A. Địa tầng

ĐỊA TẦNG

Nội dung

  1. 1 I. Hệ Trias, thống trung, bậc Anizi. Hệ tầng Châu Thới (T2act):
  2. 2 II. Hệ Jura, thống hạ. Hệ tầng Draylinh (J1dl):
  3. 3 III. Hệ Jura, thống trung. Hệ tầng La Ngà (J2 ln):
  4. 4 IV. Hệ Jura, thống thượng. Hệ tầng Long Bình (J3 lb):
  5. 5 V. Hệ Creta, thống thượng. Hệ tầng sông Lá Buông (K2 slb):
  6. 6 VI. Hệ Neogen, thống Pliocen, phụ thống thượng. Hệ tầng Bà Miêu (N22bm):
  7. 7 VII. Hệ Neogen, thống Pliocen - hệ Đệ tứ, thống Pleistocen, phụ thống dưới. Hệ tầng Túc Trưng ( bN2 - QItt):
  8. 8 VIII. Hệ Đệ tứ - phụ thống Pleistocen hạ, phần trên. Hệ tầng Trảng Bom (aQI3tb):
  9. 9 IX. Hệ Đệ tứ - phụ thống Pleistocen trung. Hệ tầng Xuân Lộc (bQIIxl):
  10. 10 X. Hệ Đệ tứ - phụ thống Pleistocen trung - thượng. Hệ tầng Thủ Đức(aQII-III1tđ):
  11. 11 XI. Hệ Đệ tứ - phụ thống Pleistocen thượng, phần dưới. Hệ tầng Sóc Lu: Trachyandesit (tabQIII1sl):
  12. 12 XII.  Hệ Đệ tứ - phụ thống Pleistocen thượng, phần giữa. Hệ tầng Phước Tân (bQIII2pt):
  13. 13 XIII. Hệ Đệ tứ - phụ thống Pleistocen thượng, phần trên. Hệ tầng Củ Chi (aQIII3cc):
  14. 14 XIV. Hệ Đệ tứ - phụ thống Holocen hạ - trung (QIV1-2): gồm 2 thành tạo:
    1. 14.1 XIV.1 Trầm tích nguồn gốc sông:
    2. 14.2 XIV.2. Trầm tích nguồn gốc sông biển:
  15. 15 XV. Hệ Đệ tứ - phụ thống Holocen trung - thượng (QIV2-3): Gồm 3 kiểu nguồn gốc:
    1. 15.1 XV.1. Trầm tích sông:
    2. 15.2 XV.2. Trầm tích sông - đầm lầy:
    3. 15.3 XV.3. Trầm tích sông - biển:
  16. 16 XVI. Hệ Đệ tứ - phụ thống  Holocen thượng (QIV3): gồm 2 kiểu nguồn gốc:
    1. 16.1 XVI.1. Trầm tích biển đầm lầy:
    2. 16.2 XVI.2. Trầm tích nguồn gốc sông suối:
  17. 17 XVII. Hệ Đệ tứ không phân chia:

Các đá phân lớp của vỏ trái đất được phân chia và tập hợp từng nhóm lớp thành những phân vị (đơn vị) địa tầng. Chúng là các dấu ấn phản ánh lịch sử phát triển và đời sống của vỏ trái đất trên những khu vực nhất định, ít nhiều đều có liên quan với các khoáng sản.

Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 15 phân vị địa tầng, tuổi từ Trias giữa đến ngày nay.

I. Hệ Trias, thống trung, bậc Anizi. Hệ tầng Châu Thới (T2act):

Hệ tầng Châu Thới [4,16] gồm 3 phụ hệ tầng lộ ra với diện tích không lớn (1- 2 km2) ở Bửu Long, Cầu Hang, Nhơn Trạch.

- Phụ hệ tầng dưới: được thấy qua mặt cắt núi Bửu Long và mặt cắt vùng Nhơn Trạch. Ở Bửu Long gồm cuội kết, tảng kết lộ ra từ sườn Tây Nam núi Bửu Long tới sát mép sông Đồng Nai. Cuội có thành phần đa khoáng gồm diorit, plagioclanit-biotit, ryolit, ryodaxitphorphyr, đá sừng thạch anh felspat, granitogơnei, silic, đá phiến thạch anh mica, đá hoa. Kích thước thay đổi từ 2 - 3 cm đến 30 - 40 cm đôi khi 70 cm. Độ mài tròn không đồng nhất, từ kém đến tốt. Xi măng gắn kết là cát kết tuf, cát sạn kết tụ đôi khi có chứa carbonat. Phân lớp dày, dạng khối. Xen trong cuội kết, có ít lớp kẹp cát kết, sỏi kết arkos. Cát kết arkos có thành phần mảnh vụn 20 -25% gồm plagiocla 5 - 10%, thạch anh 2%, mảnh đá phun trào axit 13 - 15%, ít mảnh đá phun trào trung tính. Phần nền chiếm 80 - 85% gồm thủy tinh phân hủy, thạch anh, felspat bị sericit và clorit hóa. Kết quả phân tích hóa của cát kết arkos: SiO2 = 67,8%, Al2O3 = 15,6%, FeO = 0,68%, Fe2O3 = 2,44, TiO2 = 0,66, CaO = 2,86, MgO = 0,8%, MnO = 0,06, SO3 = 0,01%, Na2O = 3,92%, K2O = 3,52%, H2O = 0,18%, MKN=2,21. Chưa rõ quan hệ dưới. Bề dày ước tính trên 150 m.

Ở Nhơn Trạch, mặt cắt lộ dài trên 1km ở moong khai thác Hang Nai gồm cuội kết. Kích thước cuội thay đổi từ 3 - 5 cm - 10 cm. Độ mài tròn trung bình, độ chọn lọc kém. Cuội có thành phần đa khoáng: sạn kết tuf andesit, granodiorit - biotit porphyr, granit có biotit hạt vừa, đá phiến sét sericit - silic nhiễm oxyt sắt. Chúng bị phủ bởi cát kết tuf của phụ hệ tầng giữa. Chưa rõ quan hệ dưới. Dày trên 100 m.

- Phụ hệ tầng giữa: lộ ra ở trung tâm khu đồi Bửu Long, Cầu Hang. Ở Bửu Long, mặt cắt gồm chủ yếu là cát kết arkos xen ít lớp cuội kết, tuf ryodaxit, chuyển lên trên có các thấu kính bột sét kết phân lớp dày. Dưới kính hiển vi, cát kết arkos có cấu tạo khối, kiến trúc cát hạt không đều, nền sét hydroxyt sắt carbonat. Thành phần mảnh vụn chiếm 40 - 65% gồm: plagioclas 40%, thạch anh 20%, biotit bị clorit hóa 3%, felspat kali 2%. Nền chiếm 35% gồm sét sericit hóa, muscovic hóa, biotit hóa carbonat. Các tập cát kết cắm về phía Đông Nam, góc dốc 200. Chúng chuyển tiếp rất rõ với tập cuội kết cơ sở ở phụ hệ tầng dưới và tập phiến sét của hệ tầng trên. Dày 100 m.

Tại vùng Cầu Hang (Nhơn Trạch), mặt cắt gồm các tập cát kết tuf, tuf riolit màu xám sáng cấu tạo khối rất cứng chắc. Thành phần khoáng vật gồm: felspat bị sericit hóa, sét 72 - 70%, thạch anh: 38 - 40%. Thành phần hóa học: SiO2 = 80,46%, Al2O3 = 12,43%, FeO = 0,4%, Fe2O3 = 0,28%, TiO2 = 0,11%, CaO = 0,24%, MgO = 0,3%, MnO = 0,01%, SO3 = 0%, P2O5 = 0,03% Na2O = 0%, K2O = 3,9%, H2O = 0,01%, MKN = 1,66%. Dày 90 - 100 m.

- Phụ hệ tầng trên: lộ ra ở Đông Bắc đồi Bửu Long, đồi Châu Thới, đoạn Cầu Hang, Cầu Ghềnh. Thành phần thạch học gồm các lớp, tập đá phiến sét bột kết, đá phiến sét, cát bột kết nằm xen kẽ nhau màu xám đen có chứa carbonat. Ở phần thấp của mặt cắt có các lớp mỏng hoặc thấu kính cát sạn kết thành phần phun trào axit, bột kết arkos màu xám nhạt chứa nhiều hóa thạch: Bulosites multinodosus (Huer), Gymotoceras cf blackei (Gabb); các hóa thạch chân rìu: Daonella ex gr Lommeli Wism, Posidonia sp., Daonella lindstaoemi Mojs; các hóa thạch Cúc đá: Batatonites if Balatonicus Mojs định tuổi Anizi. Chúng chuyển tiếp trên cát kết arkos của phụ hệ tầng giữa, bị phủ bất chỉnh hợp bởi tảng - cuội kết cơ sở của hệ tầng Di Linh. Dày 150 m.

Đặc điểm chung của hệ tầng: diện phân bố nhỏ. Thành phần gồm tảng - cuội kết đa khoáng, cát kết tuf, cát kết arkos, tuf ryodaxit và phiến sét, bột kết xám tro đến xám tối. Các đá có thế nằm thoải (15 - 300), dày 350 - 400 m. Các đá thuộc phụ hệ tầng dưới được khai thác làm vật liệu xây dựng và đá tạc, các đá phụ hệ tầng trên được sử dụng làm đá ốp bên ngoài các công trình.

II. Hệ Jura, thống hạ. Hệ tầng Draylinh (J1dl):

Hệ tầng Draylinh [4,21] gồm 3 phụ hệ tầng. Trong phạm vi tỉnh Đồng Nai hệ tầng Draylinh được thấy gồm 2 phụ hệ tầng:

- Phụ hệ tầng giữa: lộ ra ở Hố Nai, dọc sông Bé, Đại An, Trị An. Từ bờ phải sông Bé, cách ngã ba sông Bé - sông Đồng Nai 2,7 km theo hướng Tây tới suối Cai là cát kết màu xám phân lớp dày 50 - 70 cm (bề dày chung > 50 - 70 m) chưa rõ quan hệ dưới; bột kết màu xám chứa vôi phong hóa màu nâu vàng (dày 30 - 40 m) sét kết chứa vôi màu xám xanh, dòn, phân lớp mỏng (dày 40 - 50 m). Trong bột kết có chứa các hóa thạch biển định tuổi Jura sớm, bậc Toaci. Các đá có dạng nằm nghiêng về phía Đông, góc dốc 50 - 600. Bề dày chung khoảng 140 - 160 m.

Từ thác Trị An tới Đại An là các đá cát kết xám đen phân lớp dày xen các lớp bột kết và sét kết chứa vôi.Cát bột kết có kiến trúc cát bột ximăng lấp đầy, cấu tạo khối. Trong cát bột kết, mảnh vụn chiếm 60 - 64% gồm thạch anh 48 - 52%, plagioclas 4 - 5%, vụn đá silic 4 - 3%. Ximăng 40 - 36% gồm sericit, silic, oxit sắt.

Sét bột kết vôi có kiến trúc sét bột xi măng cơ sở, cấu tạo định hướng. Khoáng vật sét nhiễm ôxyt sắt 43 - 44%, carbonat 25 - 26%, bột kết thạch anh 30 - 32%. Trong cát kết có nhiều kết thạch silic, dạng budinaz (sâu chuỗi) với kích thước đôi khi tới 1 m. Các đá bị uốn lượn mạnh với góc dốc phổ biến 30 - 700, đôi nơi dốc đứng. Theo phương á kinh tuyến, các đá bị nén ép khá mạnh, bị xuyên cắt bởi các mạch điorit và andezit bị biến đổi. Ở đầu suối Long Nguyên, trong sét bột kết chứa vôi có chứa Cúc đá được Vũ Khúc xác định là Asteroceras (?) sp.indet, Coriniceras cf. Rotiforme Sowerby tuổi Jura sớm bậc Sinemur. Chưa rõ quan hệ dưới. Dày > 250 m.

- Phụ hệ tầng trên lộ ra ở khu vực lâm trường Mã Đà, khu kinh tế mới Cây Gáo, Thiện Tân. Phần dưới gồm cát kết, bột kết chứa vôi phân lớp dày chứa phong phú hóa thạch định tuổi Toaci sớm. Phần trên chủ yếu là đá phiến sét vôi phân lớp dày xen ít lớp bột kết chứa vôi và nhiều hóa thạch Cúc đá: Gramneoceras cf. Lodncensis Sato, Dumortieria Lantenoisi (Mansuy), Crassiceras sp., Catulloceras cf.decrmotteri (Thiollier); Chân rìu: Parramussium donaiense (Mansuy), Integricatium cf.Subglobosum Hayami định tuổi Toaci muộn. Các đá của hệ tầng bị vò nhàu, có nhiều thớ chẻ bị uốn nếp mạnh tạo thành nhiều nếp lồi, lõm nhỏ theo phương á kinh tuyến, góc dốc 40 - 800. Chúng chuyển tiếp lên phụ hệ tầng dưới hệ tầng La Ngà. Bề dày khoảng 600m.

Đặc điểm chung của hệ tầng: diện phân bố khá rộng; thành phần gồm các đá chứa vôi: cát kết màu xám, xám đen phân lớp dày, đá phiến sét kết, bột kết màu xám, xám xanh phong phú các hóa thạch định tuổi Jura sớm, Toaci. Chưa rõ quan hệ dưới. Bề dày 700 - 850 m.

Khoáng sản liên quan: các đá chứa vôi ở Thiện Tân, Đại An đã từng được chế biến làm phân bón cũng như làm phụ gia xi măng. Tuy nhiên do điều kiện khai thác khó khăn và hàm lượng CaO thấp (cao nhất là 30%), nên chưa thể ứng dụng được. Các đá phiến sét vôi phân lớp mỏng đang được dùng làm đá ốp lát ngoài công trình. Các sản phẩm phong hóa từ chúng: laterit dùng làm phụ gia xi măng, sét được khai thác để sản xuất gạch ngói. Dọc theo đới tiếp xúc ngoài với các đá mạch và các khối xâm nhập có biểu hiện khoáng hóa vàng, thiếc.

III. Hệ Jura, thống trung. Hệ tầng La Ngà (J2 ln):

Trong phạm vi tỉnh Đồng Nai, hệ tầng La Ngà [21] phân bố rộng rãi ở khu vực Bắc hồ Trị An, Tà Lài, Phú Bình, Phú Túc, Phú Ngọc, Xuân Thành. Hệ tầng gồm 2 phụ hệ tầng:

- Phụ hệ tầng dưới: được nghiên cứu trên 2 đoạn mặt cắt núi Tràn - cầu La Ngà và Tà Lài gồm đá phiến sét màu xám sẫm, xám đen, phân lớp mỏng, chứa nhiều vụn hữu cơ và các vảy mi - ca trắng; sét bột kết màu đen xen các lớp bột kết sọc dải, ít lớp cát kết hạt mịn. Đá phiến sét bị nhiễm oxyt sắt, kiến trúc sét bột biến dư, cấu tạo phiến mỏng. Thành phần khoáng vật gồm sét sericit hóa nhiễm oxyt sắt 85 -96%, silic 4 - 15%, ít bột thạch anh và quặng. Sét bột kết bị biến chất yếu, kiến trúc sét bột biến dư, cấu tạo phân phiến thành phần gồm sét - sericit nhiễm oxyt sắt 57 - 58%, bột thạch anh 35 - 36%, vụn đá silic 3 - 4%, ít hạt nhỏ plagioclas, biotit bị clorit hóa 3 - 4%. Trong chúng có hóa thạch cúc đá Planammatoceras sp., (ở nhà máy đường La Ngà), chân rìu Posidonia bronni Volz (ở núi Tràn) định tuổi Jura giữa, bậc Alen. Dày trên 240 m.

- Phụ hệ tầng trên gồm 2 tập: Tập dưới chủ yếu là cát kết hạt trung, phân lớp dày màu xám, xám vàng, có nhiều vảy mutscovit, đôi nơi xen ít lớp bột kết, sét kết màu xám xẫm chứa di tích thực vật bảo tồn xấu, dày 100 - 120 m. Tập trên gồm cát kết phân lớp dày (30 - 50 cm) xen kẽ các lớp cát bột kết, bột kết, sét kết. Trong cát kết có chứa nhiều tinh thể pyrit, kích thước vài mm đến 1cm. Bề dày 450 - 600 m. Bề dày chung của hệ tầng 500 - 750 m.

Khoáng sản liên quan: cát kết ở Bắc Tà Lài đã được khai thác làm đá mài và đá chẻ dùng trong xây dựng. Khoáng hóa vàng, thiếc xuất hiện ở đới tiếp xúc ngoài với các thể xâm nhập phức hệ Định Quán ở La Ngà, Suối Nho. Các sản phẩm phong hóa từ chúng là sét hoặc laterit. Sét phong hóa từ bột kết, sét kết sọc dải được dùng làm gạch, ngói có chất lượng cao. Laterit được sử dụng làm vật liệu trải đường.

IV. Hệ Jura, thống thượng. Hệ tầng Long Bình (J3 lb):

Hệ tầng Long Bình [4,9,17] lộ rải rác ở Biên Hòa, Bửu Long, Hóa An, Tân Vạn, Bình An, được thấy trong một số lỗ khoan sâu ở Biên Hòa, Long Thành, Nhơn Trạch. Hệ tầng bao gồm các đá được tạo ra trong pha phun trào, phun nổ xen kẽ với các lớp sét kết phân dải và các đá mạch.

Các đá được tạo bởi phun trào chảy tràn gồm bazan porphyrit, andesitobazan, andesit. Đá có màu xám xanh, kết cấu rắn chắc, nghèo silic. Kiến trúc porphyr yếu, ban tinh chủ yếu là plagioclas dạng lăng trụ (10 - 15%), pyrocen xiên, nền gồm các vi tinh plagioclaz hình kim (20 - 30%), pyroxen (15%), thủy tinh cùng sản phầm biến đổi như clorit, zoizit -  epiđot, carbonat,..... Đá có cấu tạo hạnh nhân không đều.

Các đá tướng họng có diện tích phân bố hẹp (vài chục m2) ở Gò Cây Xoài, Phương Mai (nay là hầm đá Hóa An). Thành phần: gabrodiabaz, gabrodiorit, porphyrit, micro - diorit porphyrit. Đá có màu xanh. Kiến trúc porphyr giàu ban tinh, cấu tạo hạnh nhân.

Thành tạo phun nổ được thấy ở dưới lỗ khoan LK628 vùng Cẩm Tiên, LK617 ở Bà Miêu, LK618 ở Biên Hòa, Tân Vạn. Thành phần là tuf andesit, andesitobazan với các mảnh vụn là các đá andesit, các mảnh tinh thể plagioclas. Nền thủy tinh clorit hóa, epiđot hóa.

Các quá trình biến chất trao đổi sau magma thể hiện trên diện rộng và khá rõ. Tổ hợp khoáng vật đặc trưng cho kiểu propilit hóa gồm clorit + epidot + calcit + thạch anh + adular + pyrit.

Đặc điểm thạch hóa: độ silic thấp tới trung bình, độ kiềm trung bình. Trong thành phần kiềm, Na trội hơn hẳn K, phun trào thuộc dãy kiềm vôi. Các mẫu đều có hypesten và hầu hết có olivin. Trong plagioclas, lượng anorthoclas dao động trong khoảng 31 - 34% ứng với andesin - labrador

Ở phía dưới, hệ tầng phủ bất chỉnh hợp trên các đá của hệ tầng Draylinh hoặc hệ tầng Châu Thới. Phía trên, hệ tầng bị phủ bởi các đá của hệ tầng sông Lá Buông và các trầm tích Kainozoi. Tại khu đồi Long Bình (Thủ Đức), Bùi Phú Mỹ và Hà Quang Hải năm 1988 đã tìm thấy trong bột kết phân dải xen kẹp trong phun trào andesit các hóa thạch Zamites aff haufmani Heer Pagiophyllum sp., Diskonia sp., Estheria sp.,. [12]. Chúng còn bị xâm nhập phức hệ Định Quán xuyên cắt, gây biến chất tiếp xúc sừng hóa. Bề dày không ổn định, thay đổi từ vài ba chục mét đến 300 m.

Khoáng sản liên quan: Các đá của hệ tầng được sử dụng như loại đá xây dựng có chất lượng tốt. Trong đá có biểu hiện khoáng hóa vàng, bạc.

V. Hệ Creta, thống thượng. Hệ tầng sông Lá Buông (K2 slb):

Hệ tầng sông Lá Buông [4] phân bố hạn chế ở nơi đo vẽ mặt cắt và dưới các lỗ khoan LK622 ở khu vực Long Thành, LK1-88 ở khu vực Biên Hòa. Thành phần đơn điệu, chủ yếu là bột kết, sét bột kết, đá phiến sét silic màu tím đỏ, nâu gụ dạng khối, khi bị phong hóa dễ vỡ vụn.

 Đá phiến sét silic có cấu tạo phân phiến, kiến trúc sét bột. Thành phần: sét 48%, silic 40 - 42%, bột thạch anh 10 - 12%. Sét bột kết có cấu tạo phân lớp, kiến trúc sét bột. Khoáng vật sét nhiễm oxyt sắt 68%, silic 20 - 22%, bột thạch anh 10 -12%.

 Bột kết cấu tạo khối, kiến trúc bột, thành phần gồm sét hydragilit, hydroxyt sắt, ít bột biến dư. Trong bột kết ở ngã ba sông Lá Buông có chứa các bào tử phấn hoa Triletes sp., Polypodiacidites sp., Lygodium sp., Retimomocolpolimites sp., Poceae sp., cho khoảng tuổi Kreta -Paleogen. Các đá của hệ tầng phủ bất chỉnh hợp trên các đá của hệ tầng Draylinh, bị phủ bởi trầm tích hệ tầng Bà Miêu hoặc bazan và các trầm tích Đệ tứ. Dày khoảng 100 m.

VI. Hệ Neogen, thống Pliocen, phụ thống thượng. Hệ tầng Bà Miêu (N22bm):

Hệ tầng Bà Miêu  [4,9,11,15] lộ ra không nhiều ở vùng thượng nguồn sông Lá Buông, khu xóm Bà Miêu và trên các thềm xâm thực hoặc sườn xâm thực ở khu công nghiệp Biên Hòa, Phước Tân, Long Thành. Chúng còn được thấy trong các lỗ khoan sâu ở Hố Nai, Long Bình, Long Thành. Phần dưới của hệ tầng chủ yếu là các trầm tích hạt thô (cát, cuội, sạn). Phần trên gồm các trầm tích hạt mịn (sét, bột, cát mịn). Bột sét phân lớp mỏng dạng sọc dải hoặc phân lớp dày, dạng khối, màu xám hoặc sặc sỡ, nâu, đỏ, vàng, trắng.

Tại Bà Miêu: phần dưới gồm cát, sạn, sỏi phân lớp dày chuyển lên cát bột lẫn sạn màu xám nâu phớt vàng. Thành phần chủ yếu là thạch anh xen thấu kính bột sét lẫn cát mịn màu vàng phân dải không đều. Đáy chứa cuội và mảnh vụn đá. Thành phần: thạch anh 70 - 80%, bột sét 10 - 12%, mảnh vụn đá khoảng 10%. Độ chọn lọc ở phần đáy kém So = 2 - 6, lên trên, chọn lọc tốt So = 1,5. Khoáng vật nặng ilmenit, turmalin, zircon không nhiều. Dày 9,7 m. Phần trên có các lớp sét kết màu xám, xám đen chứa nhiều di tích thực vật, sét bột màu trắng phân lớp mỏng, sét bột màu vàng nghệ kẹp lớp cát sạn màu đỏ chứa các di tích thực vật, tảo và bào tử phấn hoa định tuổi Pliocen - Pleistocen sớm, dày trên 11 m. Chúng phủ lên các đá phun trào của hệ tầng Long Bình, bị cuội sỏi cát màu tím của hệ tầng Củ Chi phủ bất chỉnh hợp lên trên. Bề dày toàn bộ mặt cắt ở Bà Miêu là 20,7 m.

Ở Phước Tân, các trầm tích thuộc phần trên của hệ tầng Bà Miêu lộ ra trên vách khai thác sét gồm sét loang lổ đỏ nhạt vàng xám dẻo, vi phân lớp mờ, bột sét phân lớp mỏng màu nâu gụ xen lớp cát hạt trung (dày 7 m) màu vàng chọn lọc tốt, bột sét màu vàng. Dày trên 6 m.

Ở ấp Bùi Đức, phường Tam Hiệp, hệ tầng Bà Miêu lộ ra ở độ cao 20 - 23 m. Theo tài liệu lỗ khoan KH3 hệ tầng gồm 2 phần rõ rệt. Phần dưới là sạn, cát hạt thô màu xám nâu, cát lẫn dăm sạn màu đỏ nhạt phớt vàng, cát lẫn ít sét, đôi nơi có sạn màu nâu sẫm, phớt vàng đến vàng; độ chọn lọc từ khá tốt đến kém, dày 20,5 m. Phần trên chủ yếu là sét bột phân lớp mỏng bị phong hóa có màu loang lổ hoặc tạo các kết vón dạng củ gừng, dày 7 m. Chúng phủ lên đá phiến sét kết, bột kết của hệ tầng Draylinh. Bề dày chung 27,5 m.

Được xếp tương đương với các trầm tích hệ tầng Bà Miêu còn có các tầng cuội sỏi cát sét hoặc sét cát, cát sạn sỏi dày ³ 5 - 7 m nằm trên bề mặt đá gốc ở độ cao 110 - 150 m dưới các lớp phủ bazan ở xung quanh núi Chứa Chan, ở Tà Lài - Định Quán, Túc Trưng. Ở lâm trường Vĩnh An, chúng bị phủ bởi bazan hệ tầng Túc Trưng (bN2-QItt).

Khoáng sản liên quan: phần dưới của hệ tầng là trầm tích hạt thô (có bề dày lớn) là tầng chứa nước tốt. Ở phần trên của hệ tầng, sét là nguyên liệu sản xuất gạch ngói; bột sét màu vàng dùng làm bột màu, các sản phẩm laterit có thể dùng làm đất đắp hoặc trải đường, vật liệu san lấp.

VII. Hệ Neogen, thống Pliocen - hệ Đệ tứ, thống Pleistocen, phụ thống dưới. Hệ tầng Túc Trưng ( bN2 - QItt):

Hệ tầng Túc Trưng [4,12] bao gồm bazan toleit, andesitobazan phân bố ở Túc Trưng, Nam Cát Tiên. Các đá tươi chỉ lộ ra trong các khe rãnh xâm thực sâu. Ở trên mặt đá bị phong hóa tạo vỏ laterit dày 5 - 15 m. Đá có màu xám đen, cấu tạo đặc xít hoặc lỗ rỗng. Kiến trúc porphyr, nền từ vi tinh đến thủy tinh, ban tinh là clinopirocen, ortopirocen. Kiến trúc thay đổi từ vidoleit, ophit đến gian phiến. Bazan Túc Trưng được đặc trưng bởi độ silic cao (SiO2 = 53 - 54%) độ kiềm thấp (Na2O + K2O = 3,2 - 3,8%). Bề dày thay đổi từ 20 - 100 m.

VIII. Hệ Đệ tứ - phụ thống Pleistocen hạ, phần trên. Hệ tầng Trảng Bom (aQI3tb):

Hệ tầng Trảng Bom [4,8,9,11] phân bố trên các thềm cao 40 - 60 m từ Bùng Binh qua Hố Nai III đến Trảng Bom I, Bình Sơn, Tân Thành và ở Đông Phước Tân. Thành phần cuội, sỏi, sạn, cát bột màu xám vàng đến xám nâu, gắn kết yếu. Đặc điểm trầm tích: độ hạt biến đổi không đều, chiếm tỷ lệ cao chủ yếu là cát bột chứa sạn sỏi, một phần là cát cuội sỏi gắn kết yếu bởi bột sét; độ chọn lọc từ trung bình đến kém (S0 = 2 - 5); màu trắng xám, xám vàng, nâu vàng, ít loang lổ, nghèo các di tích sinh vật.

Ở Suối Đá, từ trên xuống là cát màu đen do phun trào bazan nung đốt, dày 0,2 - 0,5 m. Cát bột sét kaolin màu nâu vàng dày 0,8 - 1 m; cát hạt thô sét kaolin màu trắng xen kẹp với các thấu kính cuội sỏi thạch anh mài tròn tốt, dày 2,5 m. Cát sạn sỏi gắn kết trung bình bởi bột sét xám loang lổ vàng nhạt, dày 0,8 m; sỏi cuội gắn kết khá chắc màu nâu vàng dày 1,2 m. Cuội kích thước thường nhỏ hơn 1,5 cm, thành phần thạch anh, ít hạt silic cát bột kết. Chúng phủ bất chỉnh hợp trên vỏ phong hóa của các đá trầm tích hệ tầng Draylinh. Dày khoảng 5 - 6 m.

Ở Long Thành, theo tài liệu lỗ khoan LK627 ở xã Bình Thới, Long Thành, hệ tầng có bề dày lớn hơn, gồm 2 tập. Tập dưới: cát, sạn sỏi và bột sét màu xám nâu vàng, gắn kết yếu; nằm bất chỉnh hợp lên hệ tầng Bà Miêu, dày 8,6 m. Tập trên: cát bột sét màu nâu vàng, loang lổ, dày 9,4 m. Bề dày chung là 18 m.

Ở khu vực Bắc Định Quán, Xuân Thọ, hệ tầng Trảng Bom bao gồm các tập hợp cuội đa khoáng, cát sạn sét, cát bột sét với bề mặt tích tụ ở độ cao trung bình 85 - 95 m. Các trầm tích này bị bazan hệ tầng Xuân Lộc và Phước Tân phủ lên, dày 5 - 10 m.

Nhìn chung, mặt cắt hệ tầng Trảng Bom thể hiện tính phân nhịp thô đến mịn theo chiều thẳng đứng. Thành phần cấp hạt thay đổi, ít nhiều theo chiều ngang. Hạt mịn dần theo hướng từ Bắc - Tây Bắc xuống Nam Đông Nam. Ở Thường Tân - Vĩnh Cửu, núi Bùng Binh, tầng cuội đáy có kích thước khá lớn 4 - 5 cm, cá biệt đến 10 cm. Ở vùng Long Thành, cuội có kích thước chủ yếu 1 - 2 cm.

Khoáng sản liên quan: tập cuội sỏi thuộc phần dưới của hệ tầng có khả năng chứa nước, đôi nơi đã được khai thác làm vật liệu xây dựng như ở Bình Sơn huyện Long Thành.

IX. Hệ Đệ tứ - phụ thống Pleistocen trung. Hệ tầng Xuân Lộc (bQIIxl):

Hệ tầng Xuân Lộc [4,11,12,21] gồm các đá phun trào bazan phân bố rộng rãi ở các huyện Thống Nhất, Xuân Lộc, Định Quán và phía Đông huyện Long Thành. Hệ tầng gồm 3 tập:

-Tập dưới: lộ ra ở rìa cao nguyên bazan Xuân Lộc. Thành phần: gồm tro từ núi lửa và bazan olivin màu xám đen, cấu tạo đặc xít và lổ rỗng trong đó chủ yếu là bazan đặc xít. Các đá của hệ tầng này thuộc tướng phun trào chảy tràn. Chúng phủ lên hệ tầng Trảng Bom, hệ tầng Bà Miêu và hệ tầng La Ngà. Dày 20 - 80 m.

-Tập giữa: bao gồm các đá phun trào chảy tràn xen ít tướng phun nổ. Thành phần: bazan olivin,bazan olivin kiềm màu xanh đen, cấu tạo đặc xít hoặc lổ rỗng. Tập có nhiều bazan lổ rỗng, là tầng có khả năng chứa nước. Chúng thường bị phong hóa tạo tầng đất đỏ dày. Bề dày của tập 10 - 60 m, trung bình 30 - 40 m.

Tập trên: phân bố ở trung tâm của cao nguyên Xuân Lộc. Thành phần gồm bazan bọt, tuf bom núi lửa và bazan olivin kiềm, màu xám đen chứa nhiều bao thể augit, olivin. Các đá của tập này thuộc tướng phun trào xen phun nổ. Ở trên cùng, tướng phun nổ là những dấu vết còn để lại với nhiều miệng, nón núi lửa, dày 50 - 200 m. Bề dày chung của tập 70 - 220 m.

Mỗi tập được hình thành trong một giai đoạn nhất định ứng với một pha phun trào. Trong mỗi giai đoạn, hoạt động phun trào có sự phân dị tiến hóa về thành phần theo trình tự từ bazanit, bazan olivin kiềm đến bazan bình thường. Sự chuyển tiếp từ loại này sang loại kia xảy ra từ từ [4].

Mở đầu mỗi giai đoạn là hoạt động phun nổ kéo theo lerzolit siêu mafic, mafic từ dưới sâu lên. Các sản phẩm phun trào phân bố xa trung tâm phun trào. Các sản phẩm phun nổ chỉ phân bố quanh các họng núi lửa. Trong dãy tiến hóa, độ silic tăng dần (SiO2 = 43 - 52%), độ kiềm giảm dần (N2O + K2O = 6,7 - 4,1%). Khoáng vật màu giảm dần, hàm lượng plagioclas tăng dần, phần muộn giàu thủy tinh hơn phần sớm. Các đá của hệ tầng đều thuộc tướng kiềm vôi. Tổ hợp cộng sinh khoáng vật chính là plagioclaz, oligioclaz, clinopyrocen. Khoáng vật phụ khá phong phú, thường gặp là cromspinel, cromit, psilomela, zircon, monazit, ilmenit, pirit, ít gặp hơn có granat, casiterit, anata, turmalin [4].

Tuổi của bazan hệ tầng Xuân Lộc được xác định bằng nhiều phương pháp khác nhau, nằm trong khoảng Pleistocen giữa.

Sáu kết quả phân tích K/Ar trên zircon của E.Saurin (1963), J.P.Carbonel (1973) và L.A. Gudovki (1990) đều cho khoảng tuổi 0,7 ± 0,15 đến 0,44 ± 0,07 triệu năm [2].

Kết quả phân tích bằng phương pháp vết phân rã Uran trên zircon trong bazan vùng Tân Phong của Nguyễn Xuân Hãn cho tuổi 0,02 ± 0,1 đến 0,76 ± 0,07 triệu năm [2].

Kết quả phân tích bào tử phấn xác định bazan Xuân Lộc phủ lên các trầm tích có tuổi Pliocen (lỗ khoan LK628 Tây Xuân Lộc) hoặc Pliocen - Đệ tứ (LK625-Gia Kiệm) bị các trầm tích Pleistocen muộn phủ lên [4].

Liên quan với bazan hệ tầng Xuân Lộc có nhiều mỏ đá xây dựng, puzơlan và nhiều điểm đá quí. Các tầng bazan lổ rỗng bị nứt nẻ mạnh là những tầng có khả năng dồi dào về nước ngầm. Bazan bị phong hóa tạo vỏ dày 8 - 35 m kém thuận lợi khi xây dựng các công trình lớn nhưng rất thuận lợi đối với việc trồng cây công nghiệp.

X. Hệ Đệ tứ - phụ thống Pleistocen trung - thượng. Hệ tầng Thủ Đức(aQII-III1tđ):

Trong phạm vi tỉnh Đồng Nai, hệ tầng Thủ Đức [9, 12] bao gồm các trầm tích phân bố trên các bậc địa hình cao 25 - 40 m ở Biên Hòa, Long Bình, Tam An, Long Thành, Nhơn Trạch và trong các lỗ khoan sâu ở bậc địa hình thấp hơn. Thành phần thạch học chủ yếu là cát. Phần trên có xen các tập bột sét và lớp mỏng sạn sỏi. Phần dưới, hàm lượng cuội sỏi tăng cao có màu vàng sáng. Trong chúng có các thấu kính kaolin, cuội sạn.

Tại lỗ khoan LK.628 ở An Lộc, Long Thành, hệ tầng gồm 3 tập:

-Tập dưới: sạn, cát lẫn cuội màu vàng nâu xám trắng. Cát 20 - 30%, sạn 40 - 50%, cuội 15 - 25%, kích thước 1 - 1,5 cm. Tập này nằm bất chỉnh hợp trên các đá phiến sét kết. Dày 3,8 m.

-Tập giữa: cát lẫn sỏi cuội thạch anh màu xám trắng pha bột sét, kết gắn yếu. Dày 11,1 m.

-Tập trên: cát pha bột sét màu xám. Cát hạt không đều, mịn đến trung, gắn kết yếu. Dày 6,5 m. Bề dày chung của hệ tầng 17,5 m. Ở Bàu Cạn, Long Thành, mặt cắt của hệ tầng gồm 3 tập [4]:

-Tập dưới: cát chứa bột sét lẫn sạn sỏi: cát thạch anh 70%, sạn sỏi 7%, bột sét 23%. Độ chọn lọc khá tốt, So = 1,8 - 2,5. Khoáng vật nặng: turmalin 90%, zircon: 10%, ở đáy leucoxen lên tới 60%, turmalin 40%. Dày 6,7 m.

 -Tập giữa: Cát bột chứa sét màu xám loang vàng. Cát chiếm 50 - 60% giảm dần lên trên, bột sét 40 - 50%. Độ chọn lọc khá  (So thay đổi từ 1 đến 4 khi lên trên). Khoáng vật nặng giống tập dưới, phần trên có granit (4 - 5%). Dày 7,1 m.

-Tập trên: bột sét chứa cát màu xám nâu đỏ, phần trên có nhiều kết vón laterit. Cát thạch anh 20%, còn lại là bột sét và mảnh vụn laterit. Dày 5,6 m. Bề dày tổng cộng 17 m.

Chưa gặp di tích vi cổ sinh trong trầm tích hệ tầng Thủ Đức. Chúng phủ lên các lớp sét màu xám phân lớp của hệ tầng Bà Miêu, hoặc Trảng Bom, bị các trầm tích Pleistocen muộn hệ tầng Củ Chi phủ lên. Tuổi trong khoảng Pleistocen giữa -muộn (QII-III1).

Khoáng sản liên quan: tập dưới có khả năng chứa nước ngầm, tập trên có thể dùng làm vật liệu san lấp.

XI. Hệ Đệ tứ - phụ thống Pleistocen thượng, phần dưới. Hệ tầng Sóc Lu: Trachyandesit (tabQIII1sl):

Hệ tầng Sóc Lu [4,25] gồm các đá phân bố ở núi Sóc Lu. Thành phần bao gồm trachybazan, tephriphonolit, trachyandesit với các thể đá tù nhỏ gabrodiabaz, olivinit.

Trachybazan có màu xám sẫm, nhiều lỗ rỗng, kiến trúc pocphyr với 10% các ban tinh olivin (70 - 90%), plagioclas. Nền chủ yếu là thủy tinh.  SiO2 =  49%, Na2O = 3,3 - 4,28% , K2O = 1,75 - 2,28%  với tổng lượng kiềm thay đổi 5 - 6,48%. Không xuất hiện khoáng vật chuẩn CIPW corindon. Chỉ số plagioclas (Ab + An) từ 39,91 - 50,3%, chỉ số octoclas là 10,34 -  25,61%. Các nguyên tố vi lượng Ti = 1%, Co = 0,001%, Ni = 0,005%, Cr = 0,01%. Đá có độ kiềm thấp, giàu thủy tinh  [25].

Tephriphonolit, trachyandesit khá phổ biến và thường gặp ở đỉnh Sóc Lu. Đá có màu xám sẫm, mịn, cấu tạo lỗ rỗng (40 - 60%), nhẹ và dẻo. Kiến trúc pocphyr, ban tinh 10 - 15% gồm olivin (15 - 20%), plagioclas (40 - 60%), pyroxen (20 - 25%), barkevikit (6%); nền gồm thủy tinh (45 - 60%) và các tinh thể nhỏ plagioclas (15 - 20%), pyroxen (15%), quặng (>5%). SiO2 = 54 - 57%, Na2O = 5 - 7%, K2O = 3 -5,5%. Tỷ lệ Na2O/K2O = 1,05-1,27. Các đá thường không xuất hiện khoáng vật chuẩn CIPW corindon. Chỉ số plagioclas (Ab + An) từ 27 - 55, chỉ số octoclas là 25 - 33. Đá giàu thủy tinh, độ kiềm cao [25].

Các nguyên tố vi lượng trong đá Fe, V, Ti = 0,5 - 1 %; Cr, Co, Ni gặp hầu hết trong các mẫu (5.10-3 - 1.10-2 %); Cu, Pb, Zn xuất hiện khá đều trong 40% lượng mẫu phân tích (2.10-3 - 5.10-3%); Nb (2.10-3 - 3.10-3%), Zr (1.10-3 - 2.10-3%) xuất hiện ở hầu hết các mẫu phân tích. Ilmenit, hematit, magnhetit ít gặp hàm lượng thấp. Có saphyr, corindon trong tephriphonolit [25].

Đá tù gabrodiabaz (f = 1 - 4 mm) chiếm 5 - 10 % khối lượng đá, thường gặp nhưng phân bố không đều. Đá tù olivinit dạng đẳng thước, olivin chiếm 90 - 100%,  có ranh giới rõ ràng với các đá phun trào [25].

Phun trào Sóc Lu phủ lên bazan Xuân Lộc, bị phủ bởi bazan Phước Tân. Dày 50 - 90m.

Phun trào Sóc Lu làm đá xây dựng tốt, hiện nay đang được khai thác.

XII.  Hệ Đệ tứ - phụ thống Pleistocen thượng, phần giữa. Hệ tầng Phước Tân (bQIII2pt):

Bazan hệ tầng Phước Tân [4,6,12] phân bố ở khu Nam Cát Tiên, dọc theo thung lũng sông Đồng Nai và vùng Tà Lài, Cây Gáo, Bàu Hàm và 1 dải kéo dài phương vĩ tuyến ở Cẩm Đường - Long Thành. Phun trào bazan Phước Tân thuộc loại chảy tràn theo khe nứt lấp đầy các trũng và các thung lũng cao 20 - 80 m. Thành phần gồm: bazan olivin kiềm, andesitobazan giàu thủy tinh màu xám đen, cấu tạo đặc xít hoặc lỗ rỗng. Các khoáng vật olivin, plagioclas, pyroxen và thủy tinh thuộc tướng kiềm vôi. Silic từ trung bình đến cao (SiO2 = 53,8 - 54,4%). Tổng kiềm trung bình (Na2O + K2O = 4,5 - 5,5%) và độ hút vôi cao. Trên biểu đồ SiO2, (Na2O + K2O), các đá bazan thuộc hệ tầng Phước Tân thuộc trường andesitobazan. Về đặc điểm thạch học khoáng vật, chúng giống phần cuối trong dãy phân dị của bazan Xuân Lộc.

Phun trào bazan Phước Tân phủ lên phun trào bazan Sóc Lu và các trầm tích cổ hơn. Bazan hệ tầng Phước Tân lại bị trầm tích hệ tầng Củ Chi phủ lên. Tuổi tuyệt đối C14 của  bazan Phước Tân là 35.900 ± 2.800 năm phủ lên [4] dày 5 - 20 m.

Các đá của hệ tầng đã và đang được khai thác làm nguyên liệu phụ gia xi măng (puzơlan) hoặc làm đá xây dựng.

XIII. Hệ Đệ tứ - phụ thống Pleistocen thượng, phần trên. Hệ tầng Củ Chi (aQIII3cc):

Hệ tầng Củ Chi [4,9,12] phân bố dọc sông Đồng Nai từ Vĩnh Cửu tới Long Thành, trên bậc thềm cao 10 - 15 m hoặc trong các lỗ khoan sâu ở vùng trũng thấp dọc sông.

Trên bậc thềm cao 10 - 15 m, mặt cắt của hệ tầng có 2 tập:

- Tập dưới: cuội sỏi sạn gắn kết bởi cát, bột kaolin màu xám trắng. Cuội, sỏi sạn chủ yếu là thạch anh. Dày 3 - 5 m.

- Tập trên: cát bột pha sét, bị phong hóa có màu loang lổ hoặc thành tạo các kết hạch oxyt sắt. Dày 2,5 - 5 m -7 m.

Trong lỗ khoan sâu LK630 ở xã Phước An, Long Thành trầm tích gồm 2 phần:

- Phần dưới: cát lẫn ít cuội sỏi và sét bột xen kẹp lớp cát bột phân lớp mỏng. Thành phần chủ yếu là thạch anh ít mảnh đá. Chúng nằm bất chỉnh hợp trên các trầm tích hệ tầng Thủ Đức. Dày 13 m.

- Phần trên: chủ yếu là sét bột, bột (sét 60 - 70%, bột 10 - 15%), phân lớp dày dạng khối, màu xám sẫm phớt nâu vàng, chứa tập hợp bào tử phấn hoa xác định môi trường lục địa cửa sông tuổi Pleistocen muộn. Dày 2 m.

Trong mặt cắt đứng, từ dưới lên, cấp hạt lớn giảm dần, cát giảm từ 60 - 40 -20%, sét bột tăng từ 20 - 80%. Sạn sỏi chỉ gặp ở phần thấp, tỷ lệ 10%. Cát có thành phần chủ yếu là thạch anh. Các khoáng vật nặng ở phần dưới là: andaluzit, ilmenit xen kẽ nhau với tỷ lệ cao, chuyển lên trên giảm dần, đồng thời xuất hiện turmalin, leucoxen với tỷ lệ 10 - 15%.

Đặc điểm chung của hệ tầng: Trầm tích có nguồn gốc sông, gồm 2 phần. Phần dưới là các trầm tích hạt thô có khả năng chứa nước dày 3 - 13 m. Phần trên là các trầm tích hạt mịn, từng phần bị laterit hóa, dày 2 - 7 m. Bề dày chung 5 - 20 m.

XIV. Hệ Đệ tứ - phụ thống Holocen hạ - trung (QIV1-2): gồm 2 thành tạo:

XIV.1 Trầm tích nguồn gốc sông:

Trầm tích nguồn gốc sông phân bố dọc theo các sông suối lớn nhưng chủ yếu trên đoạn Thiện Tân - Biên Hòa, tạo nên các thềm cao 3 - 5 m hoặc các cù lao giữa sông. Thành phần chủ yếu là sét bột, bột cát màu vàng nhạt, cuội ít sạn ở phần đáy. Chúng phủ lên các đá và các trầm tích có tuổi Pleistocen và cổ hơn. Dày 1 - 4 m, cá biệt tới 10 m.

Ở Bửu Long - Biên Hòa, trong lỗ khoan KT23, mặt cắt trầm tích sông gồm 3 tập:

- Tập dưới: Cát bột sét chứa sạn sỏi, màu xám sáng. Cát 43%, bột sét 40%, sỏi sạn 17%. Chọn lọc kém, So = 9,6.

- Tập giữa: cát bột chứa sạn sỏi màu xám. Cát 74%, bột 20%, sạn sỏi 6%. Trầm tích chứa mảnh sét 3,5%, vụn felspat 3,2%, ít hạt limonit và vụn thực vật. Độ chọn lọc khá tốt, So = 1,85.

- Tập trên: bột sét cát lẫn sạn sỏi màu xám. Bột sét 70%, cát 23%, sạn sỏi 7%. Trong sạn sỏi có nhiều mảnh sét. Trầm tích lẫn nhiều hạt vụn, vảy mica.

Bào tử phấn hoa có mặt ở 2 tập trên, khá phong phú các dạng Cyathea sp., Cystopteris sp., Polypodium sp., Pteris sp., Palmae gen sp., Castanopsis sp., và định tuổi Holocen sớm (QIV1). Tảo nước ngọt với số lượng không nhiều gồm: Eunotia paralebla, E.alpina, Gomphonema sp., Tảo nước mặn chỉ gặp ở tập dưới gồm: Synedra Jouseana Thalassionema nitzchivides. Trong tập 1 và 2 còn gặp 2 mảnh trùng lỗ loài Ammonia mdopacifia. Điều đó chứng tỏ môi trường trầm tích bị nhiễm mặn, chịu tác động của biển, có lẽ là các dòng triều.

Ở suối Tam Bung (huyện Xuân Lộc), trầm tích sông gồm 2 phần:

- Phần dưới: cuội sỏi, cát chứa đá quí (saphyr, pyrop) kích thước cuội 2 - 3 cm - 6 - 7 cm. Thành phần cuội: bazan, laterit, thạch anh, đá phiến. Chúng phủ lên đá phiến hệ tầng La Ngà, dày 0,8 -1 m.

- Tập trên: cát thô và mịn, sét bột màu xám. Cát 70%, chủ yếu là thạch anh, dày 2,5 m.

XIV.2. Trầm tích nguồn gốc sông biển:

Trầm tích phát triển dọc theo sông Đồng Nai, từ cầu Biên Hòa xuống phía Nam. Chúng tồn tại dưới dạng đồng bằng thấp hoặc gò sót với diện tích không lớn. Thành phần: bột, sét màu vàng chiếm chủ yếu, đôi nơi lẫn mùn thực vật màu xám sẫm. Trong trầm tích thường chứa các tảo nước lợ, nước mặn và Foraminifera. Bề dày 3 - 4 m, có nơi 6 - 7 m.

XV. Hệ Đệ tứ - phụ thống Holocen trung - thượng (QIV2-3): Gồm 3 kiểu nguồn gốc:

XV.1. Trầm tích sông:

Các trầm tích sông thường tạo các bãi bồi cao 1 - 3 m dọc theo các sông suối, rộng vài mét đến vài trăm mét, gián đoạn hoặc kéo dài liên tục 1 - 2 km. Thành phần chủ yếu là bột pha cát mịn ít sét màu nâu vàng. Độ chọn lọc kém. Chúng phủ trên các trầm tích cổ hơn, trên đá gốc và trên các trầm tích thềm I, dày 1,5 - 5 m.

XV.2. Trầm tích sông - đầm lầy:

Thành tạo dọc theo các phần trũng thấp ven sông từ Long Hưng đến Bắc Nhơn Trạch và Phú Điền. Thành phần bột, sét, mùn thực vật, đôi nơi có than bùn, màu xám tro, xám tối. Bề dày thay đổi 2 - 5 m.

XV.3. Trầm tích sông - biển:

Có mặt không nhiều ở vùng Phú Hữu, Phước Khánh, Nam khối nâng Nhơn Trạch. Thành phần: bột, sét, ít cát, đôi nơi có mùn thực vật. Trong trầm tích thường chứa di tích các vi sinh vật biển, foraminifera v.v... Bề dày 2 - 3 m, có nơi tới 5 - 10 m.

XVI. Hệ Đệ tứ - phụ thống  Holocen thượng (QIV3): gồm 2 kiểu nguồn gốc:

XVI.1. Trầm tích biển đầm lầy:

Phân bố ở khu vực Phước An. Đây là vùng ngập mặn cửa sông ven biển hiện đại. Thành phần: sét, bột cát và các vật chất hữu cơ. Bề dày ổn định trong khoảng 2 - 3 m.

XVI.2. Trầm tích nguồn gốc sông suối:

Phổ biến dọc theo các sông suối hiện đại. Thành phần không ổn định, chủ yếu là cát, sạn, sỏi, ít bột và sét. Trong lòng sông Đồng Nai từ Tân Triều đến cầu Đồng Nai, trầm tích tạo nên nhiều mỏ cát xây dựng. Bề dày thay đổi 2 - 10 m.

XVII. Hệ Đệ tứ không phân chia:

Phân bố rải rác trên các bề mặt san bằng cắt qua các đá trầm tích ở Bắc Hố Nai, Trị An, Cây Gáo, Mã Đà, rìa núi Chứa Chan và Bắc núi Mây Tào.

Trên các bề mặt san bằng, chúng tạo nên lớp phủ eluvi-deluvi với hai kiểu mặt cắt: kiểu vỏ phong hóa laterit có thể làm nguyên liệu phụ gia xi măng và kiểu vỏ Sialferit làm nguyên liệu sản xuất gạch ngói. Bề dày không ổn định, từ một vài mét tới 10 m.

Ở chân núi Chứa Chan và Bắc núi Mây Tào có mặt các tập cát sạn lẫn bột, cát bột thuộc nhóm nguồn gốc deluvi - proluvi - eluvi và hồ. Bề dày không ổn định từ 1 - 10 - 15 m. Đôi nơi, cát có độ chọn lọc tốt đã được khai thác làm cát xây dựng.
Comments