C. Kiến tạo

KIẾN TẠO


I. Vị trí kiến tạo:

Tỉnh Đồng Nai thuộc vào Tây Nam đới Đà Lạt. Đới Đà Lạt là một khối lục địa tiền Cambri bị sụt lún trong Jura sớm - giữa kiểu bồn nội lục. Vào Jura muộn - Creta, đới Đà Lạt trong đó có tỉnh Đồng Nai, bị hoạt hóa magma - kiến tạo mạnh mẽ kiểu rìa lục địa tích cực (kiểu Anđơ) [13]. Trong Kainozoi, vùng chịu ảnh hưởng của hoạt hóa magma kiểu điểm nóng dẫn đến sự hoạt động mạnh mẽ của phun trào bazan, sự nâng lên của đới Đà Lạt và sụt võng đồng bằng sông Cửu Long.

II. Kiến trúc sâu :

Độ sâu bề mặt Moho 30 - 32,5 km nghiêng thoải từ Tây Nam về Đông Bắc. Mặt Konrad sâu 11 - 16 km cũng nghiêng từ Tây Nam về Đông Bắc. Độ sâu bề mặt móng kết tinh thay đổi từ 2 - 5 km. Theo độ sâu móng kết tinh, khu vực Biên Hòa nhô cao thuộc cánh Tây Nam của cấu trúc lớn Đà Lạt; khu vực Xuân Lộc - Chứa Chan là cánh Tây Bắc của cấu trúc lõm Hàm Tân [13].

Ở Nam Cát Tiên, bề mặt dưới lớp phủ bazan có dạng vòm, cao 120 - 150 m ở phần rìa tới 260 - 280 m ở phần trung tâm.

Ở Tân Phú - Định Quán bề mặt dưới lớp phủ bazan có dạng nghiêng thấp dần từ 130 - 150 m ở phía Tây Bắc đến 80 - 100 m về phía Đông Nam .

Ở Xuân Lộc, bề mặt dưới lớp phủ bazan có dạng lõm, độ cao thay đổi từ 50 - 80 m.

Bề mặt đáy trầm tích Neogen - Đệ tứ ở khu vực Biên Hòa - Long Thành phân bậc thấp dần về phía Đông Nam, thay đổi từ 30 - 50 m đến (-30) - (-100) m.

III. Các tổ hợp thạch kiến trúc:

Tham gia vào kiến trúc tỉnh Đồng Nai có 5 tổ hợp thạch kiến trúc [13]:

III.1. Tổ hợp thạch kiến trúc Trias trung:

Tổ hợp thạch kiến trúc Trias trung bao gồm các thành tạo trầm tích phun trào hệ tầng Châu Thới. Đây là thành tạo lục nguyên, phun trào axit. Chúng có đường phương Đông Bắc - Tây Nam với góc dốc 20 - 300 về phía Đông Nam. Dày trên 400 m.

III.2. Tổ hợp thạch kiến trúc Jura hạ - trung:

Tổ hợp thạch kiến trúc Jura hạ - trung bao gồm các thành tạo lục nguyên chứa carbonat hệ tầng Draylinh (J1đl) và trầm tích lục nguyên hệ tầng La Ngà (J2ln). Ngoài các diện phân bố đã đc mô tả, chúng còn được thấy trong hầu hết các lỗ khoan sâu dưới lớp phủ bazan và trầm tích Neogen - Đệ tứ. Đặc điểm chung của các trầm tích Jura: phân lớp mỏng, bị uốn nếp mạnh. Trục uốn nếp có phương chung là á kinh tuyến. Thế nằm của đá ở 2 cánh dốc dần từ phía Tây sang phía Đông (40 - 50o đến 60 - 70o).

III.3. Tổ hợp thạch kiến trúc Jura thượng - Kreta:

Tổ hợp thạch kiến trúc Jura thượng - Kreta bao gồm các đá thuộc 3 thành hệ: andesit kiềm vôi (hệ tầng Long Bình - J3lb), granodiorit kiềm vôi kiểu I (phức hệ Định Quán), thành hệ granit kiềm vôi kiểu I (phức hệ Đèo Cả).

III.4. Tổ hợp thạch kiến trúc Kreta thượng:

Tổ hợp thạch kiến trúc Kreta thượng bao gồm các thành hệ lục nguyên màu đỏ phân lớp thô cuả hệ tầng sông Lá Buông.

III.5. Tổ hợp thạch kiến trúc Pliocen - Đệ tứ :

Tổ hợp thạch kiến trúc Pliocen - Đệ tứ bao gồm 3 thành hệ:

 -Thành hệ bazan tholeit của hệ tầng Túc Trưng gồm các đá khá đồng nhất theo chiều ngang và chiều thẳng đứng, bị phong hóa mạnh tạo tầng đất đỏ dày.

- Thành hệ bazan olivin kiềm là các phun trào tuổi Đệ Tứ thuộc bazan hệ tầng Xuân Lộc, trachyandesit hệ tầng Sóc Lu, bazan hệ tầng Phước Tân, các lớp phủ bazan có cấu trúc dạng vòm nón là kết quả của nhiều đợt phun dung nham chảy tràn xen với các đợt phun nổ, tạo địa hình cao 200 - 280 m ở trung tâm, cao 50 - 70 m ở vòm. Các họng núi lửa phân bố dọc theo trục cong phương kinh tuyến, đứng độc lập hoặc thành cụm.

-Thành hệ lục nguyên bao gồm các trầm tích sông, biển, sông - biển lấp đầy các trũng và các thung lũng, tuổi từ Pliocen (hệ tầng Bà Miêu) tới Holocen.

IV. Khe nứt:

Khe nứt phát triển trong tất cả các loại đá theo 4 phương [13]: Đông Bắc - Tây Nam, Tây Bắc - Đông Nam, á kinh tuyến và á vĩ tuyến. Các thành tạo địa chất có tuổi càng cổ, càng gần các đứt gãy và các họng núi lửa, hệ thống khe nứt phát triển càng phức tạp về phương vị, tính chất dịch chuyển của các cánh và sự giao cắt nhau của chúng. Trong các thành tạo địa chất có tuổi trẻ hơn, hệ thống khe nứt phát triển đơn giản hơn. Trong các thành tạo bazan xa họng núi lửa, các khe nứt hầu như chỉ phát triển theo 2 phương chính là á vĩ tuyến và á kinh tuyến. Hiện tượng này có thể là kết quả của quá trình căng và ép kiến tạo theo các phương á vĩ tuyến và á kinh tuyến xảy ra ở Kainozoi muộn trong phạm vi đới Đà Lạt. Quá trình này có thể còn tái diễn trong giai đoạn hiện đại gây nứt đất ở Cẩm Mỹ và các vùng lân cận như Xà Bang (Bà Rịa - Vũng Tàu), Tân Uyên - Thới Hòa (Bình Dương).

V. Đứt gãy:

Các đứt gãy trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (Phạm Huy Long,1996) phát triển theo 4 phương chính [13], đáng kể là các đứt gãy chủ yếu sau đây [13]:

- Đứt gãy sông Sài Gòn (F1): kéo dài 17 km từ sông Nhà Bè, qua Phú Hữu đến ngã ba sông Đồng Tranh và rạch Ông Kèo. Chúng bị phủ bởi các trầm tích Đệ Tứ. Theo tài liệu địa vật lý sâu, đây là  đứt gãy thuận, dịch chuyển phải với mặt trượt hơi nghiêng về phía Tây Nam.

- Đứt gãy Long Thành - Bửu Long (F2): phát triển theo phương Tây Bắc - Đông Nam, dài 50 km từ Bửu Long đến Long Thành qua sông Thị Vãi. Tính chất của đứt gãy này chưa được xác định rõ nhưng có biểu hiện hoạt động yếu. Kết quả đo khí phóng xạ đạt 100 xung/phút.

- Đứt gãy Tân Định - Long Điền (F3): Kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam, dài trên 40 km thể hiện rõ trên địa hình và đường đẳng sâu đáy Kainozoi. Đây là đứt gãy thuận, mặt trượt nghiêng về phía Tây Nam.

- Đứt gãy Núi Đất - Xuyên Mộc (F4): phát triển theo phương Tây Bắc - Đông Nam qua Suối Linh, Sóc Lu, phía tây Cẩm Mỹ, dài trên 70 km. Đây là đứt gãy thuận, dịch chuyển phải với mặt trượt nghiêng về phía Tây Nam.

- Đứt gãy Chứa Chan - Mã Đà (F5): phát triển theo phương Tây Bắc - Đông Nam từ lâm trường Mã Đà qua Xuân Thọ, Chứa Chan tới núi Mây Tào. Tính chất của đứt gãy này chưa được xác định rõ. Cường độ phóng xạ dọc theo đứt gãy ở mức trung bình thấp (< 100 xung/phút).

- Đứt gãy Vũng Tàu  - Định Quán (F6): phát triển theo hướng kinh tuyến, dài khoảng 80 km, từ cực Bắc của tỉnh qua Định Quán, Cẩm Mỹ. Đứt gãy được xác định bằng các tài liệu địa vật lý, từ và trọng lực, ảnh hàng không và địa hình. Đây có thể là 1 đứt gãy toác hình thành trong trạng thái trường ứng suất kiến tạo siết ép theo phương kinh tuyến và tách giãn theo phương á vĩ tuyến. Pha hoạt động này xảy ra trong Pliocen - Đệ Tứ, và có lẽ còn kéo dài đến hiện nay. Các kết quả đo khí phóng xạ đều cho giá trị cao, từ 200 đến 400 xung/phút. Các điểm nứt đất Cẩm Mỹ, Xà Bang cũng nằm gần trùng với đường đứt gãy.

- Đứt gãy Suối Linh - Tân Phú (F8): kéo dài theo phương Đông Bắc - Tây Nam khoảng 50 km từ Sông Bé qua Suối Linh đến Tân Phú. Đứt gãy này thể hiện rõ từ ảnh hàng không bởi hàng loạt các photolineament cùng phương. Theo tài liệu địa vật lý sâu thì đứt gãy là đứt gãy thuận với mặt trượt hơi nghiêng về phía Tây Bắc.

- Đứt gãy Long Hưng - Phú Bình (F9): phát triển theo phương Đông Bắc - Tây Nam dài khoảng 90 km từ sông Đồng Nai qua Long Hưng, Gia Tân đến Phú Bình. Các tài liệu khe nứt và địa vật lý cho thấy đây là đứt gãy thuận, dịch chuyển trái, mặt trượt nghiêng về Tây Bắc.

- Đứt gãy Suối Ty - Xuân Lộc (F10): phát triển theo phương kinh tuyến, dài khoảng 80 km. Đứt gãy được xác định theo tài liệu địa vật lý và ảnh hàng không. Dọc theo 2 cánh của đứt gãy có biểu hiện hàng loạt các họng núi lửa.

V. Các Geobloc (các khối địa chất):

Các geobloc [13] được xác định và phân chia trên cơ sở nghiên cứu cấu trúc địa chất, thành phần vật chất từng khu vực và đặc điểm đứt gãy. Theo Phạm Huy Long 1995, trên địa phận tỉnh Đồng Nai có 4 geobloc.

- Geobloc Biên Hòa - Long Thành: nằm ở phía Tây Nam của đứt gãy Tân Định - Long Điền (F3). Có thể xem đây là 1 bộ phận hạ của cấu trúc Đà Lạt hoặc bộ phận rìa của cấu trúc nâng đới Sài Gòn. Địa khối có lớp phủ trầm tích dày trung bình 20 - 30 m, cực đại 70 - 90 m (khu vực Vĩnh Thanh). Móng của lớp phủ là các thành tạo trầm tích hệ tầng Draylinh, La Ngà và hệ tầng Châu Thới, phun trào dacit hệ tầng Long Bình hoặc các thành tạo magma xâm nhập. Ở một vài nơi như Phước Thọ - Giang Điền, Bửu Long - Hóa An, Hố Nai, các móng được lộ ra trên địa hình.

- Geobloc Xuân Lộc: nằm ở khu vực trung tâm, được giới hạn bởi các đứt gãy Tân Định - Long Điền (F3), Chứa Chan - Mã Đà (F5), Long Hưng - Phú Bình (F9). Chúng được đặc trưng bởi sự phân bố rộng khắp các thành tạo phun trào tuổi Đệ Tứ và hàng loạt các biểu hiện của họng núi lửa dọc theo 2 cánh của đứt gãy  Suối Ty - Xuân Lộc, dày trung bình 40 - 50 m, dày nhất 200 - 300 m. Dưới bazan đây đó vẫn gặp các tập trầm tích của hệ tầng Bà Miêu, hệ tầng Trảng Bom. Các đá móng trước Kainozoi là các thành tạo lục nguyên - carbonat của hệ tầng Draylinh, La Ngà chỉ lộ ra với diện nhỏ ở phía Bắc và Đông Bắc của địa khối. Chúng bị phủ bởi các trầm tích và phun trào Pliocen - Đệ Tứ. Phương cấu trúc của các thành tạo này chủ yếu là phương kinh tuyến và á kinh tuyến. Gần các đứt gãy, chúng bị vò nhàu, uốn nếp mạnh.

- Geobloc Suối Linh - Vĩnh An: nằm về phía Tây Bắc của tỉnh, được giới hạn bởi các đứt gãy Long Hưng - Phú Bình (F9) và Suối Ty - Xuân Lộc (F10). Móng trước Kainozoi là các thành tạo lục nguyên - carbonat của hệ tầng Draylinh, hệ tầng La Ngà có phương cấu trúc chung á kinh tuyến và kinh tuyến. Xuyên cắt chúng là các thể granitoit phức hệ Định Quán. Phun trào bazan trẻ chỉ phân bố hạn chế ở Cây Gáo.

- Geobloc Định Quán - Chứa Chan: nằm về phía Đông Bắc của tỉnh, được giới hạn bởi các đứt gãy Chứa Chan - Mã Đà (F5) và Suối Ty - Xuân Lộc (F10). Đá móng của địa khối là các thành tạo lục nguyên - carbonat của hệ tầng Draylinh và La Ngà có phương cấu trúc chung là kinh tuyến, á kinh tuyến. Gần các đứt gãy chúng bị vò nhàu, uốn nếp khá mạnh, các nếp uốn thường có dạng đối xứng với mặt trục kéo dài phương kinh tuyến, á kinh tuyến. Xuyên cắt chúng là các đá xâm nhập của phức hệ Định Quán, phức hệ Đèo Cả và phức hệ Cà Ná. Phủ lên trên là trầm tích hệ tầng Trảng Bom, các phun trào bazan toleit và bazan olivin kiềm với hàng loạt biểu hiện các họng núi lửa dọc theo đứt gãy Vũng Tàu - Định Quán. Dọc theo các sông Đồng Nai, La Ngà thành tạo các trầm tích bở rời dày một vài mét đến 15 -25 m.

VII. Lịch sử phát triển kiến tạo:

Vùng Đồng Nai là một bộ phận của vỏ lục địa tiền Cambri. Trong Paleozoi và Mezoizoi sớm, vùng cũng chịu tác động của sự sụt lún và hoạt hóa magma kiến tạo. Dấu vết của thời kỳ này là các thành tạo lục nguyên phun trào axit tuổi Trias giữa hệ tầng Châu Thới.

Trong Jura sớm - giữa, lãnh thổ Đồng Nai là 1 bộ phận của bồn nội lục Đà Lạt bị sụt lún, lắng đọng các trầm tích lục nguyên ven bờ. Từ giữa Jura, biển nông và khép dần.

Vào Jura muộn - Creta, vùng này cũng như đới Đà Lạt trải qua các pha tạo núi với các hoạt động xâm nhập - núi lửa rầm rộ loạt kiềm vôi do quá trình chui mảng Thái Bình Dương cổ về phía Tây dưới mảng lục địa châu Á. Trong vùng xuất hiện các đá phun trào hệ tầng Long Bình và các đá xâm nhập phức hệ Định Quán, phức hệ Đèo Cả, phức hệ Cà Ná.

Trong Paleogen - Miocen, Đồng Nai chịu ảnh hưởng của sự nâng lên khối tảng, nâng vòm. Kèm theo các quá trình xâm thực bóc mòn hình thành các bề mặt san bằng và địa hình đồi núi.

Trong Pliocen - Đệ Tứ: vùng được nâng hạ phân dị, kèm theo sự hoạt động mạnh mẽ của phun trào bazan. Khu vực phía Bắc và Đông Bắc, địa hình có xu hướng nâng bóc mòn. Khu vực phía Nam, Tây Nam, địa hình có xu hướng hạ lún tích tụ và nâng lên tương đối tạo thềm. Phun trào xảy ra trong nhiều đợt thuộc 3 giai đoạn Pliocen - Đệ tứ, Pleistocen giữa và Pleistocen muộn. Các miệng núi lửa trẻ xuất hiện dọc theo đứt gãy phương kinh tuyến, á kinh tuyến.

Comments