1946

1946

(1 - 1) Thành lập Chính phủ lâm thời.

(2 - 1) Vệ quốc đoàn Biên Hòa (Huỳnh Văn Nghệ) phối hợp với lực lượng vũ trang: Bộ đội Bình Xuyên (Dương Văn Dương), Vệ quốc đoàn Thủ Dầu Một (Chi đội I), Gia Định (Đào Sơn Tây), dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Bình tấn công thị xã Biên Hòa. Lực lượng vũ trang tiêu diệt một số quân địch, bắn cháy nhiều trạm gác, phá một số công sở, trạm gác, nhà lao, đầu cầu. Đây là trận đánh đầu tiên của lực lượng vũ trang Cách mạng vào một thị xã ở Nam bộ kể từ khi thực dân Pháp xâm lược lần thứ 2.

(6 - 1) Trừ những vùng địch tạm chiếm, hai tỉnh Bà Rịa - Biên Hòa tổ chức bầu cử Quốc Hội cả nước. Đồng chí Hoàng Minh Châu, Phạm Văn Búng, Điểu Xiển trúng cử tại Biên Hòa. Đây là cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nhân dân ta.

(24 - 1)Pháp đưa 4.000 quân có tàu chiến, xe cơ giới, xe bọc thép và 4 máy bay yểm trợ đánh úp Tân Uyên. Trận chiến làm cháy cả một khu chợ quận lỵ, đôi bên đều bị thiệt hại. Các cơ quan đều rút đi lập chiến khu tại An Lạc, chỉ còn các đồng chí Dương Bạch Mai và Trần Văn Long ở lẫn khuất quanh vùng Thiện Tân, Gành Rái, Đồng Lách. Pháp tiếp tục chiến dịch càn quét.

(25 - 1) Thực dân Pháp đánh chiếm Long Thành, một mũi tiến chiếm các sở cao su dọc đường 15, 17. Quận ủy, Ủy ban rút về Rừng Sác, Phước An xây dựng căn cứ kháng chiến. Cánh quân thứ hai từ Cát Lái qua cũng chia 2 mũi, bị ta chận đánh ở Long Tân, Xoài Minh... Cuộc chiến diễn ra không cân sức, nhưng diệt được 100 tên giặc và làm bị thương 100 tên khác; 300 đồng bào và chiến sĩ hy sinh, gần 400 người khác bị thương, 20 ghe của liên quân Bình Xuyên bị đánh đắm, 3 kho gạo (mỗi kho 5 tấn) bị giặc đốt cháy.

* Cùng ngày, địch đưa 1.000 quân có thiết giáp và cơ giới hỗ trợ đánh chiếm Xuân Lộc; theo quốc lộ 20 và liên tỉnh lộ 2, chiếm lại các đồn điền cao su An Lộc, Bình Lộc, Hàng Gòn, Cam Tiêm... Công nhân các sở cao su Thực hiện triệt để lệnh bất hợp tác với giặc; đốt nhà mủ, tháo gỡ máy móc, nguyên vật liệu đưa ra khu kháng chiến ở Bình Lộc, Rừng Lá.... Công nhân trẻ đều thoát ly đi kháng chiến.

(26 - 1) Chấp hành mệnh lệnh của khu 7: các đơn vị từ các xã dọc đường 15, 17, 19 lần lượt rút về Phước An tổ chức lại lực lượng và một bộ phận trang bị gọn nhẹ lên đường đi khu 8 dưới sự chỉ huy trực tiếp của Dương Văn Dương.

 (31 - 1) Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh phát hành giấy bạc Việt Nam ở phía Nam vĩ tuyến 16. Giữa tháng 8/1946, giấy bạc này lưu hành rộng ra miền Bắc Trung bộ và cuối năm 1946, giấy bạc Việt Nam lưu hành cả nước.

(5 - 2) Quân Pháp đã chiếm đóng các tỉnh lỵ cao nguyên, miền Trung và miền Nam từ vĩ tuyến 16 trở vào.

(9 - 2) Thực dân Pháp đánh chiếm Bà Rịa. Quốc gia tự vệ cuộc rút ra vùng Phú Mỹ lập căn cứ kháng chiến.

(20 - 2) Trước tình hình giặc Pháp đánh chiếm Long Thành, liên tục càn quét bắn pháo và ném bom hầu hết các làng xã, chính quyền cách mạng và các lực lượng yêu nước kháng chiến bị phân tán, Huyện ủy Long Thành tổ chức chia địa bàn huyện thành 4 khu để củng cố và tập họp lực lượng hoạt động có hiệu quả:

Khu I: Gồm 7 xã dọc lộ 17 từ Phước Thiền tới Phước Lý.

Khu II: Năm xã dọc lộ 19 từ Phước Thiền tới Phước Thọ.

Khu III: 4 xã thuộc rừng sác Phước An, Phước Khánh, Phước Thành, Phú Hữu và hai ấp Xoài Minh, Ông Kèo (xã Phước Lý).

Khu IV: Các xã dọc đường 15 từ Thái Thiện tới Phước Tân và các cơ sở cao su trên địa bàn huyện.

(Cuối tháng 2) Các đơn vị Bình Xuyên từ Bến Tre lần lượt trở về Rừng Sác, Long Thành. Theo chỉ thị của Khu, các đơn vị nhỏ hợp nhất thành 2 Chi đội: Chi đội II đóng từ Thái Thiện sang Phú Mỹ; Chi đội III đóng chân ở Ba Doi, Phước An, Phước Thọ. Bộ Tư lệnh liên chi đóng ở Rừng Sác và Chi đội 7 đóng dọc lộ 19.

(5 - 3) Quân đội Anh - Ấn rút khỏi Nam bộ.

(6 - 3) Hiệp ước sơ bộ giữa Việt Nam và Pháp được ký kết. Những điều khoản chính: “Nước Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự chủ. Nước Việt Nam thuận để quân đội Pháp vào thay thế quân đội Trung Hoa ở Bắc vĩ tuyến 16 và quân đội Pháp phải đình chỉ ngay việc xâm lược ở Nam bộ”. Tuy nhiên bọn chủ chiến Pháp trắng trợn tuyên bố rằng Hiệp ước này “không hề ràng buộc Nam kỳ”. Chúng dựng chính phủ bù nhìn do Nguyễn Văn Tâm làm Thủ tướng. Tại Biên Hòa, Thực dân Pháp ra sức tạo dựng bộ máy chính quyền tay sai từ tỉnh xuống quận, xã; đồng thời tổ chức nhiều cuộc càn quét, khủng bố các vùng ven thị xã, thị trấn, đồn điền; xây dựng các đồn bót trên các lộ giao thông, các đồn điền cao su.

(9 - 3) Giặc Pháp tổ chức càn vào huyện Long Thành. Trên trục lộ số 19, lực lượng tự vệ Long Thành tổ chức đánh tại cầu Lò Rèn tiêu diệt gọn một đại đội Âu Phi gồm 48 tên, phá hủy 2 xe quân sự. Chiều hôm đó, phục kích một trung đội Âu Phi khác tại miễu Mặt Trăng, bắt sống 5 tên, số còn lại bị diệt gọn. Mũi thứ 2 của giặc theo đường 15 xuống Bà Ký bị một phân đội của chi đội 2 cùng tự vệ 2 xã Trung Long, Tập Phước chận đánh cầm chân giặc. Khi hết đạn, đồng chí Lê Văn Gà ôm rơm lao lên đường đốt cháy xe giặc, giặc đuổi bắn, đồng chí Lê Văn Gà hy sinh. Ta diệt 35 tên Âu Phi, phá hủy 2 xe quân sự. Hai cánh quân khác của giặc từ Bà Rịa tràn qua, từ Sài Gòn qua phà Cát Lái đều lọt vào trận địa phục kích các chi đội 2, chi đội 3 Bình Xuyên, giải phóng quân khu 2 và khu 3 đều không tiến được phải rút về.

* Quốc gia tự vệ cuộc Nam bộ đổi thành Sở công an Nam bộ theo sắc lệnh số 23/SL của Hồ Chủ Tịch.

* Quốc gia tự vệ cuộc Biên Hòa đổi tên thành Ty công an. Đồng chí Nguyễn Văn Ký được Khu ủy Miền Đông chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa kiêm trưởng Ty công an.

(11 - 3) Bị thua đau trong trận tập kích chiếm Long Thành, từ 11 - 3 đến tháng 4 - 1946, giặc Pháp huy động hàng chục lần máy bay phóng pháo bắn phá ác liệt vào các làng xã, mở nhiều cuộc càn quét vào vùng tranh chấp với chủ trương “đốt sạch, phá sạch, giết sạch” và chiếm đến đâu giặc Pháp lập đồn bót đến đó. Nhân dân rút vào vùng tự do lập làng chiến đấu và thực hiện triệt để chủ trương tiêu thổ kháng chiến.

(15 - 3) Thực dân Pháp mở cuộc hành quân lớn, gồm cả thủy, lục, không quân tấn công vào chiến khu Lạc An (Tân Uyên).

– Tháng 4. Lực lượng chiến đấu xã Tam Phước, phối hợp với các chiến sĩ người Đức trong Chi đội 6 dùng kế giả “binh lính lê dương áp giải Việt Minh” lấy đồn thân binh sở Đờ-la (Tam Phước), bắt gọn 12 tên địch.

* Ba Huy (tức Nguyễn Kim Huy, xã đội trưởng Long Tân, Long Thành) dùng lựu đạn đánh bọn tề ngụy ở ngay trụ sở hội tề, đặt tại đình Vĩnh Tuy, làm tan rã cơ cấu tề ngụy xã này, đến năm 1952 vẫn không tái lập được.[1][12]

(10 - 4) Tại miếu Bà Cô (huyện Vĩnh Cửu) đại diện của Pháp gặp đại diện cách mạng gồm các đồng chí Phạm Thiều, Huỳnh Văn Nghệ, Võ Bá Nhạc, Lê Đình Chi đàm phán nhưng không đạt kết quả.

(18 - 4) Hội nghị trù bị Đà Lạt kéo dài đến 12 - 5 thì chấm dứt. Thực dân Pháp muốn xóa bỏ Hiệp định sơ bộ 6 - 3; phái đoàn cách mạng kiên quyết giữ lập trường “hòa bình trong tự do, bình đẳng với tạm ước 6 - 3 chứ không phải hòa bình trong nô lệ, bỉ ổi, mất danh dự.

(18 đến 21 - 4) 8000 quân Pháp có tàu chiến và máy bay yểm trợ, do tướng Leclerc chỉ huy mở hai mũi tấn công đường thủy và đường bộ càn vào chiến khu Đ. Quân dân Lạc An bắn bị thương một máy bay Spit-phai (Spitfire) của Pháp, chiếc này do Barbier lái, rơi ở Long Thành. Các lực lượng vũ trang vừa phải chống càn vừa phải giúp dân sơ tán vào rừng. Giặc thực hiện phương sách “giết sạch, đốt sạch, phá sạch” nhằm gây thiệt hại tối đa cho nhân dân vùng căn cứ. Để bảo toàn lực lượng, Khu bộ Khu 7 rời An Lạc, rút về chiến khu Đông Thành (Đức Huệ, Long An). Lạc An (Tân Uyên) trở thành căn cứ kháng chiến của Biên Hòa. Ở thời điểm này, trên địa bàn Biên Hòa hình thành 2 căn cứ kháng chiến lớn: Chiến khu Đ (Tân Uyên) và chiến khu Rừng Sác (Phước An). Ngoài ra, Biên Hòa còn có các căn cứ du kích áp sát thị xã: Bình Đa (Châu Thành), Phước Long (Long Thành), Hố Cạn (Tân Phong).

(Giữa tháng 4) Bí thư Khu ủy Khu 7, đồng chí Nguyễn Đức Thuận về Biên Hòa, triệu tập Hội nghị cán bộ toàn tỉnh tại Cù lao Vịt (xã Bình Hòa, Vĩnh Cửu), chỉ định đồng chí Trần Minh Trí làm Bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa, đồng chí Huỳnh Văn Lũy làm phó Bí thư kiêm Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh (thay đồng chí Hồ Hòa đã về Bà Rịa). Để củng cố bộ máy lãnh đạo kháng chiến, Hội nghị cử ông Nguyễn Văn Tàng làm Chủ tịch Ủy ban hành chánh tỉnh, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ – Chỉ huy trưởng Vệ quốc đoàn Biên Hòa, làm phó Chủ tịch kiêm Ủy viên Quân sự tỉnh; đồng chí Trịnh Trọng Tráng làm Phó Chủ tịch Việt Minh, phụ trách Công đoàn; đồng chí Phạm Văn Khoai làm Hội trưởng Hội Nông dân cứu quốc tỉnh; phụ trách Công an có các đồng chí: Phạm Văn Thuận, Nguyễn Văn Ký, Hồ Văn Đại, Hoàng Đình Thương. Hội nghị đã đề ra nghị quyết tập trung vào các công tác quan trọng: Xây dựng hệ thống lãnh đạo đảng các cấp, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng – nhất là đối với lực lượng vũ trang, củng cố Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể.

* Sau cuộc họp Bình Hòa, Công an miền Đông mở cuộc họp ở Võ Sa (Lợi Hòa) chuyển tổ chức “Quốc gia tự vệ cuộc” thành Công an tỉnh.

* Ở Châu Thành, tổ chức các “quận quân sự” để làm chân rết cho bộ đội ở địa phương: quận quân sự 2, 4, 5, 6.

– Tháng 5. Hội nghị Quân sự tỉnh Biên Hòa triệu tập tại xóm Đèn xã Tân Hòa (nay thuộc huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) thông qua hai vấn đề chính:

1/ Nhập Vệ Quốc đoàn Châu Thành (60 người, 30 súng), trường du kích Sở Tiêu (40 người, 13 súng) với Vệ Quốc đoàn Biên Hòa (sau có thêm Vệ quốc đoàn huyện Long Thành) thành lực lượng vũ trang thống nhất của tỉnh lấy tên là Chi đội 10 do Huỳnh Văn Nghệ làm Chi đội trưởng.

2/ Xây dựng căn cứ Chiến Khu Đ thành căn cứ chính thức của tỉnh Biên Hòa.

* Du kích và bộ đội tại Bình Đa phục kích tiêu diệt 2 tên Pháp.

(16 - 5) Đàm phán Việt - Pháp được quân khu Đông của Pháp tổ chức, tại miễu Bà Cô (trên bến đò cây số 6, làng Thiện Tân). Ban hành lệnh hưu chiến. Cắm cờ trắng dọc theo sông Đồng Nai. Đại diện bên Pháp: Đại úy Ferrière đem 2 chiếc tuần giang rước phái đoàn Việt; Đại úy Saoutic (đại diện trung tá Rives chỉ huy trưởng quân khu Đông). Đại diện bên Việt: đại diện tướng Nguyễn Bình cùng với Võ Bá Nhạc, Phan Đình Công, Huỳnh Văn Nghệ, Lâm Thái Hòa, Dương Văn Dương, trung úy Ngọc, Đoàn Bá Kỳ (liên lạc). Pháp đưa ra 4 điểm khó chấp nhận. Hội nghị tan rã lúc 3 giờ chiều.

(20 - 5) Hết hạn hưu chiến, nghị hòa bất thành, Pháp đem toàn lực tấn công chiến khu Đ, nhưng quân kháng chiến đã rút đi từ sau giờ tan hội nghị.

(28 - 5) Thành lập Mặt trận Liên Việt (Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam).

– Tháng 6. Khu bộ Khu 7 ra quyết định thành lập Chi đội 10 Biên Hòa do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ làm Chi đội trưởng, Chi đội phó Nguyễn Văn Lung, Phan Đình Công làm Chính trị viên. Chi đội 10 Biên Hòa có 1.100 chiến sĩ, trang bị 380 súng trường, 13 súng máy, 25 súng tiểu liên, 1 cối 81 ly; chia làm 3 đại đội đứng chân hoạt động ở các quận Tân Uyên, Long Thành, Xuân Lộc.

(17 - 6) Hai tiểu đội chi đội 6 thiêu hủy 3 căn cứ phản động trên đường 1 Sài Gòn - Biên Hòa và đánh tan một bọn phản động Cao Đài vào xóm Tân Hiệp Đông.

(28 - 6) Quận quân sự 2, theo sự chỉ đạo của Chi đội 1, tập kích bót Lợi Hòa (Võ Sa), thu 1 trung liên, 2 tiểu liên, 8 súng trường, 2 thùng đạn, 1 máy đánh chữ, 1 điện thoại. Trận đánh do binh vận làm nòng cốt này khiến bọn giặc và tề ngụy hốt hoảng lo sợ vì chúng cho rằng quân kháng chiến đã đột nhập vào vùng tạm chiếm.

(6 - 7) Đàm phán Việt – Pháp ở Fontainebleau kéo dài đến 13 – 9 - 1946 không đi đến kết quả.

(3 - 9) Ủy ban huyện Long Thành tổ chức một cuộc họp tại đồng Ông Trúc (Phước An) gồm bốn lãnh đạo khu và cán bộ lực lượng vũ trang, đề ra chủ trương tổng diệt tề và thúc đẩy công tác vũ trang tuyên truyền trong toàn huyện.

(14 - 9) Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Tạm ước với Pháp nhằm tạm thời hòa hoãn, đồng thời tranh thủ thời gian củng cố lực lượng về mọi mặt.

(30 - 9) Nắm thời cơ có tạm ước, Tỉnh ủy Biên Hòa phát động đợt diệt ác trừ gian, phá hoại giao thông và kinh tế của giặc. Lực lượng vũ trang của huyện Long Thành gồm : Bộ đội, Tự vệ cuộc, Tự vệ chiến đấu đột nhập vào các xã vùng tạm chiếm, giải tán 28 ban hội tề ở bốn khu và bắt 11 tên tay sai cho Pháp, xét xử, giáo dục. Ở Châu Thành và Xuân Lộc một số bọn Cai tổng, Hương quản ác ôn bị trừng trị. Ở các sở cao su Bình An, An Viễn, Bình Lộc, An Lộc, Cuộctơnay... công nhân tháo gỡ máy móc làm cho hoạt động bị đình đốn. Giặc Pháp phải rút bỏ hàng loạt các đồn bót ở Long Thành (Phước Thọ, Bà Ký, Ông Kèo, Thái Thiện, Phước Lý...), các xã dọc lộ 16 quận Tân Uyên.

– Tháng 10. Cơ sở cách mạng vận động nhân dân và cơ sở của ta trong chính quyền địch đồng loạt nổi dậy xóa các ban tề, tước vũ khí lính làng, lập lại chính quyền ở 3 xã Tân Lập, Bình Hòa, Bình Lộc; mỗi xã lấy 12 súng, lập đội du kích. Sau đó, vùng giải phóng mở rộng, thành lập căn cứ huyện Long Khánh ở khu vực núi Chứa Chan.

* Đồng chí Đinh Quang Ân, Trung đội trưởng Trung đội 4 được công nhân đồn điền cao su Bình Lộc giúp đỡ, đã cải trang làm linh mục vào đồn điền nghiên cứu tình hình địch và ba hôm sau lúc 21 giờ 30, đã đưa trung đội tập kích bót Bình Lộc, diệt gọn 1 trung đội, bắt sống tên xếp bót, thu 1 súng cối 60 ly, 5 tiểu liên, 30 súng trường. Bộ đội phát động nhân dân nổi dậy đốt xe, kho mủ, tháo gỡ máy móc, dụng cụ y tế đưa ra căn cứ. Trận diệt bót Bình Lộc là trận đánh biệt động sớm nhất ở Biên Hòa.

(10 - 10) Trưởng ban công tác liên thôn 10 (Long Khánh) bí mật đột nhập nội ô thị trấn Xuân Lộc giữa ban ngày, bắn bị thương tên chánh tổng Liên Khắc Tương.

– Tháng 11. Cả nước chia thành 12 khu hành chính và quân sự: Khu 7: Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn, Sài Gòn.

* Hai chiến sĩ Nguyễn Ngọc Ẩn và Thiều Văn Mận đã căng dây thép treo cờ Tổ quốc ra giữa sông Đồng Nai làm bọn giặc và tay sai mất khí thế.

* Một đại đội lính Cao Đài ở bót Bến Gỗ càn vào Bình Đa. Bộ đội và du kích Bình Đa tổ chức chống càn, tiêu diệt và làm bị thương hơn mười tên.

* Quận Long Thành đổi thành đơn vị hành chánh huyện, Ủy ban nhân dân quận đổi thành Ủy ban hành chính kháng chiến huyện. Về quân sự, Tự vệ chiến đấu quân đổi thành Du kích xã; Giải phóng quân Long Thành củng cố lại, lập một đại đội lấy tên Đại đội C do đồng chí Lương Văn Nho làm Đại đội trưởng. Đại đội C biên chế thuộc vào Chi đội 10 của tỉnh, nhưng vẫn hoạt động trên địa bàn Long Thành; chi viện cho Bà Rịa 1 trung đội (do đồng chí Huỳnh Văn Đạo chỉ huy) và một trung đội khác do đồng chí Lung đưa về Biên Hòa.

– Tháng 12. Ban chỉ huy Chi đội 10 cho giải thể các “quận quân sự” để lập các “Ban công tác liên thôn” – tiền thân của Quận đội dân quân sau này và mỗi xã có “Ban công tác xã” – tiền thân của Xã đội sau này. Mỗi liên thôn có một trung đội du kích tập trung với nhiều nhiệm vụ vừa vận động nhân dân ủng hộ kháng chiến vừa trừ gian diệt tề, đánh địch phối hợp với các đơn vị bộ đội trên địa bàn huyện.

* Trung đội 4 phục kích đánh địch trên lộ Cây Đào – Rạch Đông: thu 2 trung liên.

* Trung đội 5 do Lê Thoa chỉ huy dùng lựu đạn tập kích bót Bà Cô (Thiện Tân); sau đó về đường số 8 phục kích diệt tiểu đội Lê dương Pháp, diệt 12 tên, thu 1 trung liên, 4 tiểu liên.

(16 - 12) Trung ương Đảng, gởi điện cho Xứ ủy lâm thời Nam bộ: “Nhiệm vụ của Nam bộ là không để cho Pháp đem tài sản chiếm được ở Nam bộ ra đánh Trung Bắc”. Thực hiện chỉ thị của Xứ ủy, Tỉnh ủy Biên Hòa chỉ đạo: Xây dựng căn cứ địa vững chắc, đẩy mạnh chiến tranh du kích, kết hợp với phong trào phá hoại cơ sở giao thông, kinh tế địch.

(19 - 12) Bộ trưởng Quốc phòng ban hành mệnh lệnh chiến đấu cho bộ đội Vệ quốc quân và dân quân tự vệ cả nước. Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

(20 - 12) Đêm 19 rạng ngày 20, Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

(22 - 12) Trung ương đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị toàn dân kháng chiến.



([1][12]) Nguyễn Kim Huy đã trở thành huyền thoại trong nhân dân vùng “lòng chảo” Long Thành. Nguyễn Kim Huy có tài diệt ác trừ gian, anh đã đánh hàng trăm trận diệt tề nguỵ ác ôn và giặc Pháp, làm bọn chúng kinh hồn. Đặc điểm độc đáo của Ba Huy là bao giờ cũng đi đánh giặc một mình, không theo ai và cũng không cho ai đi theo. Riêng tháng đầu năm 1952, Ba Huy đã đánh 16 trận, diệt 17 tên tề xã ác ôn..

Comments