1948

1948

* Tỉnh ủy Biên Hòa tổ chức hội nghị đại biểu toàn Đảng tại Cây Cầy (Chiến Khu Đ). Đồng chí Hoàng Dự Khương, Bí thư Khu ủy miền Đông về dự, chỉ đạo hội nghị. Hội nghị đã đạt được sự nhất trí cao, qua bầu cử công khai đã bầu ra ban chấp hành:

Đồng chí: Phạn Văn Thuận - Bí thư, Trưởng Công an.

Đồng chí: Huỳnh Văn Lũy - Phó bí thư, Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh.

Đồng chí: Huỳnh Văn Nghệ - Phó bí thư, Chủ tịch Ủy ban hành chánh, Chi đội trưởng Chi đội 10.

* Theo chỉ đạo của Xứ ủy và Khu ủy, chi đội 10 xây dựng thành Trung đoàn 310 gồm 3 tiểu đoàn: Lê Lợi, Quốc Tuấn, Quang Trung. Quân số 2.000 người, được trang bị vũ khí đầy đủ. Theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, chỉ để Tiểu đoàn Lê Lợi làm nhiệm vụ cơ động phối hợp với dân quân du kích bảo vệ căn cứ; đưa hai tiểu đoàn Quang Trung và Quốc Tuấn áp sát thị xã, thị trấn đánh giao thông, gỡ đồn bót hỗ trợ du kích hoạt động vùng tạm chiếm. Nhờ đó, đến giữa năm 1948, Tỉnh đội Dân quân du kích đã xây dựng được lực lượng đến 12.000 đội viên làm nòng cốt phát triển chiến tranh toàn dân khắp các xã trong tỉnh.

* Đầu năm 1948, tướng De Latour được cử sang Nam bộ, bắt đầu thực hiện chiến thuật “điểm và đường”: Xây hệ thống tháp canh dày dặc theo trục giao thông nhằm cắt hành lang vận chuyển của cách mạng đồng thời dùng tháp canh như phương tiện lấn chiếm thọc sâu vào căn cứ kháng chiến theo kiểu gọi là “vết dầu loang”.

– Tháng 1. Trận Phước Cang: Đoàn xe địch 10 chiếc từ Biên Hòa chạy xuống Long Thành đến Phước Cang thì đụng mìn phải dừng lại. Bộ đội nổ súng, xung phong, đánh giáp lá cà. Xe thiết giáp từ cuối đoàn xe chạy lên, bị đạn chống tăng A.T bắn, nhưng không cháy. Địch hốt hoảng quay về Biên Hòa. Kết quả: Diệt đoàn xe quân sự 10 chiếc, thu 1 trung liên,  nhiều súng trường và đạn dược.

(8 - 1) Đại đội La Nha cải trang giả làm lính Pháp phối hợp cùng nhân mối (nội ứng) trong binh lính ngụy, đột nhập thị trấn Xuân Lộc đánh bót Cai tổng Thuần, gọi hàng toàn bộ địch, thu 30 súng.

(12 - 1) 300 tên địch theo đường sông kéo vào càn quét xã Long Điền, đến 14 giờ chúng rút về trên 21 chiếc ghe chở đầy lính và đồ đạc cướp giật được, rẽ vào Rạch Bắc thì lọt vào đội hình phục kích 18 ghe đi đầu bị đánh đắm, diệt 50 tên; thu 25 súng, trong đó có 2 trung liên.

(15 đến 16 - 1) Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương mở rộng tại Việt Bắc: 1/ Xác định cuộc kháng chiến chuyển qua giai đoạn II là “cầm cự”; 2/ Quyết định chỉnh đốn quân giới, quân khu, quân y... cho quân đội; 3/ Đề ra khẩu hiệu: “tăng gia sản xuất; tự cấp, tự túc”...

(25 - 1) Thành lập các liên khu trong cả nước để tăng cường chỉ đạo chiến tranh. Bảy khu ở Bắc bộ đổi thành liên khu 1, 10, 3. Bốn khu ở Trung bộ đổi thành hai liên khu 4 và 5. Nam bộ thành một liên khu có 3 khu 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

(28 - 1) Công nhân các sở cao su An Viễng, Bình Sơn, Đất Đỏ đồng lọt phóng hỏa đốt kho tàng, nhà máy ở các khu đồn điền. Hàng ngàn công nhân cùng gia đình di cư ra vùng tự do theo kháng chiến.

– Trung tuần tháng 3. Sau chiến thắng La Ngà, ở thị xã Biên Hòa, ta đẩy mạnh công tác tuyên truyền; đồng bào, đặc biệt các giới kinh doanh, các gia đình giàu có, các chủ lò gạch, lò gốm, hầm đá ở Tân Vạn, Bửu Hòa, Tân Thành, Bửu Long tự nguyện nộp thuế và ủng hộ kháng chiến. Hội Phật giáo trong thị xã Biên Hòa đẩy mạnh hoạt động: Cầu siêu cho chiến sĩ trận vong, vận động tăng chúng và tín đồ tham gia làm hội viên danh dự của Mặt trận Việt Minh, lập quĩ cứu quốc ủng hộ kháng chiến, đem cả chuông đồng, đồ tự khí bằng đồng gởi cho công binh xưởng làm vũ khí đánh giặc.

(1 - 3) Chi đội 10 dựa vào tin tức của Chi Quân báo do Bùi Trọng Nghĩa chỉ huy đã mở trận đánh giao thông La Ngà (QL. 20 Sài Gòn – Đà Lạt). Một đoàn quân xa Pháp, trên đường Sài Gòn – Đà Lạt bị phục kích: Diệt 150 lính lê dương, 25 sĩ quan (trong đó có 2 đại tá là De Sérigné và Patruit); bắt sống trung úy Jeffrey; diệt 59/70 xe quân sự. Sau trận đánh, đại tá Talès, chỉ huy trưởng Đồng Nai Thượng tự sát vì sợ trách nhiệm.

(19 - 3) Tại cầu Bà Kiên, tổ du kích do đồng chí Hai Cà (tức Trần Công An) chỉ huy, dùng thang bí mật áp sát địch, ném lựu đạn tiệu diệt địch trong tháp canh. Ta tiêu diệt 11 tên lính, thu 8 súng và 20 quả lựu đạn. Trận đánh đơn giản nhưng đem lại hiệu quả cao, mở ra kỹ thuật đánh tháp canh, làm phá sản kế hoạch De Latour của Pháp. Do đó, ngày 19 - 3 được xem là ngày truyền thống của binh chủng đặc công quân đội nhân dân Việt Nam.

(27 - 3) Bộ Tư lệnh Khu ra quyết định thành lập Trung đoàn 310, trên cơ sở Chi đội 10 để thống nhất với tổ chức quân đội toàn quốc.

– Tháng 4. Công An Biên Hòa khám phá tổ chức gián điệp của địch cài trong Ban Ca kịch “Thanh niên Bảo Quốc đoàn”.

– Tháng 5. Trung đoàn 310 trao trả tù binh là Trung úy Jeffrey tại bót Cây Đào. Việc làm này đã tăng cao uy tín và chính nghĩa của lực lượng kháng chiến.

– Tháng 6. Tiểu đoàn 303 (khu) đánh trận Đồng Lách (Thiện Tân): 11 lính Âu Phi xin hàng.

– Giữa năm. Tỉnh ủy Biên Hòa, trong Hội nghị BCH tại huyện Châu Thành tổ chức tại Cây Cầy (chiến khu Bình Đa), quyết định phân chia lại chiến trường: 1/ Các xã tả ngạn sông Đồng Nai, từ Bình Long, Lợi Hòa, Tân Phú đến Đại An (thuộc quận Tân Uyên) được chuyển giao về quận Châu Thành để tạo địa bàn đứng chân rộng hơn tiến công vào thị xã; 2/ Quận Châu Thành đổi tên là huyện Vĩnh Cửu; 3/ Xã Bình Trước lấy tên thị xã Biên Hòa.

– Tháng 7. Xứ ủy triệu tập Đại hội đại biểu toàn Nam bộ tại kinh Năm Ngàn (chiến khu Đồng Tháp). Đồng chí Lê Duẩn thay mặt Ban Thường vụ Trung ương Đảng chủ trì đại hội. Đại hội đã đánh giá và xác định nhiệm vụ: Đánh vào dự trữ chiến lược của địch và bảo vệ dự trữ kháng chiến.

– Thực hiện nghiệt quyết Đại hội đại biểu Xứ ủy, Khu ủy miền Đông, Bộ chỉ huy khu 7 chỉ đạo các tỉnh: 1/ Đánh mạnh vào hậu phương địch, gây cơ sở địch hậu, bóp hẹp vòng kiểm soát của chúng; 2/ Phá hoại trọng tâm kinh tế địch (cao su), cắt đường giao thông địch; 3/ Mở rộng khu giải phóng, kiến thiết căn cứ địa, dự trữ mùa màng của ta; 4/ Tích cực phòng địch, tiến hành địch ngụy vận, mở rộng công tác quốc dân thiểu số.

Đối với các nhiệm vụ trên, tỉnh Biên Hòa đã đạt được kết quả tính đến cuối năm 1948 như sau: 1/ Tiểu đoàn Quốc Tuấn, Quang Trung của Trung đoàn 310 ([1][15]) hỗ trợ du kích các xã chặn đánh phá giao thông địch trên các tuyến quốc lộ 1, 15, 20; Liên đoàn Cao su Biên Hòa đã huy động lực lượng công nhân chặt phá 26.000 ha vườn cao su, đốt đổ 252.797 kg mủ; 3/ Thành lập Phòng Quốc dân thiểu số, cử cán bộ hội nhập và vận động 3.200 người (trong tổng số 35.000 người Châu ro, Stiêng, Mạ, Chàm) các dân tộc ít người tham gia tích cực kháng chiến.

– Tháng 8. Đại đội chủ lực 2775 tấn công đồn Phước Lý do 1 đại đội địch đóng giữ: diệt 2 trung đội, thu 12 súng.

– Tháng 9. Các đại đội 2774, 2775, 2776 phối hợp với du kích Phước Thọ, Thái Thiện, Long Tân, Mỹ Hội liên tiếp bẻ gãy các cuộc càn diễn ra trong những tháng cuối năm 1948: diệt 150 tên Pháp và ngụy, thu 60 súng và đập tan âm mưu phá hoại mùa màng của địch.

* Du kích liên xã Phú Hữu – Phước Khánh (Long Thành) liên tục bao vây, bắn tỉa, khống chế bót Rạch Miễu và Rạch Miễng Sành suốt 1 tháng: địch phải bỏ bót mà rút.

(28 - 9) Bộ Tư lệnh Nam bộ mở Hội nghị Quân sự mở rộng bàn chủ trương của Xứ ủy về việc chuẩn bị mọi điều kiện để chuyển sang tổng phản công với phương châm “du kích chiến là chính, vận động chiến là phụ, đẩy mạnh vận động tiến tới”. Trong Hội nghị này, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ ủy đọc báo cáo nêu lên những nhiệm vụ cấp bách: chấn chỉnh lại bộ máy chỉ huy, xây dựng ba thứ quân, rèn luyện lại bộ đội, tổ chức bộ máy quân giới, quân nhu, gia tăng công tác chính trị địch vận, đẩy mạnh phong trào thi đua giết giặc lập công.

(8 – 14 - 12) Công nhân cao su Long Khánh phá 50 ha cao su, 28.000 chén mủ; công nhân An Lộc đã đốt nhà xông mủ, làm hỏng 64 xe goòng sắt, 25.7000 kg mủ gây thiệt hại trị giá 2 triệu đồng tiền Đông Dương.

– Cuối năm. Tỉnh ủy Biên Hòa chỉ định nhân sự thành lập Thị xã ủy Biên Hòa (sang đầu năm 1949, thành lập Ủy ban Hành chánh Kháng chiến thị xã Biên Hòa).  Bộ máy kháng chiến thị xã đặt ở 3 nơi: Khánh Vân, Bình Đa và Hố Cạn. Từ Hố Cạn (Tân Phong) Thị đội Biên Hòa xâm nhập vào Bàu Hang, xây dựng nơi này thành bàn đạp vững mạnh, đào hào chống xe cơ giới và đánh trả bọn biệt kích Pa - ren; và mặt khác từ Hố Cạn, xúc tiến việc xây dựng và phát triển cơ sở mật ở khắp khu vực nội ô: tiếp nhận sự ủng hộ vật chất của nhân dân thị xã cho kháng chiến, tiến hành công tác địch vận, ngụy vận, công tác thu thập địch tình.



([1][15]) Bấy giờ Chi đội 10 chuyển thành Trung đoàn 310; đầu năm 1949, Trung đoàn 310 Biên Hòa nhập cùng Trung đoàn 301 (Thủ Dầu Một) thành liên Trung đoàn 301 – 310. Vào năm 1951 khi nhập 2 tỉnh Biên Hòa - Thủ Dầu Một thành tỉnh Thủ Biên.

Comments