D. Khoáng sản

KHOÁNG SẢN


Khoáng sản tỉnh Đồng Nai [4, 6,12, 18, 19, 20] tương đối phong phú về chủng loại và đa dạng về loại hình nguồn gốc. Trong số đó, vật liệu xây dựng có tiềm năng nhất.

I. Than bùn:

Than bùn phân bố ở Phú Bình (nay là xã Phú Sơn huyện Tân Phú), Hóa An, khu tổng kho Long Bình, Long Hưng, Tam Phước, Tam An...

Chúng được thành tạo trong các trũng thấp có nguồn gốc hồ - đầm lầy hoặc đầm lầy - sông tuổi hiện đại, diện tích 0,5 ha đến hàng chục ha. Than bùn nằm ngang, dạng thấu kính, lộ thiên hoặc bị phủ dày 0,5 - 3 m ở phía trên. Bề dày thay đổi từ 0,5 - 2 m đến 2,5 - 3 m, có nơi đến 5 m và  tăng dần từ rìa trũng vào trung tâm của trũng.

Than có màu xám đen, xám nâu, lẫn nhiều sét, lượng hữu cơ thấp, độ xốp kém, độ tro cao, lượng chất bốc và nhiệt lượng thấp, hàm lượng lưu huỳnh không ổn định. Trong số các điểm, mỏ than bùn, hai điểm mỏ Phú Bình, Phú Sơn (huyện Tân Phú) và Hóa An (Biên Hòa) có trữ lượng cấp C2 là 450.000 m3, mỏ Phú Bình và Phú Sơn có chất lượng và triển vọng hơn, trữ lượng dự báo cấp P2 trên 300.000 tấn. Trong khu vực, than bùn đã và đang được khai thác làm phân vi sinh.

II. Nhóm kim loại:

Cho đến nay đã phát hiện được 19 mỏ và điểm quặng vàng, 2 mỏ laterit bauxit và nhiều biểu hiện khoáng hóa chì - kẽm, vàng - bạc, caxiterit.

II.1. Vàng:

Khoáng hóa vàng khá phổ biến nhưng tập trung chủ yếu ở phía Bắc của tỉnh, liên quan với nhiều thành tạo địa chất khác nhau. Có 3 kiểu thành tạo chính [12].

II.1.1. Vàng nguồn gốc nhiệt dịch: liên quan với xâm nhập granodiorit phức hệ Định Quán và phức hệ Đèo Cả. Ở Hiếu Liêm, vàng nằm trong đới nội và ngoại tiếp xúc với các đá xâm nhập phức hệ Định Quán. Ở Vĩnh An chúng nằm cách xa khối xâm nhập 7 - 8 km. Vàng xâm tán trong các mạch thạch anh, thạch anh sulphua, lấp đầy các khe nứt trong granodiorit (nội tiếp xúc) và trong các đá bột kết, đá phiến sét (ngoại tiếp xúc). Kích thước mạch thay đổi từ vài cm đến vài chục cm, tạo thành các hệ mạch, có khi là các mạch lớn dày 1 - 2 m. Hàm lượng vàng không ổn định. Trong các mạch thạch anh, thạch anh sulfua và trong đới nội tiếp xúc, xuống dưới sâu vàng có hàm lượng lớn hơn. Cùng với các vành phân tán trọng sa vàng tự sinh, chúng tạo nên các đới khoáng hóa rộng 1 - 3 km, phát triển dọc theo đới tiếp xúc với các khối magma. Trữ lượng dự báo cấp P2 với mỏ vàng Vĩnh An là trên 3.800 kg.

Vàng liên quan với xâm nhập phức hệ Đèo Cả mới thấy ở Hang Nai, Long Thành. Vàng xâm tán trong các mạch thạch anh, trong đá trầm tích phun trào hệ tầng Châu Thới. Hàm lượng vàng thấp, các mạch chứa vàng phân bố hạn chế, kích thước bé.

II.1.2. Vàng nguồn gốc viễn nhiệt: chỉ gặp ở Hóa An, vàng liên quan đến phun trào trung tính hệ tầng Long Bình. Vàng xâm tán trong đới biến đổi propilit hóa, phân bố trong các trung tâm họng núi lửa cổ, thuộc đới khoáng hóa có phương Đông Bắc - Tây Nam, rộng 30 - 50 m, dài 300 - 400 m. Hàm lượng vàng thấp, hầu hết < 0,2g/T, ít khi 0,8 - 1,2 g/T. Kiểu khoáng hóa này không có giá trị công nghiệp.

II.1.3. Vàng sa khoáng: có 5 vành phân tán trọng sa vàng ở Suối Ty, Suối Cao, Suối Linh, núi Trâu, suối Tam Bung. Chúng đều liên quan với các khối xâm nhập phức hệ Định Quán. Hàm lượng thấp 1 - 25 hạt/10 dm3. Các hạt có kích thước bé (0,05  - 0,35 mm), dạng vảy. Khoáng vật đi kèm thường có xinaba, caxiterit, inmenit, manhetit,corindon.

Vàng sa khoáng Suối Ty có trữ lượng dự báo cấp P2 là 217kg, được coi là 1 điểm quặng có triển vọng.

II.2 Bauxit (quặng nhôm):

Bauxit là quặng nhôm có nguồn gốc phong hóa phát triển trên bazan hệ tầng Túc Trưng ở khu vực Nam Cát Tiên. Vỏ phong hóa tạo quặng dày trên 10 m. Quặng lộ thiên hoặc bị phủ dày 0,5 - 2,5 m. Các khoáng vật chủ yếu là  gipxit, bomit, điaspo, gơtit, hydrogơtit. Thành phần hóa học của quặng nguyên khai ở Daktapo: SiO2 = 12,77%, Fe2O3 = 16,49%, Al2O3 = 50,38%, TiO2 = 1,95%, CaO + MgO = 0,9%. Trữ lượng dự báo cấp P2 của  2 mỏ Đa Ta Pok và lâm trường La Ngà là 22.025.000m3. Trữ lượng dự báo cấp P2 toàn khu vực Nam Cát Tiên có thể đạt đến 450 triệu m3 [19].

II.3. Chì - kẽm:

Hiện nay có 2 điểm quặng chì - kẽm ở Chứa Chan (Xuân Lộc) và Bửu Long (Biên Hòa) [12].

Ở Bửu Long quặng chì - kẽm tồn tại dưới dạng mạch lấp đầy các khe nứt trong các tập đá của hệ tầng Châu Thới. Hàm lượng quặng: Pb = 1,83%, Zn = 31,64%. Đây là một điểm quặng ít triển vọng.

Ở Chứa Chan, quặng chì - kẽm xâm tán trong các mạch granit aplit xuyên cắt các đá xâm nhập phức hệ Cà Ná. Quặng có hàm lượng nghèo và không có ý nghĩa thực tế.

II.4. Thiếc:

Được phát hiện qua các vành phân tán trọng sa khoáng vật caxiterit ở vùng Bà Hào (Vĩnh An) và Chứa Chan (Xuân Lộc)[12]. Vành phân tán caxiterit ở Bà Hào rộng 50 km2, hàm lượng caxiterit 0,04 - 31 g/m3[12]. Ở khu vực thiếc gốc với hàm lượng Sn = 0,2- 1% (theo kết quả phân tích quang phổ bán định lượng) đã được thấy trong granit biotit dạng porphyr thuộc phức hệ Cà Ná (Ankroet), các vành phân tán caxiterit phát triển trên diện 25 km2, hàm lượng caxiterit từ 4,6 - 84 g/m 3 [7] .

III. Nhóm phi kim loại:

III.1. Phụ nhóm nguyên liệu phi kim loại:

Khoáng sản thuộc nhóm phi kim loại khá phong phú, có tiềm năng, trữ lượng lớn bao gồm: Kaolin, bột màu tự nhiên, đá vôi, thạch anh mạch và vật liệu xây dựng.

III.1.1. Kaolin: Phân bố ở Tân Phú, Bà Ba, Tân Phong, Thạnh Phú (huyện Vĩnh Cửu) Tây Nam ga Hố Nai, Đông Bắc ga Hố Nai, Tam An, Phước Thọ, (huyện Long Thành), Phước Thiền, Hang Nai (huyện Nhơn Trạch). Chúng có mặt trong các trầm tích Pleistocen ở khu vực Biên Hòa - Long Thành, bị phủ dày một vài mét dưới các tầng sét màu vàng, cát bột sét bị phong hóa laterit. Kaolin lẫn trong cát, độ thu hồi không ổn định, cấp hạt <0,1 mm, 25 - 40%, ít khi 80 - 90%. Lượng SiO2: 60 - 75%, sắt khá cao (Fe2O3: 1,5%), kaolin không đạt tiêu chuẩn nguyên liệu gốm sứ. Kaolin có thể dùng để sản xuất đồ sành dân dụng. Trữ lượng cấp C2 của 2 mỏ Long Thọ và Phước An (Nhơn Trạch) là 10,77 triệu tấn [19].

II.1.2. Bột màu tự nhiên: tồn tại dưới dạng nguyên liệu sét màu đỏ son, đỏ sẫm đến vàng tươi. Bột màu đỏ thường được thấy trong trong các vỏ phong hóa từ bazan vùng Long Khánh, Xuân Lộc. Bột màu vàng là các lớp kẹp, thấu kính trong trầm tích sét bột loang lổ hệ tầng Bà Miêu ở Long Bình Tân. Chúng có trữ lượng không lớn, có thể dùng làm chất trộn màu [12].

II.1.3. Đá vôi: mới phát hiện được hai điểm đá vôi dạng kết vón vôi và cát kết chứa vôi ở Tân Phú và Suối Cát (Xuân Lộc). Chúng có nguồn gốc thấm đọng, được hình thành do sự kết tủa carbonat canxi từ sản phẩm hòa tan của các đá giàu cacbonat tạo thành lớp dày 0,5 - 4 m ở phần địa hình thấp trũng. Thành phần chủ yếu là canxit dạng vi hạt, CaO: 43,4 - 50%. Trữ lượng dự báo cấp P2 ở Tân Phú: 0,5 triệu tấn, ở Suối Cát: 0,08 triệu tấn [19].

III.1.4. Thạch anh: Thạch anh được sử dụng cho luyện kim sản xuất ferosilic trong lò điện. Chúng phân bố rải rác dưới dạng mạch ở Xuân Tâm, Suối Cao (Xuân Lộc), Phú Ngọc (Định Quán). Các mạch thường cắm dốc 70 - 900, phương Tây Bắc - Đông Nam, bề dày thay đổi từ 1 - 2 cm đến 5 - 6 m. Thạch anh thường bị nhiễm oxit sắt. Hàm lượng SiO2 = 92 - 97,6%, Al2O3 + Fe2O3 = 0,6 - 3% [12]. Mỏ Xuân Tâm (Xuân Lộc) có trữ lượng dự báo cấp P2 là 11.000 tấn [19].

III.2. Phụ nhóm vật liệu xây dựng:

Khoáng sản vật liệu xây dựng là loại khoáng sản có tiềm năng lớn nhất của tỉnh Đồng Nai. Trong số đó, đá xây dựng, cát xây dựng, sét gạch ngói, puzơlan, laterit là chủ yếu:

III.2.1. Đá xây dựng: Phân bố ở nhiều nơi với 37 mỏ lớn nhỏ khác nhau. Đá có nguồn gốc xâm nhập, phun trào và trầm tích - phun trào.

Đá xây dựng có nguồn gốc xâm nhập liên quan đến các thành tạo thuộc phức hệ Định Quán, Cà Ná, Đèo Cả. Trừ các đới dập vỡ, các đá thường có cấu tạo khối, kiến trúc hạt vừa đến lớn, độ nguyên khối trên 1 m3, độ kháng nén cao, độ mài mòn lớn.

Liên quan với phức hệ Định Quán có các mỏ đá xây dựng Phú An (Tân Phú), Thanh Tùng (1), Thanh Tùng (2) thuộc huyện Định Quán, Nam Đông Bắc (Định Quán), Xuân Hòa (1), Xuân Hòa (2) (thuộc huyện Xuân Lộc). Ở các mỏ granit Thanh Tùng, đá bị nứt nẻ mạnh, độ nguyên khối không cao, hệ số rỗng 0,52, tỉ trọng 2,31 kg/cm3, dung trọng 2,58 g/cm3, cường độ kháng nén 933 - 1550 kg/cm2, độ mài mòn tay quay 2,4 - 7,2%. Đá được khai thác làm đá chẻ, đá hộc, đá dăm xây dựng. Trữ lượng dự báo cấp P2 đối với các mỏ Thanh Tùng là 10 triệu m3 [12], mỏ Phú An là 44 triệu m3. Trữ lượng cấp C1 của mỏ Xuân Hòa (2) là 4 triệu m3 [19].

Liên quan với phức hệ Cà Ná có các mỏ Chứa Chan, Núi Le, Đồi Mai (Xuân Lộc). Ở núi Le, đá có màu sắc đẹp có thể dùng làm đá ốp lát. Trữ lượng cấp C1 của hai mỏ Núi Le và Đồi Mai là 10,075 triệu m3. Trữ lượng dự báo cấp P2 của mỏ Chứa Chan là 140 triệu m3 [19].

Đá xây dựng nguồn gốc phun trào thành phần trung tính liên quan với các thành tạo của  hệ tầng Long Bình, thành phần andesit, andesitobazan và tuf của chúng. Đá có cấu tạo dòng chảy, dạng mảnh vụn, kiến trúc porphyr, cường độ kháng nén cao nhưng bị nứt nẻ mạnh, độ nguyên khối thấp. Chúng được khai thác làm đá hộc, đá dăm để rải đường và dùng trong xây dựng. Trữ lượng cấp C1 với hai mỏ Hóa An và Tân Hạnh (Biên Hòa) là 11 triệu m3. Trữ lượng cấp B + C của mỏ Bình Hóa (Biên Hòa) là 9.412.670 m3. Trữ lượng dự báo cấp P2 với mỏ Bình Hòa (Vĩnh Cửu), Long Bình Tân (Biên Hòa) là 11,4 triệu m3 [19].

Đá xây dựng nguồn gốc phun trào thành phần bazơ liên quan với các thành tạo bazan hệ tầng Xuân Lộc, Sóc Lu, Phước Tân. Các đá bazan của hệ tầng Túc Trưng và hệ tầng Xuân Lộc có diện phân bố rộng lớn nhưng thường bị phong hóa mạnh tạo lớp phủ dày 1 vài mét đến vài chục mét, lộ ra không nhiều trên địa hình. Tuy vậy, các mỏ đá bazan vẫn được thấy và được khai thác ở nhiều nơi. Thành phần: bazan olivin, andesitobazan cấu tạo đặc xit xen lỗ rỗng, kiến trúc forphyr, nền gian phiến. Đá rắn chắc, cường độ kháng nén trung bình đến cao. Chúng được khai thác làm đá dăm, đá hộc trải đường và dùng trong xây dựng. Liên quan đến bazan hệ tầng Xuân Lộc có các mỏ Xuân Bắc, Xuân Trường, Xuân Thành (Xuân Lộc) trữ lượng dự báo là 1,5 triệu m3. Liên quan với hệ tầng Sóc Lu là các đá có cấu tạo khối, rắn chắc, nứt nẻ mạnh, thể trọng 2,65 g/cm2, tỷ trọng 2,89 g/cm3, hệ số rỗng 0,091, độ hút nước 1,14%, cường độ kháng nén 1090 - 1210 kg/cm2, độ mài mòn tay quay là 19,8%; trữ lượng cấp B + C của 5 mỏ đạt 71 triệu m3. Liên quan đến bazan hệ tầng Phước Tân có 10 mỏ, trữ lượng cấp B + C  đối với hai mỏ Cây Gáo (3) (Vĩnh Cửu) và Long An (Long Thành)  là 10 triệu m3; cấp C1 với mỏ Trảng Bom (1) (Thống Nhất), Suối Trầu (1), Suối Trầu (2) (Long Thành) là 4,2 triệu m3; cấp P2 với các mỏ còn lại là 7,4 triệu m3 [12, 19].  

Đá xây dựng nguồn gốc trầm tích - phun trào liên quan với các thành tạo của hệ tầng Châu Thới gồm cát kết tuf, sạn kết tuf, cát kết arkos, cuội kết đa khoáng. Đá có cấu tạo phân lớp, dạng khối, kiến trúc mảnh vụn trên nền ẩn tinh hoặc thủy tinh, rắn chắc, nứt nẻ mạnh, cường độ khoáng nén cao, chất lượng tốt. Đá đã được khai thác làm đá hộc, đá dăm, đá khối tạc tượng, bia mộ. Trữ  lượng dự báo cấp C1  của mỏ Tân Hạnh (Biên Hòa)  là 6 triệu m3; cấp B + C của mỏ Tân Bản (Biên Hòa) là 5,5 triệu m3 [12,19].

III.2.2 Cuội sỏi: Tập trung trong các tầng trầm tích Đệ Tứ (chủ yếu trong hệ tầng Trảng Bom), được thấy ở khu vực Biên Hòa - Long Thành. Chúng nằm dưới lớp phủ 3 - 5 m, bề dày thay đổi 0,5 - 2 m, trung bình 1 m. Cuội thường chiếm 40 - 45% trong tập hợp cuộc sỏi cát bột sét. Thành phần cuội hầu hết là thạch anh màu trắng đục. Kích thước cuội 0,3 - 1,5 cm, ưu thế 0,3 - 0,7 cm. Cuội sỏi có thể được sử dụng để đúc bê tông, vật liệu trang trí ốp lát, làm đá rửa granito, lọc nước. Tổng các trữ lượng dự báo cấp P2 của 6 điểm mỏ là 2.387.000 m3, riêng với mỏ Hố Nai 4 (Thống Nhất) và Bình Sơn (Long Thành) là  1,282  triệu m3.

III.2.3. Cát xây dựng: phân bố trong các lòng sông suối hiện đại. Dọc theo sông Đồng Nai, cát tập trung thành 21 bãi lớn nhỏ khác nhau trên chiều dài 30km từ Tân Uyên đến Cát Lái. Tuy nhiên,  trữ lượng và chất lượng cát, ý nghĩa sử dụng của chúng tại các đoạn sông khác nhau cũng khác nhau.

Đoạn Tân Uyên - Bình Hòa, cát có thành phần thạch anh hạt trung - thô là chủ yếu, dày 5 - 20 m, màu vàng thích hợp cho việc xây và đúc bê tông. Trữ lượng cấp C1 + C2 của 10 bãi là 5.776.000  m 3 [6,19].

Đoạn dưới cầu Đồng Nai đến Long Hưng chủ yếu là cát trung - mịn, dày 15 - 25 m, dùng để xây và tô trát, trữ lượng cấp C1 + C2 của 2 bãi là 3.351.000 m3 [6,19].

Đoạn từ Long Hưng đến cửa sông Sài Gòn, cát bị nhiễm mặn nhẹ hiện nay đang được khai thác dùng làm vật liệu san lấp. Trữ lượng cấp C1 + C2 của 12 bãi là 54.704.000 m3 [6,19], cấp P2 của 2 bãi là 21.300.000 m3 [6,19].

Cát còn phân bố dọc theo sông La Ngà, các sông suối nhỏ bắt nguồn từ các khu vực phát triển các đá xâm nhập và trầm tích Jura ở Xuân Tân, Xuân Hải, Xuân Trường (Xuân Lộc), ở Phú An, Phú Bình (Tân Phú), ở lâm trường Mã Đà, La Ngà. Đây cũng là một nguồn trữ lượng cát xây dựng đáng kể.

Nếu kể đến nguồn cát có thể được làm sạch từ các tập trầm tích cát bột thuộc các thành tạo trầm tích bở rời thuộc hệ tầng Trảng Bom, Thủ Đức, Củ Chi, nguồn cát thường xuyên bổ cập vào hồ Trị An thì nguồn cát xây dựng của tỉnh Đồng Nai là vô cùng to lớn.

III.2.4. Sét gạch ngói: phân bố khá rộng rãi liên quan với nhiều thành tạo địa chất khác nhau. Đến nay, đã phát hiện được 27 mỏ và điểm quặng, trong đó nhiều mỏ đang được khai thác và sử dụng. Sét được thành tạo có 2 nguồn
gốc: phong hóa và trầm tích. Trữ lượng và chất lượng sét phụ thuộc ít nhiều vào nguồn gốc thành tạo của chúng.

III.2.4.1. Sét gạch ngói có nguồn gốc phong hóa: thành tạo trên các đá trầm tích hệ tầng Draylinh và hệ tầng La Ngà. Trên các đá trầm tích hệ tầng Draylinh có 2 mỏ sét Thiện Tân và Hố Nai. Sét hạt mịn, màu loang lổ, cường độ kháng nén của sản phẩm sau khi nung từ 73 - 201 kg/cm2, trung bình đến cao, độ hút nước lớn. Sét lộ thiên hoặc bị phủ dày 1 - 6 m. Bề dày tầng sét thay đổi 2 - 10 m, trung bình 4,5 m. Trữ lượng cấp C2 của mỏ Hố Nai (Thống Nhất) là 18,9 triệu m3, cấp B + C của mỏ Thiện Tân (Vĩnh Cửu) là 3,19 triệu m3 [12,19].

Trên các đá trầm tích hệ tầng La Ngà hiện nay đã phát hiện được 7 mỏ: Hà Lầm, lâm trường Đoàn 600 (Tân Phú), Phú Túc (Định Quán), Gia Kiệm (Thống Nhất) và Thọ Vực, Sông Ngạn (Xuân Lộc), tổng kho Long Bình (Biên Hòa). Địa hình tạo vỏ phong hóa chứa sét là các đồi thoải. Sét có chiều dày không ổn định, chất lượng trung bình, hàm lượng Al­2O3 khá cao (25 - 35%), do đó nhiệt độ nung cao. Trữ lượng dự báo cấp P2  của 7 mỏ là 6,275 triệu m3.

III.2.4.2. Sét nguồn gốc trầm tích: Liên quan tới các trầm tích thuộc hệ tầng Bà Miêu, hệ tầng Củ Chi và trầm tích sông tuổi Holocen.

Liên quan với các trầm tích của hệ tầng Bà Miêu, đã phát hiện được 5 mỏ sét ở Hóa An, Long Bình Tân (Biên Hòa), Núi Đất, Phước Tân, An Lợi (Long Thành). Sét có màu loang lổ đến vàng nâu, phân lớp ngang. Sét có chất lượng khá tốt. Các chỉ tiêu đều đạt tiêu chuẩn sản xuất gạch ngói. Các thân sét có quy mô khá lớn, chiều dày 5 - 10 m nhưng thường bị phủ dày. Trữ lượng cấp C1 + C2 của 4 mỏ là 26,57 triệu m3, cấp P2 của mỏ Long Bình Tân là 1 triệu m3 [12,19].

Liên quan với  các trầm tích của hệ tầng Củ Chi, đã phát hiện được 3 mỏ. Các mỏ này có diện phân bố hạn chế, chiều dày lớp phủ lớn (1,5 - 6,5 m). Sét có màu xám, vàng nhạt loang lổ, dày thay đổi 1,9 - 16 m trung bình 6 m.. Trữ lượng tính riêng đối với mỏ Long An (Long Thành) cấp P2 là 16,5 triệu m3 [12,19].

Trong các trầm tích sông suối tuổi Holocen đã phát hiện được 4 mỏ: Tà Lài, Phú Sơn (Tân Phú), Suối Cát (Xuân Lộc), Suối Sâu (Vĩnh Cửu). Sét thường lộ trên mặt hoặc bị phủ mỏng, điều kiện khai thác dễ dàng, dày 1 - 4 m.  Sản phẩm sau khi nung có màu sắc đẹp, chất lượng tốt, cường độ kháng nén cao. Trữ lượng cấp P2 của 3 mỏ Tà Lài, Phú Bình và Suối Sâu là 5,750 triệu m3, cấp B + C của mỏ Suối Cát là 4,5 triệu m3 [12,19].

III.2.5. Nguyên liệu keramzit: Keramzit là sản phẩm nhân tạo dạng dăm, sỏi, cát hoặc khối xốp nhẹ rắn chắc được sản xuất bằng phương pháp nung nhanh từ loại sét dễ chảy. Đặc điểm: nhẹ, chịu lực cao, cách âm, cách nhiệt tốt, thuộc loại vật liệu xây dựng cao cấp.

Đá phiến sét vôi trong hệ tầng Draylinh chính là nguồn nguyên liệu keramzit. Đá dùng làm nguyên liệu keramzit có màu xám đen, rắn chắc, dễ sủi bọt với axit clohydric 10%, nứt nẻ mạnh, phân lớp dày, hệ số nở phồng 1,5 - 3. Các đặc điểm hóa học, khoáng vật đạt tiêu chuẩn vật liệu kezamzit. Hiện nay, đã phát hiện được 2 mỏ nguyên liệu keramzit Đại An và Trị An. Trữ lượng dự báo cấp P2 cho hai mỏ là 8 triệu m3 [12,19].

III.2.6. Vật liệu san lấp: Nguồn vật liệu san lấp rất phong phú và có tiềm năng lớn. Thành tạo trầm tích bở rời gồm cát pha bột sét của hệ tầng Trảng Bom và Thủ Đức có diện phân bố rộng hàng trăm km2, bề dày 10 - 30 m, là nguồn vật liệu san lấp tiềm tàng. Chỉ tính riêng mỏ Ông Tước xã Phước An (Long Thành) trữ lượng cấp P2 đã đạt tới 12 triệu m3 [12,19].

Cát mịn nhiễm mặn nhẹ lòng sông Đồng Nai (đoạn sông Tắc - Cát Lái), tính ở 4 bãi lớn, trữ lượng dự báo cấp P2  trên 54 triệu m3. Dưới tác động của dòng chảy, trên đoạn sông này, cát thường xuyên được bổ sung trữ lượng.

Ngoài ra, được tính vào vật liệu san lấp là các phần đất thải và đất phủ trên các mỏ đá, mỏ sét và các mỏ laterit không đạt tiêu chuẩn làm phụ gia ximăng. Riêng về khía cạnh này trữ lượng vật liệu san lấp cũng rất lớn.

IV. Nguyên liệu phụ gia, bột màu, luyện kim:

IV.1. Nguyên liệu phụ gia ximăng: gồm có puzơlan và laterit:

Puzơlan liên quan với phun trào bazan phân bố rộng rãi trên địa bàn của tỉnh. Đến nay đã phát hiện được 23 mỏ, trong đó có 4 mỏ lớn, 9 mỏ vừa và 10 mỏ nhỏ, tập trung ở các huyện Định Quán, Long Khánh, Tân Phú, Cây Gáo (Thống Nhất), Vĩnh Tân (Vĩnh Cửu).

Bazan được sử dụng làm phụ gia ximăng (puzơlan) là bazan olivin cấu tạo bọt hoặc lỗ rỗng có độ hút vôi cao. Các oxit hoạt tính SiO2 = 8 - 10%, Al2O3 = 8 - 11%. Độ hút vôi thay đổi từ 50 - 103 mg CaO/g, phổ biến 70 - 80 mg CaO/g. Chúng thường liên quan với các miệng núi lửa dương và thành tạo bazan hệ tầng Phước Tân, điều kiện khai thác dễ dàng. Bề dày thay đổi từ 1 vài mét đến 50 m. Trữ lượng dự báo cấp P2 của 19 mỏ  là 411.299.894 tấn; cấp A + B + C1 của các mỏ Bến Tắm (Vĩnh Cửu) là 55.123.106 m3 [12,19].

Laterit khá phổ biến. Chúng phát triển trên các đá trầm tích hệ tầng Draylinh, hệ tầng La Ngà và trên các đá phun trào bazan hệ tầng Xuân Lộc, các trầm tích Đệ tứ tuổi Pleistocen. Cho đến nay, đã phát hiện được 4 mỏ vừa, 5 mỏ nhỏ, và 3 điểm quặng laterit.

Laterit được thành tạo do phong hóa các đá trầm tích thường phân bố ở độ cao 50 - 90 m  đến 100 - 120 m trên địa hình đồi lượn sóng thoải. Chúng thường bị phủ bởi cát bột sét dày 0 - 3 m. Đặc điểm: laterit màu vàng kết cấu khối rắn chắc, cấu tạo khung tổ ong với các lỗ hổng đôi khi lấp đầy bởi bột sét. Thành phần chủ yếu là hydroxit sắt Fe2O3 = 35 - 54,5%, tỷ lệ Fe2O3 /Al2O3 > 3 đạt yêu cầu phụ gia xi măng. Bề dày thay đổi 1 - 5 m, trung bình 2,5 m. Trữ lượng dự báo cấp P2 đối với các  mỏ Bà Hào, Mã Đà, Trị An, Giang Tới (Vĩnh Cửu) là 38,7 triệu tấn, cấp B + C của mỏ Tân An (Vĩnh Cửu) là 3.234.000 tấn [12,19].

Laterit được thành tạo do phong hóa  từ các trầm tích thuộc hệ tầng Trảng Bom, Thủ Đức, Củ Chi,  phân bố rải rác ở Biên Hòa, Long Thành trên địa hình đồi bằng, sườn thoải, cao10 - 60 m. Chúng kéo dài và uốn lượn theo địa hình. Đặc điểm: laterit màu vàng nâu, nâu đỏ dạng kết vón rời rạc đến kết khối rắn chắc bị phủ dày 0 - 2,5 m, bề dày thay đổi 2 - 4 m. Chất lượng nhìn chung đạt yêu cầu công nghiệp. Trữ lượng dự báo cấp P2 của các mỏ tổng kho Long Bình (Biên Hòa), Bà Miêu, An Lợi và Lộc An (Long Thành)  là  3.406.000  tấn [12,19].

Laterit ngoài công dụng làm phụ gia xi măng còn được làm gạch không nung (đá ong), làm đất trải đường và san nền.

V. Đá quý và bán quí:

Đá quý và bán quý phân bố khá rộng rãi, liên quan với nhiều thành tạo địa chất khác nhau. Đến nay đã phát hiện được 23 điểm đá quý. Chúng tập trung thành một dải từ núi Tràn qua Võ Dõng đến Xuân Tân - nơi tập trung các họng núi lửa và dọc sông La Ngà. Zircon, saphir đã được tìm thấy ở cầu La Ngà, Võ Dõng, đồi 396, suối Hộp, suối Kaya, khu Sáu Lé. Pyrop được tìm thấy ở Gia Kiệm, đồi 396 và đồi Thiếu Tá [12, 19].

Tuy nhiên, các điểm đá quí được biết hiện nay đều có qui mô nhỏ, hàm lượng nghèo và chất lượng thấp, kích thước hạt nhỏ (từ 2 mm - 1 cm) chứa nhiều tạp chất và có độ nứt nẻ cao .

Các đá bán quí cũng ít gặp, qui mô nhỏ. Opan được tìm thấy ở Chứa Chan. Tectit được thấy ở Thiện Tân và Trảng Bom.

VI. Nước khoáng - nóng, nước ngầm:

VI.1. Nước khoáng - nóng:

Cho đến nay, đã có 5 điểm nước khoáng - nóng được phát hiện. Chúng thuộc loại nước khoáng - nóng bicabonat (điểm Phú Lộc, Kaya), magiê bicabonat (điểm Suối Nho) hoặc nước tinh khiết (điểm Tam Phước, Nhơn Trạch). Điểm nước khoáng - nóng Suối Nho có nhiệt độ 600 C, hàm lượng tổng khoáng hóa 0,8 - 4,2 g/l, trữ lượng 10.000 m3/ngày. Các điểm còn lại chưa được điều tra đánh giá [19].

Ngoài các điểm nước khoáng - nóng trên còn có các điểm nước khoáng sắt, nước clorua natri ở Nam Thành Tuy Hạ, biểu hiện nước khoáng silic ở Phương Lâm

VI.2. Nước ngầm:

Liên quan với các thành tạo địa chất có 5 tầng chứa nước ngầm [18].

VI.2.1. Tầng chứa nước Holocen: phân bố ở phía Tây và Tây Nam của tỉnh, dọc theo thung lũng Đồng Nai, La Ngà, tổng diện tích 440 km2. Chiều dày tầng chứa nước thay đổi từ 1 - 2 m đến 10 - 20 m. Lưu lượng trung bình nhỏ hơn 1 m3/giờ.Chúng có quan hệ trực tiếp với tầng nước mặt và nước mưa, nên dễ bị nhiễm mặn và nhiễm bẩn. Ở Nhơn Trạch, chúng bị nhiễm mặn gần hoàn toàn là nước clorua  natri với tổng độ khoáng hóa 1 - 2 g/l. Dọc quốc lộ 51 và Biên Hòa nước thuộc loại siêu nhạt với nồng độ khoáng hóa 0,07 - 0,1 g/l [19].

Tầng nước này có trữ lượng hạn chế, chỉ phù hợp cho việc sử dụng nước của các hộ gia đình.

VI.2.2. Tầng chứa nước Pleistocen: phân bố trong các trầm tích hệ tầng Trảng Bom, Thủ Đức và Củ Chi thuộc dải Biên Hòa - Long Thành, diện tích trên 800 km2, chiều dày tầng chứa 5 -10 m đến 20 - 45 m. Khả năng chứa nước tương đối phong phú, có thể khai thác từ trung bình đến lớn. Trữ lượng trung bình đạt 471.250 m3/ngày. Tổng trữ lượng 710.000 m3/ngày. Lưu lượng nước xuất lộ ở Long Thành 20 l/s. Ở vùng Nhơn Trạch, do chịu ảnh hưởng của biển, chúng đã bị nhiễm mặn, thuộc loại clorua natri, pH: 5-7.

VI.2.3. Tầng chứa nước Pliocen: phân bố trong các trầm tích hệ tầng Bà Miêu chủ yếu ở Vĩnh Cửu, Long Bình, Long Thành, Nhơn Trạch, diện tích ³ 780 km2. Bề dày tầng chứa nước thay đổi từ 10 - 15 m - 35 - 50 m. Đây là tầng chứa nước phong phú, có triển vọng khai thác rộng lớn. Trữ lượng đạt 788.800 m3/ngày, tổng trữ lượng là 1.090.000 m3/ngày. Nước chất lượng tốt, tổng lượng khoáng hóa 0,07 - 0,6 g/l, thuộc loại nước nhạt có bicacbonat natri, hàm lượng sắt 1 - 10 g/l. Riêng ở phía Nam Nhơn Trạch tầng này bị nhiễm mặn, tổng độ khoáng hóa 1 - 13 g/l [18,19].

VI.2.4. Tầng chứa nước trong các thành tạo phun trào bazan: phân bố trong các đá bazan ở Tân Phú - Định Quán, Long Khánh, Xuân Lộc, Đông Bắc huyện Thống Nhất, diện tích phân bố 1960 km2. Tầng chứa thường gặp ở độ sâu từ 30 - 40 m với độ dày tầng 50 - 60 m và ở độ sâu 90 - 100 m với bề dày tầng chứa nước 30 - 40 m. Lưu lượng thay đổi từ 0,5 - 15 m3/h đến 78 m3/h, trung bình 10 - 35 m3/h. Trữ lượng tĩnh 588.000 m3/ngày. Tổng trữ lượng 1.265.000 m3/ngày. Tổng độ khoáng hóa 0,1 - 0,6 g/l thuộc dạng bicacbonat canxi siêu nhạt đến nhạt, pH = 5,5 - 6,5 [18,19].

VI.2.5. Phức hệ chứa nước trong các đá Mezozoi: phân bố trong các đá trầm tích, trầm tích - phun trào có tuổi Mezozoi ở khu vực Bắc, Đông Bắc của tỉnh. Nước tồn tại trong các khe nứt, lưu lượng 1 - 3l/s. Trữ lượng tĩnh 93.000 m3/ngày. Tổng trữ lượng 254.000 m3/ngày. Tầng chứa nước này không có triển vọng khai thác công nghiệp [18,19].

Địa phận tỉnh Đồng Nai đã trải qua các thời kỳ sụt lún và hoạt hóa magma kiến tạo Paleozoi - Mezozoi sớm, sụt lún trong Jura sớm - giữa; xâm nhập tạo núi uốn nếp trong Jura muộn - Kreta; nâng hạ, bóc mòn và tích tụ, phun trào trong Neogen - Đệ tứ. Các quá trình này đã tạo nên nhiều thể địa chất có thành phần, cấu trúc và ý nghĩa khác nhau.

Các đá phun trào thành phần bazơ thuộc hệ tầng Túc Trưng, Xuân Lộc và Phước Tân  là phổ biến nhất. Chúng là nguồn cung cấp vô cùng to lớn về đá xây dựng, nguyên liệu phụ gia xi măng và nguyên liệu sản xuất sợi thủy tinh tổng hợp trong tương lai. Đây cũng là thành tạo có khả năng chứa nước ngầm phong phú, nhiều nơi có chứa đá quí. Sản phẩm phong hóa từ đá bazan còn tạo ra các mỏ laterit bauxit, các mỏ laterit sắt dùng làm vật liệu trải đường và các vùng đất đỏ màu mỡ.

Các đá trầm tích của hệ tầng Draylinh và La Ngà là các thành tạo nguồn gốc biển lộ nhiều ở phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh. Trong chúng có đá phiến sét vôi có thể dùng để sản xuất keramzit. Đây cũng là môi trường thuận lợi để tạo ra các khu vực khoáng hóa vàng ở Hiếu Liêm, Vĩnh An, Suối Nho v.v... Sản phẩm phong hóa của chúng là sét gạch ngói, laterit làm phụ gia xi măng và vật liệu san lấp.

Các đá xâm nhập có diện phân bố không lớn nhưng lại là đối tượng cho nhiều mỏ đá xây dựng.

Các trầm tích Pliocen - Đệ tứ với thành phần đa dạng và chiều dày đáng kể là nguồn cung cấp sét gạch ngói, cát xây dựng chủ yếu của tỉnh hiện nay. Ngoài ra, chúng còn có thể cung cấp cuội sỏi, kaolin, vật liệu san lấp. Đây cũng chính là các tầng chứa nước chính ở khu vực Biên Hòa - Long Thành - khu vực rất thuận lợi cho việc qui hoạch phát triển mở rộng các khu đô thị, công nghiệp và dịch vụ.

Comments