1951

1951

Cuối năm 1950, tình hình trên chiến trường Biên Hòa ngày càng gay go, lương thực, vũ khí ngày càng thiếu. Đầu năm 1951, tình hình chia cắt ở chiến trường Biên Hòa càng ngày càng căng thẳng. Hầu hết các xã vùng du kích đều bị giặc chiếm đóng, dân bị gom vào các khu tập trung gần lộ giao thông, gần đồn bót giặc. Địch tăng cường việc phục kích trên các tuyến giao thông lộ 1, 15, 16, 24, các xã dọc sông Đồng Nai để cắt đứt đường liên lạc vận chuyển tiếp tế của ta; mặt khác lùng bắt cán bộ, đảng viên bám cơ sở...

– Tháng 1. Đội vũ trang thị xã Biên Hòa cùng cơ sở mật quyết diệt tên Đỗ Văn Thiện (trung sĩ cảnh sát), một tên chỉ điểm gian ác có nhiều nợ máu với đồng bào thị xã. Tên Thiện bị trọng thương nhưng thóat chết.

* Do tình hình khó khăn, Xuân Lộc bị giặc chiếm, vùng giải phóng còn lại sáp nhập vào Xuyên Mộc, tỉnh Bà Chợ. Đại đội La Nha cùng các lực lượng công an, cán bộ Đảng, công đoàn của huyện Xuân Lộc thống nhất lại thành Đội Vũ trang tuyên truyền Xuân Lộc: đánh địch và đốt lò xông mủ cao su Tân Phong, phối hợp với bộ đội Bà Chợ đánh đoàn xe địch ở Trảng Táo, chận viện quân của địch ở trận Trảng Bom...

(8 - 2) Quân Pháp đột kích vào căn cứ Hố Cạn. Đồng chí Võ Văn Mén - Bí thư thị ủy Biên Hòa, bị tên Trường, phó ban tình báo thị xã phản bội làm nội gián cho phòng nhì Pháp, hạ sát. Sau đó, Tỉnh ủy phái đồng chí Trịnh Trọng Tráng (tức Trịnh Văn Bối) về thị xã củng cố lại tổ chức: lập Ban cán sự.

(11 - 2) Đảng Cộng sản Đông Dương họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai tại Việt Bắc. Đại hội đưa ra một quyết định quan trọng là đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam và Đảng ra công khai hoạt động. Đại hội cũng đã thông qua tuyên ngôn, chính cương và điều lệ của Đảng. Chính cương đã ghi: “Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là đành đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất hoàn toàn cho dân tộc, thủ tiêu chế độ thuộc địa trong vùng tạm chiếm, xóa bỏ các di tích phong kiến và nửa phong kiến làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho Chủ nghĩa xã hội.

(3 - 3) Đảng Lao động Việt Nam chính thức ra mắt quốc dân.

(3 – 7 - 3) Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh và Liên Việt hợp thành một mặt trận lấy tên là Mặt trận Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, gọi tắt là Mặt trận Liên Việt nhằm: “đảm bảo sự đoàn kết các tầng lớp nhân dân yêu nước để đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, can thiệp Mỹ và bọn tay sai”.

– Tháng 5. Theo quyết định của Trung ương Cục: Toàn Nam bộ được tổ chức thành 2 Liên Phân khu: miền Đông và miền Tây; tỉnh Thủ Biên được thành lập trên cơ sở hai tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa. Tỉnh Thủ Biên gồm bảy huyện: Hớn Quản, Bến Cát, Lái Thiêu, Thủ Đức, Tân Uyên, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc và hai thị xã : Thủ Dầu Một và Biên Hòa. (Cắt huyện Long Thành về tỉnh Bà Rịa – Chợ Lớn).

* Tỉnh Thủ Biên thành lập Tiểu đoàn 303 làm tiểu đoàn tập trung cơ động của tỉnh, gồm 746 cán bộ và chiến sĩ, do đồng chí Lê Văn Ngọc (Sáu Ngọc) làm Tiểu đoàn trưởng. Ở huyện Vĩnh Cửu (13 xã), du kích thóat ly mỗi xã từ 6 – 12 người, huyện Xuân Lộc, đội vũ trang có 126 cán bộ chiến sĩ.

* Lực lượng Công an tỉnh Thủ Biên thành lập trên cơ sở lực lượng Công an của Thủ Dầu Một và Biên Hòa do đồng chí Hồ Văn Đại làm Trưởng ty, Lê Văn Nâu, Nguyễn Văn Phát làm Phó ty.

* Tại Chiến Khu Đ, Ban căn cứ địa Nam bộ do đồng chí Đào Văn Quang phụ trách phối hợp với ban căn cứ địa tỉnh Thủ Biên do đồng chí Vũ Duy Hạnh chỉ huy xúc tiến xây dựng, mở rộng căn cứ, phát triển Chiến Khu Đ thành căn cứ của chiến trường Nam bộ.

* Tại Long Thành, địch giải tỏa lộ 15 đoạn từ Bà Ký lên Biên Hòa, đóng lại các bót Tam Phước, Tuy Long, Tập Phước; trên lộ 19 đóng bót Phước Thọ; ở rừng sác khôi phục các bót Phú Hữu và Phước Khánh (1 – 5 - 1951)... Trước tình hình đầy khó khăn đó, Tỉnh ủy Bà Chợ tăng cường cán bộ cho Long Thành nhằm khôi phục địa bàn chiến lược này.

– Tháng 6. Tỉnh ủy tăng cường thêm cán bộ Dân chính đảng để củng cố đội vũ trang tuyên truyền thị xã Biên Hòa: 132 cán bộ, chiến sĩ; chia thành 5 đoàn vũ trang tuyên truyền để xâm nhập vào thị xã, vùng nông thôn yếu để vừa diệt ác trừ gian, vừa xây dựng cơ sở bên trong, đánh địch tuần tiễu và xây dựng kinh tế cho Thị ủy. Đội vũ trang tuyên truyền (VT3) đảm nhiệm toàn bộ chức năng của Thị ủy, UB Kháng chiến hành chánh, thị đội, công an. Địa bàn thị xã Biên Hòa lúc này được mở rộng gồm 4 phường nội ô và 7 xã ven: Tân Bình, Tân Bửu, Tân Hiệp, Hiệp Hòa, Hóa An, Bửu Hòa, Tân Vạn.

(11 - 6) Tiểu đoàn 303 phối hợp với đội Biệt động và bộ đội đại đội Lam Sơn huyện Vĩnh Cửu tấn công bót Long Điềm (Long Bình) tiêu diệt bọn lính trong bót, đập tan âm mưu của địch khi chúng lợi dụng tôn giáo xây dựng lực lượng vũ trang (theo kiểu U.M.D.C của Bến Tre) chống phá cách mạng, thu hơn 50 súng các loại.

– Tháng 7. Tỉnh ủy Thủ Biên thành lập huyện căn cứ Đồng Nai trên cơ sở sáp nhập hai huyện Tân Uyên và Hớn Quản. Diện tích 3.700 km2, dân số 10.000 người; Đồng chí Lê Thái: Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chánh huyện, đồng chí Nguyễn Văn Tư: Huyện đội trưởng.

* Tỉnh ủy Bà Chợ điều đồng chí Nguyễn Trọng Cát (tức Ba Đắc) về làm Bí thư Long Thành và chỉ định thành lập Thường vụ Huyện ủy. Huyện ủy tổ chức cuộc họp các cấp ủy tại chiến khu Phước An để đề ra việc củng cố lực lượng vũ trang, phân công cán bộ huyện về phụ trách từng khu, củng cố các đoàn thể quần chúng. Đây là hội nghị cuối cùng được tổ chức trên đất chiến khu Phước An; sau đó, hầu hết các cơ quan huyện Long Thành phải phân tán sâu vào Rừng Sác hoặc dời sang phía Đông lộ 15 vào căn cứ Phú Mỹ, Hắc Dịch. Bộ đội Hồ Văn Long cũng rút sang Đông lộ 15 để củng cố lại. Vùng tự do cuối cùng của Long Thành đã lọt vào tay giặc.

(20 - 7) Đồng chí Huỳnh Văn Nghệ - Tỉnh đội trưởng Thủ Biên trực tiếp chỉ huy đội biệt động gồm 75 chiến sĩ cải trang thành công nhân cao su tấn công yêú khu Trảng Bom (nay thuộc địa phận huyện Thống Nhất); tiêu diệt 50 lính lê dương, phá hủy một số phương tiện quân sự của địch, thu nhiều vũ khí, lương thực, chiến lợi phẩm chuyển về Chiến Khu Đ. Đây là trận đánh đầu tiên của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ vào khu quân sự của thực dân Pháp, ảnh hưởng rất lớn trong vùng Biên Hòa, Bà Rịa: báo hiệu một bước phát triển mới của khả năng chiến đấu của lực lượng quân sự miền Đông.

Sau đó, giặc Pháp tái chiếm đồn Trảng Bom.

(20 - 8) Pháp mở cuộc hành quân “Gió Lốc” (Tourbillon) tại vùng Đồng Tháp, tịch thu 40 tấn muối, 2.000 tấn thóc, phá hủy 3.700 nhà lá.

– Tháng 9. Đại đội Lam Sơn và du kích huyện Vĩnh Cửu và đại đội Lê Hồng Phong sáp nhập thành bộ đội địa phương do Huyện đội Vĩnh Cửu trực tiếp chỉ huy. Đến tháng 12 - 1951, quân số có 157 chiến sĩ, gồm 3 trung đội khinh binh và 1 trung đội trinh sát đặc công: 1 trung đội đứng chân ở Bình Đa và 2 trung đội hoạt động ở Đại An, Định Tân.

(13 - 9) Quân đội giải phóng chống càn ở chiến khu Đ.

(16 - 9) Sau một tuần lễ hành quân, Pháp lập thêm 70 đồn từ Ba - Đông, Cà Mau tới miền duyên hải Trung Việt.

(20 - 9) Giặc Pháp mở cuộc hành quân lớn đánh chiếm chiến khu Phước An.

– Tháng 12. Thực dân Pháp coi tỉnh Thủ Biên là trọng điểm bình định. Toàn bộ địch ở miền Đông là 24.300 quân (trong số 120.000 quân toàn Nam bộ). Quân số ở Thủ Biên chiếm tỉ lệ như sau: 5/8 lính lê dương Âu Phi, 1/3 com-măn-đô, 1/4 xe cơ giới, 1/3 pháo binh.
Comments