Kinh và dân tộc ít người không chịu khai thác gỗ cho chủ be, bỏ đi làm các nơi khác. Kế hoạch khai thác gỗ của bọn Nhật bị phá sản.

* Đồng chí Huỳnh Văn Hớn - cán bộ xứ ủy Tiền Phong được phân công về Biên Hòa hoạt động.

* Quận bộ Việt Minh đầu tiên ở Long Thành được thành lập với các mạng lưới cơ sở Việt Minh trong các đồn điền cao su.

* Chi Bộ Đảng Bình Sơn do Đồng chí Vũ Hồng Phô (tức Vũ Khánh làm Bí thư).

– Tháng 3. Chi bộ đảng ở Bình Sơn: Đồng chí Trịnh Văn Dục làm Bí thư và Ban cán sự miền Đông cử đồng chí Vũ Hồng Phô (tức Vũ Khánh) và Lý Trần Hoan ở lại hỗ trợ. Đây là chi bộ Đảng đầu tiên ở huyện Long Thành.

(5 - 1) Toàn quyền Đông Dương ra nghị định về hương chính Nam kỳ. Đây là đợt cải lương hương chính lần thứ 3 được thực hiện ở Nam kỳ và cũng là lần cuối cùng ở Việt Nam. Nghị định này chủ yếu bổ sung một số vấn đề liên quan đến việc tuyển chọn nhân sự vào Hội đồng Kỳ mục nhằm bổ sung các thành phần thân Pháp: 1/ Những thương nhân sung túc nhất trong làng xã; 2/ Những người có học đỗ bằng Cao đẳng Pháp – Việt trở lên; 3/ Những cựu binh lính và cựu Thủ bộ có huân chương và biết chữ Quốc ngữ.

(1 - 1) Thành lập một trung tâm hành chánh tại Định Quán (Biên Hòa) trong khuôn khổ NĐTQ ngày 5.3.1943. Theo NĐ Thống đốc Nam kỳ: Trung tâm chỉ huy bởi trưởng phân khu lâm nghiệp của địa phương, sẽ hoạt động dưới thẩm quyền trực tiếp của chủ tỉnh Biên Hòa.

(25 - 1) Ra quyết định đặt tên các trừơng mỹ thuật Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Gia Định. Trường Mỹ thuật Biên Hòa có tên là: Trường Mỹ nghệ thực hành Biên Hòa

(2 - 2) Phúc trình của viên Thanh tra tỉnh Biên Hòa từ 2 - 2 đến 5 - - 2 - 1944 về thái độ của dân chúng đối với tình hình chiến tranh và đối với quân đội Nhật Bản, đánh giá tình hình các biến cố, tuyên truyền chính sách Pháp Việt đề huề (rapprochement Franco - annamite), hành động của nhà cầm quyền Pháp đối với những người hoạt động cách mạng.

Phúc trình mật do viên quan cai trị Larivière, hạng nhất dân sự, gửi cho Ribou, thanh tra chính trị và hành chánh sự vụ.

1. Trạng thái tinh thần của dân chúng

1. Đánh giá các sự biến: Sợ bị dội bom và chiến tranh ở ĐD do Nhật đóng quân, sợ Sài Gòn bị dội bom nên đưa con về và lo chúng học dở dang và không được thu nhận lại. Nhiều người mong chiến tranh mau chấm dứt với chiến thắng của Đồng Minh mà họ nghe qua tin đồn và sự yếu dần của Nhật sớm muộn cũng bị Mỹ đánh bại. Thái độ của dân chúng được điều tra thành thật hơn trứơc. Dưới mắt người Việt tiến bộ, Pétain - sức mạnh duy nhất cứu nước Pháp tiếp tục trội hơn trong các sự biến. Nostradamus được biết ở Biên Hòa cũng như ở Thủ Dầu Một, đặc biệt được giới giáo viên đáng giá cao.

2. Thái độ của người Việt đối với người Nhật: Ở Biên Hòa cũng như ở Thủ Dầu Một, binh đội Nhật đóng rất lâu. Ban đầu dân chúng tiếp đón họ với sự tò mò, nhưng từ lâu nay đã tỏ ra thờ ơ. Nhiều người trong dân chúng và các giai cấp cao đã chịu khổ vì sự sỗ sàng, sự dã man và khinh người của họ. Việc họ tịch thu hàng hóa lương thực tại một số chợ đã cho dân chúng thấy họ không quan tâm tới hạnh phúc của dân chúng. Dân chúng giờ đây hiểu là nền thống trị của Nhật làm cho mức sống suy giảm khiến cho tất cả các tầng lớp xã hội chịu khổ. Đông Dương bị người Nhật khai thác cho riêng họ hưởng chứ không phải cho khối thịnh vượng chung. Việc họ xử tội một cách dã man tàn nhẫn làm cho người Việt thích việc xét xử của người Pháp hơn. Không bảo vệ các cuộc dội bom của Đồng Minh, đôi khi còn trốn chạy các nơi bị dội bom mặc cho dân chúng gánh chịu; bất lực không ngăn cản được chiến hạm Lamthe Picquet của Pháp đến Thành Tuy Hạ; chiếu bóng của Nhật không được đông đảo người xem như của Pháp. Bấy nhiêu sự kiện trên cho thấy dân chúng Biên Hòa và Thủ Dầu Một không có cảm tình với Nhật và mong xứ sở được giải phóng.

3. Pháp Việt đề huề

Vì ác cảm với người Nhật nên phần đông quay lại với Pháp. Chính sách Pháp Việt đề huề được dân chúng hưởng ứng hoàn toàn tại Biên Hòa và Thủ Dầu Một. Đối với dân chúng, đời sống dễ dàng do lương bổng cao đáp ứng một mức sung túc nào đó làm cho quan hệ giữa người cai trị và ngươì bị trị dễ dàng hơn. Tuy nhiên, mặc dù tinh thần tốt của các công chức cũng có người phàn nàn về tình trạng vật chất của họ không phù hợp với chức vụ quan trọng. Đó là trường hợp các y sĩ ĐD học 4 năm trường y Hà Nội nhưng có kinh nghiệm thực hành, đủ sức thực hiện hữu hiệu công việc cũng như các y sĩ có bằng tốt nghiệp. Dự án gần đây của toàn quyền cho họ gia nhập vào đoàn bác sĩ ưu tú các y sĩ ĐD đã làm nhiều người hy vọng. Kết quả chỉ có 3 y sĩ Bắc kỳ được hưởng biện pháp nầy, khíến cho các y sĩ ĐD ở Nam kỳ thất vọng. Họ ta thán có sự ưu đãi đối với 3 trong số 150 y sĩ ĐD vì họ ở gần mặt trời. Có y sĩ đề nghị cho các y sĩ có 10 năm công vụ và có điểm tốt, bảo vệ luận án Bác sĩ, và công bố công khai...

– Tháng 3. Ban cán sự Miền Đông cử đồng chí Lê Minh Định, Vũ Hồng Phô, Lý Trần Hoan xuống Long Thành phân tích tình hình thế giới và thời cơ cướp chính quyền của cách mạng.

Xứ ủy Nam kỳ quyết định thành lập chi bộ Đảng tại Long Thành do đồng chí Trịnh Văn Dục làm Bí thư.

– Tháng 4. Thành lập Tổng công đoàn Nam bộ và chuyển thành tổ chức “Thanh niên Tiền phong ban Xí nghiệp”. Đến cuối tháng 7, đầu tháng 8 - 1945, riêng Sài Gòn – Gia Định đã có 324 công đoàn cơ sở với với 120.000 đoàn viên dưới danh nghĩa “Thanh niên Tiền phong ban Xí nghiệp”. Đây là lực lượng quần chúng cực kỳ quan trọng trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở các đô thị Nam bộ. Trước ngày khởi nghĩa, khi Việt Minh ra công khai, tổ chức công nhân trở lại với tên Tổng công đoàn Nam bộ.

(17 - 4) Thống đốc Nam kỳ ra nghị định về việc trữ lúa gạo ở Nam kỳ: Trừ khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, các nơi khác, ai có trên 20 giạ lúa (tức 400kg thóc hoặc 200kg gạo hoặc tấm) đều phải khai báo với chính quyền.

(7 - 5) Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị “Sửa soạn khởi nghĩa”.

(22 - 5) NĐ mở một cuộc điều tra hành chánh về tiện và bất tiện trong việc xây cất một doanh trại cho đội Dân vệ Biên Hòa. Hồ sơ điều tra để tại văn phòng Tòa bố Biên Hòa trong 20 ngày để dân chúng tham khảo và sổ ghi ý kiến do trưởng tiểu khu Công chánh Biên Hòa được chỉ định làm ủy viên điều tra cất giữ.

(3 - 8) Ngân hàng Đông Dương phát hành tờ giấy bạc 500 đồng. Tình trạng lạm phát trầm trọng, giá cả tăng vọt, đời sống của nhân dân vô cùng khốn đốn.

(10 - 8) Mặt trận Việt Minh ra lời kêu gọi “Sắm vũ khí, đuổi quân thù chung”.

– Tháng 9. Chi bộ Đảng Long Thành kết nạp thêm các đảng viên mới: Đồng chí Thái, Tiễu. Đồng chí Bảy Kỷ là đảng viên hoạt động vùng Phước Thiền về sinh hoạt trong chi bộ Long Thành.

Ban Cao su miền Đông cử đồng chí Lê đình Cự về tổ chức Liên doàn Cao su tại Long Thành. Lúc này, bọn Nhật bắt phu vào rừng Cây Khế, Bàu Lương, Bàu Cạn đốn gỗ chở về cho chúng xây dựng sân bay ở căn cứ Nước Trong và Thái Thiện. Chúng còn bắt phu xe bò chở vũ khí và lương thực sang Cam - bốt. Để chống lại hành động của bọn phát xít Nhật, Liên đoàn Cao su liền thành lập “Nghiệp đoàn xe bò” do đồng chí Bảy Kỷ phụ trách. Theo sự lãnh đạo của Đảng, anh em công nhân tìm cách lãng công, làm hao tổn vật tư để kéo dài tiến độ thành lập sân bay và đoàn phu xe bò đi Cra - chê (Cam - bốt) đều bảo nhau trốn sạch.

* 500 công nhân đồn điền cao su An Viễng và Bình Sơn biểu tình kéo ra quận lỵ gặp các Quận Phục đấu tranh đòi “cấm đánh đập và cúp lương”. Quận Phục bảo: “Đó là do mấy ông chủ Tây, tôi không dám can thiệp”. Đoàn biểu tình kéo về gặp chủ Đờ - la - mông và hắn hứa thực hiện mọi yêu cầu của công nhân. Nhưng sau đó, Cai Minh – một tay chân của chủ – cho người truy bắt giam những người cầm đầu cuộc biểu tình và đánh đập những người này để trấn áp. 100 công nhân lại kéo đến Đờ - la - mông đấu tranh. Hắn chối quanh. Đêm hôm đó, công nhân bao vây, bắt giết tên Cai Minh, rồi chia nhau đập phá 2.000 chén mủ. Đờ - la - mông kinh hãi vội thả hết những người bị bắt và đem tiền thuốc bồi thường.

(10 - 12) Bác Hồ gởi tới đồng bào cả nước: Báo tin Người về nước, vạch rõ cơ hội giải phóng dân tộc đã gần kề và nêu ra yêu cầu cần thiết một “toàn quốc đại biểu đại hội” để lập ra một “cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động và nhất trí của toàn thể quốc dân ta”.

(22 - 12) Thành lập Việt Nam truyền truyền Giải phóng quân.

(24 – 25 - 12) Chiến thắng Phai Thắt và Nà Ngần của Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân.

– Cuối năm. * 200 công nhân ở sở cao su Dầu Giây đòi được trả về xứ vì đã mãn giao kèo. Công nhân đã kéo về An Lộc và Xuân Lộc đòi bọn chủ và chính quyền phải giải quyết yêu sách. Cuộc đấu tranh giành được thắng lợi.

* Nhiều đảng viên trở về hoạt động ở các xã Bình Trước, Tân Mai, Hóa An. Tại Hóa An có đồng chí Sáu Quăng và bà Ba Ngọc; ở Tân Mai có đồng chí Hồ Hòa; tại Tân Phong có đồng chí Chín Văn; đặc biệt xã Bình Trước có nhiều đảng viên nhất: Hoàng Minh Châu, Nguyễn Văn Ký, Hồ Văn Đại, Ngô Hà Thành, Nguyễn Văn Nghĩa, Phạm Văn Khoai; tại Tân Hiệp có Huỳnh Văn Hớn, Quách Sanh. Riêng chi bộ cơ sở Trường Tiền (công chánh) kết nạp 5 đảng viên mới.

– Cơ sở đảng ở các xã vận động nhân dân chống lại việc bắt xâu của Nhật; nhiều người bỏ trốn, lãn công hay làm chiếu lệ.

– Chi bộ Trường Tiền vận động công nhân sửa chữa xe cộ, máy móc cho Nhật lãn công, vận động lính Việt ở thành săn đá bỏ trốn, đào ngũ.

* Chi bộ Bình Sơn (Long Thành) đã chỉ đạo cho công nhân đấu tranh đòi phát lương đúng kỳ hạn, cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm, ngày làm việc 8 giờ, đau bệnh được nghỉ và được cấp thuốc men. Tên chủ Tây Anbriel chấp nhận các yêu sách.

Comments