Phần Lời bạt của Trần Bạch Đằng

LỜI BẠT

                                                                      TRẦN BẠCH ĐẰNG

 

Địa chí Đồng Nai là một bộ sách có quy mô lớn phản ánh tương đối toàn diện tiến trình hình thành mảnh đất này về mặt địa lý tự nhiên, về mặt lịch sử, về mặt kinh tế và văn hóa - xã hội. Thời gian thực hiện bộ sách cũng dài, đến 5 năm. Thời gian thực hiện dài tác dụng tích cực vào chất lượng của bộ sách, do phải điều chỉnh và hiệu đính nhiều lần, trong đó có cả những lần thay đổi cấu trúc, nghĩa là làm cho quan điểm biên soạn chững chạc hơn, khoa học hơn.

Một bộ địa chí ghi nhận và phân tích 300 năm mảnh đất từ khi mang tên là Biên Hòa - Đồng Nai cho đến cuối thế kỷ 20, đương nhiên không phải là một tập thống kê những gì gần chúng ta nhất. Vả lại, sự hình thành đất Đồng Nai, về phương diện địa chất, sinh thái cũng như về phương diện lịch sử nhân văn vốn dài hơn đất Đồng Nai nhìn từ giác độ địa lý hành chính.

Vấn đề quan trọng hàng đầu - mà cũng là mục đích cao nhất của việc biên soạn bộ địa chí - là giải đáp câu hỏi: Con người Biên Hòa - Đồng Nai là ai, môi trường sinh thái và môi trường nhân văn là gì, những cái đó tạo ra những cơ sở gì cho cộng đồng cư dân Đồng Nai phát triển và hòa hợp trong cộng đồng Nam bộ và Việt Nam nói chung, với những khía cạnh thuận lợi và khó khăn trước khi vùng đất này bước vào thế kỷ và thiên niên kỷ mới. Trong ý  nghĩa ấy, bộ Địa chí đã có những đóng góp nhất định, trên cơ sở những luận cứ khoa học và lịch sử, và nếu bộ Địa chí được rút ngắn thành một giáo trình tóm tắt dùng cho học sinh và sinh viên ở các trường trong tỉnh, tác dụng chắc chắn sẽ rất sâu. Tôi nhớ, thuở tôi còn học bậc sơ học ở Biên Hòa, Nha học chính Nam kỳ đã cho phép lưu hành như tài liệu tham khảo, tên là “Địa chí Biên Hòa” (Monographie de Biên Hòa), giúp cho chúng tôi những tiếp cận giản đơn nhưng cần thiết về tỉnh mà chúng tôi đang sống. Là một học sinh sơ học, tôi đã biết sông Đồng Nai phát tích từ cao nguyên Lâm Viên (Lang Biang), chảy về đông, nhận từ tả ngạn chi lưu La Ngà, từ hữu ngạn chi lưu Sông Bé, hợp lưu với sông Sài Gòn ở Nhà Bè... Thậm chí, lúc ấy Biên Hòa phân chia phía thượng du 11 tổng của đồng bào dân tộc và tên 11 tổng đó được ghi trong Địa chí. Đã 60 năm qua rồi, mà tôi vẫn nhớ làng Tân Phú nơi tôi cư ngụ thuộc tổng Phước Vĩnh Hạ, nằm ngay bên bờ sông Đồng Nai, gồm các xã - tôi có thể đọc thuộc làu - từ Bình Hòa lên đến Đại An.

Tất nhiên, người Pháp không nồng nhiệt lắm giới thiệu lịch sử nhân văn của tỉnh Biên Hòa, nhưng phần hình thế tự nhiên và phân chia địa lý hành chính vẫn có một tác dụng nhắc nhở...

Tôi hy vọng chúng ta không phải chỉ làm được như thế mà phải làm hơn như thế.

I

Biên Hòa - Đồng Nai ra đời đã rất lâu, tập Địa chí Đồng Nai cung cấp cho chúng ta một cái nhìn, nói theo ngôn ngữ văn học, từ thuở “khai thiên lập địa”. Ở Nam bộ, trong tình hình phân chia địa lý hành chính hiện nay, Đồng Nai là một tỉnh lưu giữ nhiều dấu vết của các thời kỳ xa xưa, qua các bộ tộc sống dưới chân dãy Trường Sơn. Biến Động về lịch sử con người không thay đổi căn bản sự hình thành xã hội ở đây, bởi lẽ nó thuộc vùng rừng rậm, nhiều núi non tuy không cao nhưng đi lại khá hiểm trở. Ngày nay, cũng rất khó khôi phục lại bức tranh cư dân dọc thượng lưu sông Đồng Nai mặc dù có những tài liệu cho thấy vương quốc Chămpa, vương quốc Chân Lạp, thậm chí vương quốc Lào cùng các tiểu vương quốc ở Nam Tây Nguyên từng đến ở đây mà không một vương quốc nào đứng vững lâu dài, trừ vương quốc Phù Nam, qua các phát hiện điền dã gần đây ở vùng Cát Tiên.

Sẽ rất lý thú nếu chúng ta ngược dòng thời gian để xác định người cổ đại có mặt trên vùng đất này từ lúc nào. Cuộc khai quật ở Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước) gần đây nhất phát hiện hai bộ đàn đá trong đó có một bộ còn nguyên vẹn và là bộ đàn đá nguyên vẹn duy nhất thuộc thời tiền sử của Việt Nam được tìm thấy từ trước đến nay

Theo các nhà khảo cổ học thì hai bộ đàn đá này có niên đại gần 3.200 tuổi. Như vậy, một mục tiêu nữa cho khảo cổ học tỉnh Đồng Nai nói riêng và vùng Đông Nam bộ nói chung hình thành dần  một bức sơ đồ về người cổ trên đất Việt cùng mối liên hệ của người cổ xưa ở phía Nam với phía Bắc đất nước, với vùng Đông Nam Á.

Người Việt đến Biên Hòa - Đồng Nai không phải là sớm nhất nhưng do tính liên hoàn của địa lý nước Đại Việt, lại là cư dân đông nhất và hình thành một xã hội - cùng với cả Nam bộ - hoàn chỉnh hơn hết. Chúng ta cũng chỉ có thể ước đoán rằng người Việt đến Biên Hòa - Đồng Nai lối 400 năm trước tức sau khi Nguyễn Hoàng vào trấn Thuận Hóa không bao lâu. Lúc ấy, người vào Biên Hòa tuy theo dòng Nam tiến nói chung nhưng vì vương quốc Chămpa còn làm chủ Nam Trung bộ và Tây Nguyên còn hai tiểu vương quốc Thủy Xá và Hỏa Xá nên trên đường bộ, chỉ có thể những nhóm di dân quy mô nhỏ, len lỏi vượt núi cao và rừng rậm, đầu tiên đến Bà Rịa (Mỗi Xuy) rồi triển khai về hướng Tây. Khi đoàn mà ta tạm gọi là “tiền trạm” này bắt đầu khai phá đất hoang, họ đã tổ chức những đợt di dân liên tục và thăm dò được đường đi nước bước bằng đường biển. Nam bộ coi như được phát hiện mà tụ điểm lớn là Biên Hòa. Nhưng nếu không có một “kích thích tố” mới - tôi nói nhóm người Hoa chống triều đình Mãn Thanh xin vào lập nghiệp ở Biên Hòa, thì công cuộc Nam tiến chắc phát triển có phần chậm hơn. Cù Lao Phố là nơi những người Hoa đặt chân đến, cùng lúc với Mỹ Tho và trước Mạc Cửu ở Hà Tiên. Chính tại đây, hai yếu tố - sản xuất nông sản hàng hóa và giao thương - đã tạo tiền đề cho Biên Hòa - Đồng  Nai nói riêng và Nam bộ nói chung như “Ngựa phi nước đại”. Quả là nếu có nông sản thừa nhưng giao thương không phát triển thì nền kinh tế của một địa phương khó đạt những kết quả lớn.

Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam, đất Biên Hòa - Đồng Nai đã khá hoàn chỉnh về dân cư và về sản xuất. Do vậy, Trấn Biên ra đời, cùng lúc với Phiên Trấn. Nói cách khác, nòng cốt cho bộ máy quản lý của Đại Việt ở miền cực nam bắt đầu từ hai vùng chủ yếu là Đồng Nai và Gia Định. Nói một cách khác nữa, đây là hai “bàn đạp” để nhân dân ta hoàn thành cuộc Nam tiến tận mũi Cà Mau.

 

II

Từ 1698 đến nay, trong 300 năm, địa lý hành chính của Biên Hòa - Đồng Nai luôn thay đổi. Thoạt tiên, đó là một dinh trấn thật rộng chạy từ bờ biển Bà Rịa đến biên giới nước Chân Lạp ở Tây Ninh, tính theo trục đông - tây; còn trục nam - bắc thì từ giáp giới với Tây Nguyên đến bờ sông Đồng Nai. Chế độ quản lý của chúa Nguyễn rồi của vua Nguyễn đã chia địa bàn ấy làm nhiều phủ, huyện, tổng, với những danh xưng khác nhau, nhưng về đơn vị tỉnh thì Biên Hòa không thay đổi lớn, nó chính là dinh Trấn Biên lúc sơ khai.

Mãi đến khi thực dân Pháp xâm lược, thì đơn vị hành chính tỉnh Biên Hòa vẫn như cũ, nó là một trong ba tỉnh của miền Đông Nam kỳ, nằm trong “Nam kỳ lục tỉnh”. Chính quyền Pháp, theo với sự ổn định cai trị lần hồi tách tỉnh Biên Hòa thành nhiều tỉnh: Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, cùng một số tổng quân quản. Bốn tỉnh này hợp với các tỉnh khác thành 21 tỉnh của Nam kỳ mà Biên Hòa mang số 13(*). Có một lúc phía Bắc tỉnh Biên Hòa, thuộc nơi hợp lưu với sông Là Ngà, người Pháp cho thành lập một tỉnh gọi là Đồng Nai Thượng, nhưng không tồn tại lâu. Điều ấy có nghĩa là trong một thời gian, Biên Hòa không làm nhiệm vụ trung tâm như thuở là Trấn Biên. Trong kháng chiến chống Pháp, chính quyền Pháp không thay đổi địa lý hành chính của 21 (hoặc 22) tỉnh này. Song chính quyền cách mạng do điều kiện giao thông trong chiến trường du kích hậu địch nên địa lý hành chính thường thay đổi. Biên Hòa có lúc nhập với Thủ Dầu Một gọi là Thủ Biên, Gia Định nhập với Tây Ninh gọi là Gia Định Ninh, Bà Rịa có lúc phải vượt sông Lòng Tàu nhập với chợ Lớn gọi là Bà Chợ, Vĩnh Long - Trà Vinh - Bến Tre thống nhất thành tỉnh Vĩnh Trà Bến, Long Xuyên và Châu Đốc khi gọi là Long Châu Tiền và Long Châu  Hậu, khi gọi là Long Châu Sa (cộng thêm Sa Đéc) và Long Châu Hà (cộng thêm Hà Tiên). Riêng Đồng Tháp Mười có lúc thành một khu đặc biệt cũng như phía Tây Bắc Long An ngày nay có lúc thành quân khu Đông Thành. Khi Mỹ thay cho Pháp, trước và sau nhân dân ta đồng khởi, Nam bộ được bố trí hoàn toàn theo kiểu tiểu khu quân sự. Trên địa bàn Đồng Nai, lúc ấy gồm tỉnh Biên Hòa, tỉnh Long Khánh và tỉnh Phước Thành. Tỉnh Bà Rịa hiện nay chia làm tỉnh Bình Tuy và lấy một phần của tỉnh Bình Thuận lập thành tỉnh Phước Tuy. Trên địa bàn tỉnh Bình Dương hiện nay, thêm tỉnh Hậu Nghĩa (gồm Củ Chi và Đức Hòa). Tỉnh Bình Phước hiện nay gồm tỉnh Bình Long và tỉnh Phước Long... Phần ta, cũng do chiến tranh và chiến trường du kích, phân chia địa giới thay đổi từng lúc. Biên Hòa vẫn giữ tên cũ suốt thời gian chống Mỹ, nhưng địa bàn thì khi rộng khi hẹp.

Sau giải phóng hoàn toàn tháng 4/1975, ranh giới hành chính các tỉnh Nam bộ lại nhiều lần thay đổi. Tỉnh Đồng Nai căn bản là từ phạm vi của tỉnh Biên Hòa, có thu nhỏ một phần.

Xét về quá trình phát triển, sự thiếu ổn định về ranh giới hành chính  đến đơn vị cấp tỉnh quả gây khó khăn nhiều hơn là thuận lợi. Không ít trường hợp “tách ra, nhập vào” chưa được cân nhắc kỹ và thiếu luận cứ khoa học. Nhiều nước, người ta ổn định địa giới hành chính một tỉnh có khi đến hàng 500 năm (*), mỗi khi cần phải điều chỉnh một tỉnh nào đó, người ta trao đổi rất kỹ, thậm chí có trường hợp phải trưng cầu ý dân. Chia địa giới hành chính một đơn vị tỉnh - và cả huyện, xã nữa - quyết không phải là việc làm ngẫu hứng, nhất là mang tình cảm địa phương. Tất cả nhu cầu quy định ranh giới một địa phương đều phải xuất phát từ lợi ích kinh tế, xã hội, có dính đến truyền thống quan hệ của các địa bàn trong lịch sử. Đó là cái mức hợp lý cao nhất.

Ngày nay, các tỉnh trong nước ta đã bắt đầu ổn định dần trong làn ranh được quy định, tất nhiên cái hợp lý chỉ có thể đến với những năm tháng mà địa bàn đó tồn tại và cư dân trên địa bàn đó chung sống trong phát triển. Việc phân chia địa lý hành chính đôi khi phải trả giá đắt, nên cần thận trọng.

III

Đồng Nai là một tỉnh bán sơn địa, với cao trình bằng các tỉnh miền Đông Nam bộ và vượt hơn các tỉnh còn lại từ thành phố Hồ Chí Minh xuống miền Tây. Trong địa lý hành chính hiện thời, Biên Hòa chỉ có vài hòn núi thấp, đúng ra là những ngọn đồi. Tuy nhiên, địa mạo chung của tỉnh nằm trong địa mạo của chân dãy Trường Sơn. Địa tầng gồm phần đất đá trên bề mặt, trừ các cù lao giữa sông Đồng Nai và phần đất hẹp chạy dọc theo tả ngạn sông Đồng Nai đến một phần lớn huyện Long Thành, Nhơn Trạch.

Cách đây hơn nửa thế kỷ, ngoại ô thị xã Biên Hòa (nay là thành phố Biên Hòa) là vùng rừng rậm, cây to. Lúc tôi còn bé, đêm còn nghe cọp gầm khi chúng đi tìm mồi hoặc uống nước trên suối. Thị trấn Cây Đào có lúc cọp vào tận hàng hiên. Ngay khi khởi nghĩa Nam kỳ đã nổ ra, rừng chồi còn lan tận ngã ba Bình Ý.

Một phần cư dân sống với rừng: đốn củi, xẻ gỗ, hái lượm trái cây rừng, nhổ nấm mối hoang, săn bắt thú rừng... Đó là những gì tôi đã thấy và đã cùng sống với rừng.

Tôi ghi nhận thực tế trên để tìm hiểu Biên Hòa ngay khi thế kỷ 20 đã trải qua 40 năm. Đồng Nai đi vào thế kỷ hiện đại với những đặc thù của một vùng đất không giống đồng bằng sông Cửu Long. Ruộng lúa nước trong tỉnh rất hẹp, năng suất thấp, lương thực tự túc của địa phương là rẫy: tỉa bắp, trồng khoai. Do vậy, người Biên Hòa nói chung ăn gạo đong. Nông sản của tỉnh trừ bưởi Biên Hòa và một số cây trái trên các cù lao, và ở vùng Long Thành, nói chung không phong phú. Bây giờ, cây trái Biên Hòa đã khác xưa, song đó là do một loại quy luật khác như tác động của sinh học, của khoa học kỹ thuật.

Cái biến đổi đầu tiên của Biên Hòa chính là các sở cao su. Một phần quan trọng của đất đai Biên Hòa dành cho cây cao su, từ Long Thành, Xuân Lộc. Ở đây, có khá nhiều sở cao su tư nhân, rộng thì cũng chỉ vài trăm héc ta, hẹp thì vài chục, mang tên những người chủ: Đốc phủ Võ Hà Thanh, Trưởng tòa Trần Quang Nghiêm, Trương Ngọc Thành, Trần Kim Ký, Khưu Hòa. Những người phu cao su ngoài từ miền Bắc là chính, có phần từ đồng bằng sông Cửu Long và nơi khác, tạo thành những cụm cư dân bán sức lao động, từ cạo mủ, sơ chế mủ, làm cỏ gốc cao su, lượm mủ vụn, lượm vỏ hột cao su, đào mương ngừa nạn cháy... Họ sống tập trung, theo chế độ lãnh lương hoặc công nhật hoặc lương tháng hoặc lương khóan. Đây là lực lượng làm kinh tế quan trọng trong tỉnh và sau này là lực lượng xã hội dự vào các diễn biến thời sự chung của tỉnh và đất nước.

Nét riêng thứ hai của Đồng Nai là công nhân trong một số xí nghiệp tương đối lớn vào thời đó, gần với công nghiệp như Hãng cưa BIF, thợ đề  pô Dĩ An (trước năm 1945, Dĩ An thuộc Biên Hòa), thợ và phu phục vụ bảo trì máy bay, thợ phục vụ trong ngành hỏa xa vì đường xe lửa xuyên Việt trải một đoạn khá dài trên tỉnh Biên Hòa.

Nét riêng thứ ba là tiểu thủ công nghiệp: lò thổi, lò gạch, lò gốm, lò đường, ép dầu phọng, lò lu, lò chén, hầm khai thác đá xanh và đá ong, đục khắc đá,... Dấu vết của sinh hoạt tiểu thủ công nghiệp này vẫn còn tận hôm nay, một số nơi chỉ còn là di tích nhưng một số nơi vẫn đang sống do Biên Hòa là một tỉnh mang đặc điểm tiểu thủ công nghiệp nên tại thị xã Biên Hòa, trước đây gọi là làng Bình Trước có một trường bá nghệ, như trường ở Thủ Dầu Một và ở Gia Định.

Nét riêng thứ tư là buôn bán nhỏ - bán cũng nhỏ mà mua cũng nhỏ. Trong tỉnh có rất nhiều chợ, hàng hóa tại chỗ là một số lâm sản, nông sản để đổi lấy các nhu yếu phẩm khác tối thiểu đối với người lao động: cá biển, cá đồng, nước mắm, dầu lửa, muối, vải v.v... Thương nghiệp - theo định nghĩa thô sơ của khái niệm này - là một phần trong đời sống của người dân Biên Hòa. Trong một chừng mực nhất định, nó kéo người dân ở nông thôn gần thành thị hơn qua giao lưu. Mặc dù đường giao thông chưa phát triển, phương tiện giao thông còn ít oi - tôi vẫn nói về tình hình cách nay hơn nửa thế kỷ - nhưng Biên Hòa là một tỉnh rất cao ráo, bằng đường lộ đá hay đường xe bò, việc vận chuyển và đi lại không đến nổi khó khăn lắm.

Nét riêng thứ năm là văn hóa vẫn đến tỉnh mặc dù là một tỉnh nghèo. Ngoài trường sơ học (6 lớp kể từ đồng ấu), đặc ở thị xã, ở Long Thành, ở Tân Uyên còn có một số trường liên xã như Bình Hòa. Còn trưởng tiểu học thì khá nhiều.

Trong phong trào Đông Dương đại hội, ở một số thị trấn, những người trí thức - phần lớn là các huynh trưởng hướng đạo - mở phòng đọc sách, đọc báo. Các chợ nông thôn ban ngày thì buôn bán, đêm đêm thì dừng vách cho các đoàn hát bội diễn. Tôi sinh ở đồng bằng sông Cửu Long nên thấy rõ nét riêng này khá đậm và đã tác động đến dân trí so với làng quê cũ của tôi. Từ đầu những năm 40, lại thêm các sân vận động và phong trào thể dục thể thao, tập hợp số thanh niên dự vào các cuộc thi đấu. Biên Hòa là tỉnh có rất nhiều đội banh chân đất, có đội cũng ít nhiều nổi tiếng như Tân Ba, Tân Phong... Trong tỉnh còn có đội chân giày hạng nhất (hạng nhất xếp sau hạng danh dự là đội Sân bay Biên Hòa).

Nét riêng thứ sáu mang tính nhân văn là Biên Hòa hội tụ dân tứ xứ, người dân Biên Hòa chính gốc, tức có mặt 400 năm trước, lần lần thành thiểu số so với dân số của tỉnh. Dân số cơ học của Biên Hòa và của các tỉnh Đông Nam bộ nói chung tăng mạnh nhất ở Nam bộ, gồm phu cao su từ phía Bắc, thợ đục đá và chạm khắc đá ở Gia Định, viên chức Nhà nước, v.v... Cái đặc trưng khá nổi  của người Biên Hòa là tính phóng khoáng, pha ít nhiều yếu tố “anh chị”. Cuối thế kỷ 19 và cho đến trước Cách mạng tháng Tám, Biên Hòa cùng với Thủ Dầu Một  và Củ chi là nơi giới giang hồ tụ tập, nhỏ là những người chuyên lùa bò của các sở cao su, lớn thì đảng cướp theo kiểu “nghĩa hiệp” lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo... Trong thời gian đó, Biên Hòa cũng là nơi số đông không đóng giấy thuế thân.

Nét riêng thứ bảy là Biên Hòa ở gần Sài Gòn, như là vùng phụ cận của Sài Gòn. Thành phố công nghiệp lớn ảnh hưởng không nhỏ đến phong thái của người dân trong tỉnh, bởi khá đông công nhân và lao động làm việc ở Sài Gòn nhưng mỗi chiều đi xe lửa về Biên Hòa là nơi cư trú của họ.

Những gì tôi vừa lược kê chỉ mang tính tượng trưng. Vả lại, còn một mảng rất rộng của tỉnh Biên Hòa mà tôi không có điều kiện tiếp cận là 11 tổng của đồng bào dân tộc.

Tuy nhiên, theo tôi, bức tranh sơ lược trên vẫn có thể giúp cho chúng ta giới thiệu được tốc độ công nghiệp hóa Biên Hòa - Đồng Nai hiện nay với tiền sử như vậy, Biên Hòa dễ hóa thân vào một môi trường khác. Sau đây, tôi xin được nói về môi trường đó.

IV

Từ tính chất của đất đai, từ truyền thống lao động của dân trong tỉnh và từ vị trí địa lý của tỉnh, Biên Hòa đi vào công nghiệp hóa có mặt thuận so với những tỉnh thuần nông, thiếu tài nguyên cho hoạt động công nghiệp, thiếu tay nghề.

Khi xuất hiện với tư cách là một phần đất của nước Đại Việt, Đồng Nai đã dựa vào thế mạnh tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp. Nông và lâm nghiệp trong tỉnh cũng là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho tiểu thủ công nghiệp và cho thương nghiệp.

Tuy nhiên tất cả tiềm năng ấy trong suốt nhiều trăm năm như một hiện tượng tự phát, do kiếm sống mà người dân Đồng Nai - Biên Hòa xoay sở. Trên kia tôi có nói đến Hãng cưa BIF, đề pô Dĩ An, Trường bá nghệ, ga xe lửa và sân bay hay hầm đá Bửu Long, khai thác đá ong v.v... nhưng cũng chỉ ở mức “đom đóm lập lòe”, liên quan đến chánh sách công nghiệp hóa của thực dân Pháp. Suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp lần thứ 2, Biên Hòa là trọng địa quân sự, kinh tế hầu như không phát triển bao nhiêu, ngay các sở cao su bát ngát của Pháp cũng thành một bộ phận của chiến trường. Phải đợi đến thực dân Pháp rút lui, người Mỹ mới đặt Biên Hòa, song song với giá trị quân sự là một trọng điểm công nghiệp. Khu công nghiệp Biên Hòa ra đời vào những năm chánh quyền Sài Gòn của Ngô Đình Diệm tương đối ổn định. Nó gồm một loạt xí nghiệp do nước ngoài đầu tư và mở rộng dần nhờ xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa khai thông cùng hai chiếc cầu chiến lược Đồng Nai và Sài Gòn. Về dịch vụ phải kể đến vai trò của Tổng kho Long Bình khi nhân dân Nam Bộ đồng khởi, vùng 3 chiến thuật mà Biên Hòa là sở chỉ huy thành chỗ béo bở nhất cho những “ông tướng vùng”. Khu công nghiệp Biên Hòa được nối dài với Khu công nghiệp Thủ Đức, đó chính là tiền thân của vùng công nghiệp trọng điểm phía Nam hiện nay. Vùng công nghiệp đó sa sút sau 1975, lý do chính là chánh sách của chúng ta. Mãi khi đổi mới tiến được một số năm, vùng công nghiệp này mới hồi sinh. Bây giờ nó thêm một số khu công nghiệp khác hiện đại hơn như Khu công nghiệp Biên Hòa 2 trên đất của Tổng kho Long Bình cũ, Khu công nghiệp Nhơn Trạch và các xí nghiệp ở Long Thành. Các sở cao su cũng đã phục hồi từng bước, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến cao su. Đó là ta chưa nói công nghiệp chế biến của Biên Hòa từ sau đổi mới đến nay phong phú hẳn lên với Nhà máy đường Là Ngà công suất lớn, với ngành chế biến cà phê, hạt điều và nhiều ngành khác nữa.

Chính phủ đã xem khu kinh tế trọng điểm miền Đông Nam bộ là năng động nhất nước ta, nó như một chiếc quạt xòe mà ba cánh lớn là Bình Dương, Biên Hòa, Vũng Tàu và hạt nhân là Thành phố Hồ Chí Minh.

Rõ ràng Biên Hòa trở thành một giác trong tứ giác công nghiệp - dịch vụ phát triển nhất miền Đông Nam bộ.

Vùng kinh tế phát triển năng động nhất trong đó có Biên Hòa, theo số liệu thống kê từ 1996 đến 1999 cho thấy GDP của vùng bình quân đã tăng 10,34% năm so với 6,3% năm của cả nước; giá trị sản xuất công nghiệp xây dựng tăng bình quân 14,15% năm trong khi cả nước tăng 9,74% năm. Riêng giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 15,28% năm (cả nước tăng 12,13% năm). Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam này đã đóng góp từ 28 - 30% tổng GDP cả nước, 80% tổng kim ngạch xuất khẩu và gần 60% tổng thu ngân sách. Toàn địa bàn có 32 khu công nghiệp, khu chế xuất, tổng số vốn đầu tư  5,32 tỷ USD và hơn 12.182,6 tỷ đồng, một số cảng sông, cảng biển, Quốc lộc 51 được nâng cấp. Tổng nguồn vốn đầu tư cho cả vùng trong giai đoạn 1996 - 1999 lên đến 146.000 tỷ đồng (trong đó vốn nhà nước 50%, vốn nhân dân 30%, vốn đầu tư nước ngoài 20%). Đây là vùng đã vượt qua ngưỡng cửa đói nghèo tuy vẫn còn thấp - đạt bình quân 955  USD/người/năm, cao hơn thu nhập bình quân chung của cả nước.

Sự phát triển kinh tế của Đồng Nai - Biên Hòa có nguồn gốc lịch sử sâu xa, thừa kế cả một quá khứ lâu dài tuy còn đơn sơ nhưng không có nó thì Biên Hòa khó đạt được bình độ như hiện nay. Con người, lòng đất Biên Hòa và vị trí địa lý của nó chính là những tác giả lập nên thành tích công nghiệp hóa hiện nay và cả lâu dài.

Vấn đề đặt ra là Đồng Nai - Biên Hòa còn có thể tiến nhanh hơn không cũng như làm thế nào để “Biên Hòa hóa” toàn bộ địa bàn tỉnh Đồng Nai? Đây là một đòi hỏi nghiêm túc. Với một công trình địa chí tổng quát, các tác giả chỉ giới hạn trong phạm vi nêu vấn đề, còn phân tích và xử lý nó phải thuộc về những cơ quan nghiên cứu cụ thể. Dù sao vẫn cần phải nắm cho được bản chất của Biên Hòa, điều quyết định hàng đầu.

V

Lịch sử đấu tranh của nhân dân Đồng Nai - Biên Hòa chưa được một tài liệu nào phản ánh thời gian khai phá của các bộ tộc. Ngay thời gian người Việt có mặt, lịch sử đấu tranh ấy vẫn còn khá mờ nhạt, dù là chống với thiên nhiên, tạo điều kiện để an cư lạc nghiệp. Những nhà viết sử trình bày khá đơn sơ khi Trấn Biên ra đời. Chính sử nặng về tổ chức hành chính thuở ban đầu của Trấn Biên cùng những lần xuất kích vượt biên giới sang yểm trợ cho vương triều Chân Lạp chống với người Xiêm. Đây là một khoảng trống mà các nhà khoa học Biên Hòa - Đồng Nai cần san lấp để cho lịch sử đấu tranh của một địa phương sớm đi vào bản đồ Đại Việt được hoàn chỉnh.

Ngày nay chúng ta biết lịch sử đấu tranh của Biên Hòa - Đồng Nai một chừng nào đó khi đối đầu với thực dân Pháp giữa thể kỷ 19. Trong thực tế, chủ yếu cũng chỉ nhắc đến quan quân của triều đình, khi rút khỏi Sài Gòn, chống cự một thời gian với pháo hạm và bộ binh của Pháp. Lịch sử được đặc tả từ đầu thế kỷ 20, song chủ yếu từ 1930. Tư liệu 15 năm trước Cách mạng tháng Tám cũng không được phong phú lắm, ngay với công nhân đồn điền cao su, công nhân Hãng cưa BIF, có lẽ trừ công nhân đề pô Dĩ An.

Biên Hòa là nơi người cộng sản có mặt khá sớm. Ở đây đã hình thành một số trung tâm có ý nghĩa khơi dậy một phong trào quần chúng chiến đấu dưới cờ của Đảng Cộng sản. Tôi đã chứng kiến cao trào Đông Dương đại hội tại Bình Ý, một trong những trung tâm vừa nói. Khởi nghĩa Nam kỳ nổ ra tại đây, từ Tân Uyên, Tân Ba, Tân Vạn đến Bình Hòa, Bến Gỗ, Long Thành, nghĩa là khá đều. Khởi nghĩa thất bại, lực lượng yêu nước và nồng cốt bị tổn thất nặng nề. Những nhân vật tiêu biểu cho phong trào cách mạng của tỉnh như Nguyễn Văn Nghĩa, Huỳnh Văn Lũy, Nguyễn Văn Ký, Nguyễn Văn Thuận... lần lượt bị bắt, bị đày hoặc bị tập trung lên Tà Lài, Bà Rá. Có người hy sinh ngoài Côn Đảo như  Nguyễn Văn Địch - cha của đại tá Nguyễn Văn Quảng - có người bị quản thúc lâu dài ở Tân Uyên như Huỳnh Văn Lũy, có người vốn là quê ở Biên Hòa nhưng hoạt động nơi khác giữ chức trách cao như Nguyễn Văn Kính - quê Bến Gỗ, người có Pháp tịch, tham gia Xứ ủy và bị kết án tử hình nhưng được giảm án vì là “người Pháp”. Có trường hợp dân gian đã huyền thoại hóa một số cán bộ cộng sản như Nguyễn Văn Nghĩa - họ cho Nguyễn Văn Nghĩa biết tàng hình! Nguyễn Văn Nghĩa là Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa và Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Biên Hòa năm 1945 và đã hy sinh năm 1946. Hoàng Minh Châu cũng là một nhân vật  nổi tiếng trước và sau Cách mạng tháng Tám, đã hy sinh...

Cuộc Cách mạng tháng Tám là cơn quật khởi mang tính quần chúng rộng rãi nhất của Biên Hòa. Trong những lá cờ đầu, phải kể đến Huỳnh Văn Nghệ. Cũng như Sài Gòn, tỉnh bị Pháp tái chiếm khá sớm và cuộc kháng chiến bắt đầu với chiến khu Đ nổi tiếng, với những đơn vị vũ trang đã làm nên một La Ngà vang dội. Trong 9 năm kháng chiến chống  Pháp, Biên Hòa và đặc biệt chiến khu Đ đã thành “thánh địa” của nhân dân yêu nước khắp Nam bộ. Bộ Tư lệnh Kh 7, trung tướng Nguyễn Bình đặt sở chỉ huy trên địa bàn tỉnh. Chi đội 10 là một trong những chi đội do Đảng Cộng sản lãnh đạo vào thời kỳ đầu, nơi đào tạo những cán bộ chỉ huy quân sự cho Nam bộ và cho cả nước không chỉ trong cuộc kháng chiến chống Pháp mà sau đó.

Lực lượng kháng chiến gồm trước hết là công nhân cao su, những người lao động, học sinh, trí thức.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Biên Hòa là nơi nhen nhóm những lực lượng đầu tiên cầm vũ khí tự vệ chống Ngô Đình Diệm, và cùng với các tỉnh Đông Nam bộ là căn cứ của suốt cuộc kháng chiến 21 năm đó với trung tâm Mã Đà khắc nghiệt về khí hậu. Biên Hòa cũng là đầu cầu nối liền Nam Trung bộ nói chung cho đường tiếp viện của miền Bắc đối với tiền tuyến lớn...

Lịch sử 30 năm kháng chiến tương đối đủ để cho các thế hệ hiểu được cái hy sinh, cái anh hùng của một tỉnh mà mức gian khổ không nơi nào sánh bằng: đói cơm, lạt muối, sốt rét, rắn độc, muỗi vắt cùng ác thú trên một địa hình đồi dốc chập chùng. Cơn lũ 1952 tàn phá kinh khủng chiến khu.

Sau 1975, cái khó khăn vẫn còn đeo đẳng cho đến ngày đất nước ta thực hiện đổi mới. Ngày nay, nhân dân Biên Hòa - Đồng Nai đang đứng trong một đội hình chiến đấu mới vì dân giàu, nước mạnh. Là một giác trong tứ giác trọng điểm phát triển phía nam - và cũng là khu kinh tế năng động nhất nước - đương nhiên Biên Hòa - Đồng Nai thừa hưởng công sức của tiền nhân, truyền thống văn hóa của dân tộc, được chi viện của Thành phố Hồ Chí Minh, Nam bộ và cả nước. Biên Hòa - Đồng Nai là một trong những địa phương mà tổng sản phẩm chia cho đầu người thuộc hàng cao nhất nước. Không có tài phép gì biến đổi Biên Hòa - Đồng Nai chỉ trong vòng 10 năm đã vượt qua ngưỡng cửa đói nghèo, tấp nập bước vào thế kỷ công nghiệp hóa và đô thị hóa. Sự chi viện của lịch sử là vô giá.

Tôi xin nói thêm một khía cạnh nữa của Biên Hòa - Đồng Nai. Ấy là lực lượng người miền Bắc di cư sau năm 1954. Chính quyền Mỹ và Ngô Đình Diệm xem Biên Hòa - Đồng Nai như chiếc áo giáp che cho Sài Gòn từ phía đông bắc. Bởi vậy, chính quyền Sài Gòn đã bố trí nhiều tầng xóm làng di cư, thọc sâu vào rừng rậm, làm hành lang giữ an toàn cho Quốc lộ I, Quốc lộ 51 và Quốc lộ 20. Cả một vùng rộng lớn từ Dầu Giây đến ngoại ô thành phố Biên Hòa, cư dân chủ yếu là người miền Bắc. Nhà thờ mọc lên san sát. Hố Nai từng nổi tiếng một thời của những người cực đoan chống cách mạng, chống phong trào yêu nước.

Thế nhưng những tác giả về chiến lược bố phòng này không lường hết cái hệ quả trên nhiều bình diện. Một vùng đất nói chung còn hoang sơ đã được khai phá, khoa học kỹ thuật lại giúp cho vườn cây ăn trái của những người định cư thêm phát triển. Đất trồng trọt được triển khai thêm chiều sâu, không chỉ quảng canh mà thâm canh. Một khía cạnh khác là hàng 20 cây số, làng xóm thưa thớt xưa kia đã thành khu phố đô thị, ở đây thị trấn công nghiệp đã thay đổi mức sống và nếp sống của người dân cộng với dịch vụ, buôn bán hết sức sầm uất, nó thừa hưởng những gì từ Tổng kho Long Bình tuồn ra và cung cấp trở lại những nhu cầu của binh sĩ trong Tổng kho và binh sĩ ở các căn cứ của quân đoàn 3.

Lần hồi, tính cách biệt lập của vùng di cư mất dần ý nghĩa thù địch với người địa phương, một sự xen kẽ - có nghĩa là một sự hòa hợp - lan tỏa tương đối nhanh ngay trước ngày toàn thắng của cách mạng. Cả một vùng rộng lớn như thế không chỉ biến đổi về trình độ sản xuất mà chính từ sự biến đổi của trình độ sản xuất ấy đã vô hình biến đổi về ý thức của nhiều trăm ngàn dân, cả phong trào lẫn tổ chức yêu nước bám rễ và nảy nở. Ngày  nay, huyện Thống Nhất không còn lưu giữ bao nhiều dấu vết của một thời kình chống mà đã trở thành một bộ phận trong đường đi lên của tỉnh, một bộ phận rất năng động.

Chính truyền thống dân tộc cuối cùng đã can thiệp vào một biến cố mà đôi khi ta ngỡ là rất khó hòa giải. Nếu xét về lịch sử nhân văn của Biên Hòa - Đồng Nai, đây chính là một trong những điểm đáng trân trọng.

Tổi đã cố gắng có một cái nhìn tổng quát về tỉnh Đồng Nai, đúng hơn về tỉnh Biên Hòa. Những phần trong tập địa chí đã giới thiệu khá chi tiết. Công việc của tôi là rút ra từ một thực tế bề bộn vài kết luận, coi như những nhận xét sơ bộ và cũng sơ lược.

Tập Địa chí  này ra đời khi chúng ta sắp bước vào thế kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ ba. Tương lai của Việt Nam vào thời đại mới chắc chắn không kém vẻ vang hơn quá khứ. Biên Hòa - Đồng Nai, một trong những mũi nhọn của vùng, của Nam bộ và của cả nước hứa hẹn một bước tiến vượt bậc trong những năm, những thập niên sắp tới. Bước tiến vượt bậc và ngoạn mục. Biên Hòa - Đồng Nai không bằng lòng với những gì mình đã làm được mà nghĩ đến những gì mình phải làm được.

Hành trình của tỉnh từ một mảnh đất khô cằn, nghèo, cực kỳ nghèo nữa trong một số năm đã đạt tốc độ phát triển như chúng ta đã biết, tốc độ cả về quy mô lẫn chất lượng, về cơ sở vật chất kỹ thuật lẫn văn hóa xã hội. Nổi lên hàng đầu là sự trưởng thành của con người Biên Hòa - Đồng Nai. Lịch sử đã tin cậy con người  Biên Hòa - Đồng Nai. Lịch sử sẽ mãi mãi giữ niềm tin cậy ấy. Lớp trẻ Đồng Nai nhất định phải giỏi hơn cha ông mình. Giỏi hơn về tài năng, về sáng tạo đồng thời phải cố gắng bằng cha ông mình về đức độ, phẩm chất.

Tôi đinh ninh cứ một năm qua, Biên Hòa - Đồng  Nai sẽ mới hơn, mạnh hơn, đẹp hơn. Đó là sự đền ơn đáp nghĩa đối với những người đã ngã xuống cho Biên Hòa - Đồng Nai vươn lên.

Tại sao lại không được như vậy?

                                                                           1/2000



(*) Tôi chưa hiểu vì sao người Pháp xếp trật tự 21 tỉnh của Nam bộ có vẻ không theo một quy luật nhất định. 21 tỉnh đó được dân chúng thuộc lòng giống như một câu vè, mỗi tỉnh lấy chữ đầu và từ Gia Định mang số 1 cho đến Bạc Liêu mang số 21: Gia, Châu, Hà, Rạch, Trà, Sa, Bên, Long, Tân, Sóc, Thủ, Tây, Biên, Mỹ, Bà, Chợ, Vĩnh, Gò, Cần, Sài, Bạc. Mãi sau này, có lúc người Pháp nâng tổng số tỉnh lên 22 và mang số 22 là Cấp, tức Cap Saint Jacques (thành phố Vũng Tàu ngày nay).

(*) Ví dụ Trung Quốc, việc hình thành địa giới các tỉnh đã từ lâu, những tỉnh mà ta biết như hiện nay đề­u có lịch sử riêng theo điề­u kiện đặc thù của Trung Quốc, sau này thêm những đơn vị hành chính mới nhưng là các khu tự trị hoặc các thành phố trực thuộc Trung ương ngang tỉnh. Một tỉnh mới nhất với địa lý biệt lập là tỉnh Hải Nam. Nước Pháp tổ chức thành 90 đơn vị tương đương với tỉnh cũng đã mấy trăm năm. Mỹ từ ngày lập quốc cách nay 223 năm, dựa trên cơ sở những quốc gia riêng lẻ để hình thành một hợp chủng quốc gồm 50 bang. Nước nga cũng tương tự.

Comments