B. Magma xâm nhập

MAGMA XÂM NHẬP


Các đá xâm nhập lộ ra với diện tích khoảng 200 km2 , thuộc  các phức hệ Định Quán,  Đèo Cả và  Cà Ná.

I. Phức hệ Định Quán, pha 2 (gdJ3-K1đq2):

Phức hệ Định Quán [15, 24] gồm 3 pha xâm nhập và 1 pha đá mạch. Ở Đồng Nai, có mặt các đá xâm nhập pha 2 phức hệ Định Quán. Chúng phân bố ở Định Quán, Phú Bình, Gia Binh, Xuân Hải. Đây là pha xâm nhập chính, gồm các đá: diorit, gabrodiorit, granodiorit biotit - horblend, fonalit biotit - horblend, hạt vừa, màu xám trắng, đốm đen. Cấu tạo khối, kiến trúc nửa tự hình. Độ silic và độ kiềm trung bình (SiO2 = 54 - 69%, Na2O + K2O  =  4,8 - 7,3%) thuộc dãy vôi kiềm.

Các đá của hệ tầng xuyên cắt các đá trầm tích hệ tầng Draylinh và hệ tầng La Ngà. Ở các đới tiếp xúc quanh các khối Suối Linh, Tam Bung, Suối Ty có các khoáng hóa vàng kiểu thạch anh - sulfua vàng.

Các đá xâm nhập pha 2 phức hệ Định Quán xuyên cắt các đá trầm tích hệ tầng Draylinh và hệ tầng La Ngà, gây biến chất sừng hóa tướng anbit- epyđôt.

 Tuổi tuyệt đối của các đá thuộc phức hệ có giá trị từ 91 - 94 triệu năm (Lasser,1974) đến 140 triệu năm (Huỳnh Trung, Nguyễn Xuân Bao, 1980) [2]. Phức hệ được định tuổi trong khoảng Jura muộn - Kreta sớm.

Khoáng sản liên quan: đá xây dựng, khoáng hóa vàng, bạc.

II. Phức hệ Đèo Cả, pha 1(gdK2đc1):

 Phức hệ Đèo Cả [15,24]  gồm 3 pha xâm nhập và 1 pha đá mạch.

Trong tỉnh Đồng Nai có mặt pha 1 của phức hệ. Chúng được thấy ở núi Mây Tào. Thành phần: granit biotit, granosienit. Kiến trúc hạt vừa đến lớn dạng porphyr với felspat kali màu hồng. Độ silic thấp, độ kiềm tương đối cao (SiO2 = 54,8 - 60,3%, Na2O + K2O = 5,2 - 7,4 %); Sn, Cu, Pb có giá trị lớn hơn trị số Clack.

Các đá của phức hệ xuyên cắt và gây sừng hóa các đá trầm tích hệ tầng La Ngà và các đá phun trào của hệ tầng Đơn Dương. Các số liệu tuổi đồng vị của granit từ 127 đến 98 triệu năm (Huỳnh Trung, 1983). Phức hệ có tuổi Kreta muộn [2].

Khoáng sản liên quan: đá xây dựng, khoáng hóa molipden, vàng (thiếc, và volfram).

III. Phức hệ Cà Ná ( Ankroet), pha 1 (gK2cn1):

Phức hệ Cà Ná [2, 21] gồm 2 pha xâm nhập và pha đá mạch. Trong tỉnh Đồng Nai có mặt các đá thuộc pha 1. Chúng phân bố ở núi Chứa Chan và núi Le. Thành phần: granit biotit có mutscovit, granit alaskit hạt vừa đến lớn đôi khi có dạng phorphyr. Đặc điểm thạch hóa: hàm lượng silic cao, bão hòa nhôm, độ kiềm cao, kali trội hơn natri.

Về quan hệ địa chất, chúng xuyên cắt các đá của hệ tầng La Ngà, hệ tầng Đơn Dương (ở Đà Lạt), bị các mạch gabrodiabas phức hệ Cù Mông cắt qua (ở Trại Mát - Đà Lạt). Tuổi tuyệt đối của 7 mẫu trong phức hệ do Trần Văn Trị, Ngô Văn Khải, Huỳnh Trung và Phan Thiện thu thập tại Ankroet và núi Núi Sam trong khoảng từ 71 ± 1 đến 95 ± 1 triệu năm ứng với Kreta muộn [2].

Khoáng sản liên quan với phức hệ là các đá xây dựng, khoáng hóa thiếc, volfram, molipđen, (vàng, bạc),...

Comments