Chương 2: Địa mạo

Tỉnh Đồng Nai thuộc rìa Tây Nam của đới nâng bóc mòn Đà Lạt, tiếp giáp với đới sụt - tích tụ đồng bằng sông Cửu Long. Cao nguyên và đồng bằng chiếm 88,7% diện tích của tỉnh. Chúng tạo thành các bậc, phân bố trong các khoảng cao từ 1 - 2 m đến 320 - 380 m, bằng phẳng hoặc lượn sóng, nguồn gốc núi lửa, bóc mòn, bóc mòn - tích tụ và tích tụ. Núi chiếm 5,8% diện tích của tỉnh, phân bố rải rác ở phía Đông và Đông Bắc của tỉnh, cao 200 - 838 m, nguồn gốc bóc mòn thạch học hoặc núi lửa. Phần diện tích còn lại là hồ Trị An (5,5%).

Theo quan hệ với các chuyển động kiến tạo và đặc điểm  kiến trúc địa chất liên quan, địa hình tỉnh Đồng Nai phản ánh 3 kiểu kiến trúc hình thái bậc cao: đồng bằng bóc mòn rìa miền nâng; núi sót bóc mòn thạch học nguồn gốc bóc mòn - kiến tạo sinh; các cao nguyên núi lửa được cấu tạo bởi bazan nguồn gốc magma sinh [2]. Trên nền các kiến trúc hình thái bậc cao có các kiến trúc hình thái bậc thấp [8,15,17] phản ánh quan hệ giữa hoạt động nâng và hạ với quá trình bóc mòn và tích tụ trên các vùng khác nhau. Ở mức độ chi tiết hơn, địa hình còn được phân chia thành các bề mặt khác nhau về hình thái, nguồn gốc, tuổi thành tạo, trầm tích cấu tạo bề mặt, đặc điểm vỏ phong hóa, chia cắt và xâm thực [3,6,7,9,11]. Các kết quả nghiên cứu như vậy rất có ý nghĩa trong qui hoạch sử dụng lãnh thổ, phát triển kinh tế xã hội, xác định lịch sử và dự báo xu hướng phát triển của địa hình, nghiên cứu địa chất môi trường.

Chương II phản ánh các kết quả nghiên cứu địa mạo đã được tiến hành trên địa bàn của tỉnh theo nguyên tắc kế thừa, phổ cập, có chọn lọc và bổ sung  với 3 nội dung :

- Các bề mặt địa hình có nguồn gốc khác nhau

- Phân vùng địa mạo

- Tân kiến tạo và lịch sử phát triển địa hình