A. Các bề mặt địa hình có nguồn gốc khác nhau

CÁC BỀ MẶT ĐỊA HÌNH

CÓ NGUỒN GỐC KHÁC NHAU


I. Địa hình núi lửa:

Hoạt động núi lửa xảy ra trong Neogen - Đệ tứ tạo lớp phủ rộng gần 1/3 diện tích của tỉnh. Tuy đã bị chia cắt, phá hủy ít nhiều nhưng vẫn có thể nhận rõ 3 dạng địa hình độc đáo do chúng tạo ra là cao nguyên núi lửa, đồng bằng núi lửa và nón núi lửa.

I.1. Cao nguyên núi lửa:

Cao nguyên núi lửa phân bố ở Nam Cát Tiên, cao 200 - 380 m, diện tích 230 km2. Chúng được thành tạo do phun trào bazan hệ tầng Túc Trưng (bN2 - QItt) dày 28 - 100 m, trung bình 50 - 60 m. Bề mặt cao nguyên có dạng vòm thoải, bán kính 5 - 7 km, đỉnh vòm cao 320 - 380 m. Sườn vòm nghiêng thoải 0,5 - 10. Sườn cao nguyên chênh cao 100 - 150 m, dốc 15 - 300. Trên bề mặt cao nguyên đã hình thành lớp vỏ phong hóa laterit bauxit (hàm lượng Al2O3 đạt tới 44 - 50 %) và hệ thống dòng chảy tỏa tia. Theo hệ thống dòng chảy này, từ đỉnh vòm ra rìa vòm, bề mặt lớp phủ bazan nguyên thủy bị chia cắt mạnh dần, độ bảo tồn từ 100% đến 40 - 60%. Gần đỉnh, dòng chảy có mật độ 1 - 1,6 km/km2, thung lũng cắt sâu 20 - 60 m, sườn dốc 10 - 200. Rìa cao nguyên, dòng chảy có mật độ 1,6 - 2,5 km/km2, thung lũng cắt sâu đến 60 - 120 m, sườn dốc 20 - 300 và trên 300, xâm thực và đổ lở phát triển.

I.2. Đồng bằng núi lửa:

Các đồng bằng núi lửa phân bố rộng rãi ở Túc Trưng, Xuân Lộc, Cẩm Tiêm, Tà Lài, Định Quán, Gia Ray. Chúng được thành tạo do phun trào các dung nham thành phần bazơ có độ nhớt thấp phủ rộng trên các bề mặt san bằng có trước. Tùy thuộc vào mức độ chia cắt và đặc điểm vỏ phong hóa có 2 kiểu đồng bằng.

I.2.1. Đồng bằng núi lửa có vỏ phong hóa dày:

Thuộc kiểu này có 3 đồng bằng, diện tích tổng cộng 1127 km2.

- Đồng bằng Túc Trưng, diện tích 80 km2 được tạo bởi bazan của hệ tầng Túc Trưng, dày trung bình 30 - 60 m. Bề mặt đồng bằng có dạng vòm thoải, cao 100 - 160 m, cao hơn các đồng bằng bóc mòn ven rìa từ 5 - 10 m đến 50 - 70 m. Phần lớn diện tích của đồng bằng chưa bị chia cắt phá hủy, trên đó phát triển tầng đất đỏ dày có kết vón laterit dày trên 5 - 10 m. Ở phần rìa, đồng bằng đang chịu sự chia cắt phá hủy của các thung lũng nhỏ, mật độ 0,4 - 1,8 m, cắt sâu 10 - 20 m, sườn dốc 10 - 200.

- Đồng bằng Xuân Lộc - Cẩm Tiêm cao 100 - 200 m, diện tích 697 km2  được thành tạo do phun trào bazan hệ tầng Xuân Lộc vào Pleistocen giữa. Bề mặt đồng bằng có dạng vòm thoải, đỉnh vòm trùng với khu vực Xuân Lộc và Cẩm Tiêm. Sườn vòm nghiêng thoải 0,5 - 10, bán kính vòm 15 - 18 km. Bazan bị phong hóa mạnh, tạo vỏ phong hóa dày 10 - 20 m. Mặt cắt vỏ phong hóa thường gặp có phần trên là sét bột màu đỏ đôi nơi chứa sỏi sạn laterit, dày 8 - 15 m; phần dưới là bazan phong hóa dở dang lẫn sét bột màu xám vàng nhạt đôi chỗ loang lổ, dày 2 - 5 m. Nhô cao trên đồng bằng có 63 nón núi lửa, độ cao tương đối từ 60 - 100 m đến 200 - 318 m. Bề mặt đồng bằng bị chia cắt bởi mạng lưới dòng chảy tỏa tia, mật độ trung bình 0,2 - 1,2 km/km2. Các thung lũng cắt sâu 20 - 30 m đến 40 - 50 m, sườn dốc 10 - 200 đôi chỗ tới 20 - 300. Gần đỉnh vòm, các thung lũng hẹp và dốc, bề mặt bazan nguyên thủy được bảo tồn từ 80 - 95%. Ra phía rìa vòm, địa hình đồng bằng thấp dần, thung lũng mở rộng, có đáy thoải và tích tụ. Ở rìa Đông, Đông Nam, mật độ chia cắt ngang đạt tới 1 - 1,6 km/km2, bề mặt bazan nguyên thủy còn được bảo tồn từ 40 - 60%.

Đồng bằng Gia Ray là đồng bằng được tạo bởi các lớp phủ bazan dạng vòm ở Xuân Trường, núi Hóc - rừng Xá, diện tích 260 km2. Đồng bằng cao 120 - 180 m, cao hơn các đồng bằng bóc mòn ven rìa từ  5 - 10 m tới 80 - 100 m, nghiêng 0,5 - 10 từ chân núi Chứa Chan về phía Bắc, phía Nam và phía Tây và từ núi Hóc về các phía. Do vậy, dòng chảy cũng có dạng tỏa tia. Mật độ dòng chảy 0,2 - 0,5 km/km2, ít khi đạt tới 1,2 km/km2. Các thung lũng cắt sâu 5 - 10 m, đôi nơi 20 - 30 m, sườn dốc 3 - 100. Bề mặt lớp phủ bazan nguyên thủy, nhìn chung còn được bảo tồn tốt trên 85 - 95% diện tích. Bazan bị phong hóa có bề dày thay đổi từ 10 - 12 m, với mặt cắt thường gặp:

- Đới  trên:  sét bột màu đỏ, dày 1 - 3 m

- Đới  giữa: laterit  kết vón hoặc kết tảng laterit, dày 4 - 6 m.

- Đới dưới: bazan phong hóa bóc cầu, dày 3 - 6 m.

I.2.2. Đồng bằng núi lửa có vỏ phong hóa kém phát triển:

Đồng bằng núi lửa có vỏ phong hóa kém phát triển phân bố rộng rãi ở Tà Lài, Định Quán, Cây Gáo, Sông Ray.

Ở Tà Lài, Định Quán, Cây Gáo, Phước Tân đồng bằng được tạo bởi đá phun trào của hệ tầng Xuân Lộc và Phước Tân. Bề mặt lớp phủ có dạng vòm thoải (0,5 - 10), cao 80 - 135 m đến 175 m, bị chia cắt rất yếu, được bảo tồn tốt trên gần 100% diện tích. Bazan bị phong hóa nứt vỡ hoặc mềm bở, phong hóa theo khe nứt, dày 1 - 5 m. Trên bề mặt địa hình thường gặp là các tảng bazan đặc xít hoặc lỗ rỗng nằm ngổn  ngang xen lẫn với bột sét màu xám, xám đen đôi nơi nâu đỏ và các kết vón laterit dạng hạt đậu  (bề mặt dung nham tảng lộ trơ [3]).

Từ  Xuân Thọ, theo hướng Nam, dọc sông Ray, đồng bằng núi lửa cao 90 - 110 m, thấp trũng, thuộc rìa phía Đông của lớp phủ bazan Xuân Lộc - Cẩm Tiêm. Đồng bằng bị chia cắt rất yếu, nghiêng thoải 0,1 - 0,60 theo hướng Nam và hướng Đông. Trên bề mặt, bazan bị phong hóa, dày một vài mét. Mặt cắt vỏ phong hóa:

- Đới trên: sét bột màu xám, xám đen, xám nâu chứa 10 - 30% đôi khi đến 70% kết vón laterit, dày 0,5 - 1,5 m

- Đới dưới: bazan phong hóa mềm bở, bóc cầu, dày 4 - 5 m.

I.3. Sườn các nón núi lửa:

Các nón núi lửa được thành tạo trong điều kiện dung nham có độ nhớt cao hoặc trong các đợt phun nổ. Chúng tập trung thành các cụm hoặc đứng độc lập, tuổi Pleistocen giữa, Pleistocen muộn, phổ biến ở khu vực đỉnh hoặc gần đỉnh vòm phun trào liên quan trực tiếp với các miệng núi lửa.

Các nón núi lửa tập trung thành các cụm ở Cẩm Tiêm (43 nón), Gia Kiệm - Xuân Lộc (23 nón), Phú Hòa (6 nón), Định Quán (3 nón). Các nón núi lửa độc lập được thấy ở Đông Bắc núi Giang Cu (Định Quán), núi Tràn, núi Đất, núi Qui (Túc Trưng), Võ Dõng, Sóc Lu, Nam và Bắc núi Chứa Chan, núi Be Bác v.v... Đặc điểm chung của các nón núi lửa là có dạng nón cụt cao 160 - 418 m, cao hơn các đồng bằng núi lửa ven rìa từ 70 m đến 318 m, phổ biến từ 100 - 200 m, sườn thẳng hoặc lõm, dốc 4 - 50 đến 30 - 400. Chúng được cấu tạo chủ yếu bởi bazan lỗ rỗng, dăm tảng, kết tuf bazan. Hình thái còn được bảo tồn tốt. Vỏ phong hóa kém phát triển, chủ yếu là kiểu vỏ vụn thô, dày 1 - 3 m. Trên bề mặt địa hình có nhiều tảng, đống bazan lẫn với sét bột màu xám, xám đen, nâu vàng. Tuy nhiên, kích thước và hình dạng các núi lửa cũng khác nhau.

Núi lửa lớn nhất được thấy ở Sóc Lu, có dạng nón, đường kính 5,5 km. Chân núi cao 100 m, đỉnh núi cao 418 m. Sườn có dạng lõm, phần dưới thoải, phần trên dốc. Trong khoảng cao từ  100 - 180 m sườn dốc 5 - 100, từ 180 - 300 m sườn dốc 10 - 200 và từ 300 - 400 m sườn dốc 20 - 300 và lớn hơn. Hình thái sườn phản ánh độ nhớt của dung nham tăng dần từ đầu đến cuối pha của hoạt động núi lửa.

Các nón núi lửa có đường kính 0,5 - 1,5 km, cao tương đối 100 - 200 m là phổ biến nhất. Chúng thường có dạng nón cụt, sườn bất đối xứng, dốc 30 -450 và  thoải 15 - 300. Phần cao nhất là miệng núi lửa có dạng lõm xuống được bao bọc bởi gờ cao dạng chữ C. Phần thấp hơn là cửa thoát dung nham. Phần sườn thoải thường trùng với hướng của cửa thoát. Trên sườn nón núi lửa có nhiều tảng khối bazan, bom núi lửa phong hóa dở dang với các mảnh dăm sạn và sét bột phong hóa từ bazan.

II. Địa hình bóc mòn:

Sản phẩm của quá trình bóc mòn là các bề mặt san bằng, sườn các khối núi, dãy núi, sườn các thung lũng. Những bề mặt san bằng có diện tích rộng tạo nên các đồng bằng bóc mòn, bóc mòn - tích tụ.

Nằm trong khu vực nâng yếu tân kiến tạo, quá trình pediment hóa phát triển mạnh mẽ, hình thành trên hầu hết diện tích của tỉnh là các bề mặt san bằng có tuổi từ Miocen giữa đến Pleistocen sớm. Diện  tích tổng cộng trên 1.186 km2.

II.1. Bề mặt san bằng Miocen giữa:

Bề mặt san bằng Miocen giữa bị chia cắt mạnh, bảo tồn kém, chỉ còn các mảnh sót rộng vài trăm mét vuông đến vài chục ha. Di tích của bề mặt san bằng Miocen giữa còn được thấy trên bề mặt chia nước, cao 800 - 838 m ở núi Chứa Chan, 500 - 650 m ở núi Mây Tào. Trên bề mặt lộ đá granit, đới phong hóa vụn thô hoặc mềm bở của granit. Chúng chuyển tiếp xuống phía dưới với các bề mặt có tuổi Miocen muộn hoặc Pliocen muộn qua sườn dốc 20 - 400, chênh cao 300 - 650 m. Tuổi các bề mặt được xếp tương đương với bề mặt Đà Lạt [2].

II.2. Bề mặt san bằng Miocen muộn:

Bề mặt san bằng Miocen muộn được bảo tồn khá tốt ở khu vực Nam Cát Tiên, Phú Bình nay là Phú Sơn (huyện Tân Phú), cao trung bình 180 - 300 m. Ở Nam Cát Tiên, bề mặt bị phủ bởi bazan hệ tầng Túc Trưng, nghiêng thoải về phía Nam, Tây, Tây Nam chênh cao 1 m/100 m. Phần lộ ra của bề mặt bảo tồn dưới dạng các dãy đồi cao lượn sóng nhấp nhô. Chúng cắt vào các đá trầm tích Jura, chuyển xuống phía dưới qua sườn chênh cao trung bình 40 - 100 m, dốc 10 - 300. Trên bề mặt hình thành vỏ phong hóa Ferosialit dày 1 - 3 m đến 10 m.

Phú Sơn, Định Quán di tích của bề mặt còn được thấy ở độ cao 200 - 400 m trên đường chia nước của các dãy núi phương kinh tuyến, á kinh tuyến, rộng một vài trăm mét. Bề mặt cắt vào các đá trầm tích Jura, bị chia cắt yếu và lượn sóng thoải.

Về phía Tây, Tây Nam của tỉnh, bề mặt san bằng Miocen muộn thấp dần, cao 15 - 30 m ở Biên Hòa - Long Thành, (-50) - (-100 m) ở Nhơn Trạch. Ở các khu vực này, chúng bị phủ bởi các trầm tích Pliocen - Đệ tứ dày 30 -100 m. Vỏ phong hóa liên quan được thấy ở lỗ khoan BK9 (Tam Hòa)  gồm 3 đới:

- Đới trên: bột sét cát màu nâu đỏ, dày 4 m.

- Đới giữa: sét bột vàng loang lổ xám xanh, dày 2,9 m.

- Đới dưới: bột sét xám xanh đốm vàng, dày 5,2 m

Theo quan hệ với các đá trầm tích, bazan, trầm tích Pliocen - Đệ tứ và các bề mặt san bằng khác (như đã dẫn), tuổi của bề mặt được xác định vào khoảng Miocen muộn.

II.3. Bề mặt san bằng Pliocen muộn:

Bề mặt san bằng Pliocen muộn phát triển ở vùng Suối Linh - Mã Đà, Túc Trưng, Phú Bình, Nam Phú Hòa, Đông và Đông Nam núi Chứa Chan, diện tích 441 km2. Bề mặt cao trung bình 100 - 120 m. Chúng cắt qua các đá trầm tích hệ tầng Draylinh, La Ngà;  làm lộ trên diện rộng các đá xâm nhập phức hệ Định Quán ở Nam Phú Hòa, Suối Linh. Trong địa hình hiện tại, đó là đồng bằng đồi thấp với các đồi và dãy đồi  đỉnh bằng, sườn dốc 3 - 100, chênh cao 10 - 30m.

Ở Suối Linh - Mã Đà, bề mặt cao 90 - 120 m nghiêng về phía Tây, Tây Nam. Bề mặt bị chia cắt yếu, lượn sóng thoải. Phần diện tích nằm ngang chiếm 70 - 85%. Phần sườn dốc 3 - 100, chênh cao 10 - 20 - 40 m phát triển dọc theo các khe rãnh, sông suối chiếm 15 - 30%. Trên bề mặt san bằng phát triển vỏ phong hóa Ferosialit dày 3 - 8 m.

Ở Túc Trưng, bề mặt cao 90 - 110 m tồn tại dưới dạng các quả đồi đỉnh bằng lượn sóng thoải cắt vào các đá trầm tích hệ tầng La Ngà. Vỏ phong hóa bị rửa trôi mạnh. Lộ trên mặt là các sản phẩm phong hóa vụn thô của đá bột kết, sét kết xám đen và cát kết. Bề mặt này và trầm tích tương quan (hệ tầng Bà Miêu) bị bazan hệ tầng Túc Trưng tuổi Pliocen muộn - Pleistocen sớm phủ trực tiếp lên trên [3].

Ở phía Nam Phú Hòa, xung quanh núi Chứa Chan, bề mặt cao 100 - 150 m, cao dần lên về phía núi trong khoảng rộng 5 - 7 km. Bề mặt có nguồn gốc bóc mòn - tích tụ. Chúng cắt vào các đá xâm nhập và đá trầm tích. Trầm tích tương quan là sét bột, sét cát, cát đôi nơi lẫn cuội sỏi thạch anh, các mảnh đá trầm tích, dày 1 - 2 m đến 5 - 7 m. Bề mặt này bị bazan hệ tầng Xuân Lộc tuổi Pleistocen giữa phủ lên.

Trầm tích tương đương của bề mặt thuộc hệ tầng Bà Miêu phát triển rộng rãi ở khu vực phía Tây của tỉnh. Tuổi của bề mặt được xác định là Pliocen muộn.

II.4. Bề mặt san bằng Pleistocen sớm:

Bề mặt san bằng Pleistocen sớm phát triển rộng rãi, cao trung bình 50 - 80 m, diện phân bố  khoảng 415 km2.

Ở Mã Đà, Lý Lịch, dọc sông La Ngà và vùng Suối Trong, bề mặt được bảo tồn tốt, bằng phẳng, chia cắt rất yếu và lượn sóng rất thoải thành tạo nên các đồng bằng bóc mòn - tích tụ. Chia cắt sâu 3 - 5 m, ít khi 10 - 15 m, chia cắt ngang 0,2 - 0,5 km/km2. Ở những nơi bào mòn, bề mặt cắt các đá trầm tích Jura, các đá xâm nhập phức hệ Định Quán. Các đá này bị phong hóa tạo vỏ Ferosialit, phần trên thường gặp là bột cát hoặc cát bột màu vàng dày 0,5 - 1 m, phần dưới sét cát loang lổ, chứa kết vón hoặc kết tảng laterit dày 1 - 2 m. Ở những nơi có tích tụ, trầm tích gồm cát bột, cát sạn sét, sét cát màu vàng dày 1 - 5 m đến 15 m, nguồn gốc aluvi - deluvi.

Dưới lớp phủ bazan Xuân Lộc ở vùng Gia Kiệm - Xuân Lộc, Cát Tiên, theo tài liệu khoan sâu bề mặt cao 50 - 80 m cắt vào các đá trầm tích tuổi Jura, trầm tích hệ tầng Bà Miêu, có trầm tích tương quan thuộc hệ tầng Trảng Bom. Vỏ phong hóa liên quan chủ yếu là sét cát hoặc cát sét màu vàng, dày 1 - 5 m - 12 m. Phần tích tụ ít gặp hơn, chủ yếu là cát sạn sỏi, cát bột dày 1 -10 m.

Ở vùng Bắc Mây Tào (vùng suối Nước Trong) bề mặt cao 80 - 110 m là bề mặt bóc mòn - tích tụ phát triển trên  các đá xâm nhập hoặc các đá trầm tích. Trên các đá xâm nhập bề mặt có sự xen kẽ, nối tiếp nhau giữa các diện rộng bằng phẳng chủ yếu là cát bột xám trắng, dày > 0,4 m với các mô gò được cấu tạo bởi đá xâm nhập có diện tích nhỏ hẹp. Trên các đá trầm tích, bề mặt thường được cấu tạo bởi các tầng phong hóa dày, từ trên xuống thường gặp là:

- Cát bột xám lẫn ít sỏi laterit, dày 0,2 - 0,6 m.

- Cát bột loang lổ chứa sỏi sạn, tảng cục laterit, dày 1,2 - 3 m.

- Sét màu xám, xám đen đến xám tro, vàng loang lổ, dày 1 - 4,4 m.

- Sét bột kết phong hóa mềm bở.

Tích tụ phát triển ở các bộ phận thấp của bề mặt (cao 80 - 90 m), thành phần chủ yếu là cát bột xám trắng, dày 0,7 -  7 m.

Bề mặt này cắt vào bề mặt Pliocen muộn ở Mã Đà, Lý Lịch, suối Nước Trong, tạo sườn cao 5 - 20 m, bị bazan hệ tầng Xuân Lộc phủ lên. Tuổi được xác định là Pleistocen sớm.

II.5. Các bề mặt sườn:

II.5.1. Sườn đổ lở:

Sườn đổ lở phát triển ở núi Chứa Chan và núi Mây Tào - nơi địa hình có độ chênh cao lớn, sườn dốc, đá bị nứt nẻ mạnh, diện tích 26 km2.

Núi Chứa Chan cao 838 m chênh cao 600 - 700 m, sườn dốc 30 - 350 đôi chỗ là vách dốc đứng. Núi được cấu tạo bởi các đá xâm nhập phức hệ Cà Ná. Núi Mây Tào cao 500 - 650 m, chênh cao 350 - 400 m, sườn dốc 30 - 400 được cấu tạo bởi các đá xâm nhập phức hệ Đèo Cả. Trong các đá, phát triển hệ thống khe nứt phương á vĩ tuyến và Đông Bắc - Tây Nam, ít hơn là các hệ thống Tây Bắc - Đông Nam, á kinh tuyến, góc cắm thay đổi 60 - 900. Đá bị nứt nẻ mạnh thành các khối lớn nhỏ khác nhau lăn rơi trên bề mặt sườn. Phần trên của sườn thường gặp là đá gốc với các khối tảng lăn, phần dưới của sườn là các khối, tảng lăn lẫn dăm sạn cát sét xếp chồng lên nhau, dày một vài mét.

II.5.2. Sườn bóc mòn tổng hợp:

Phát triển trên các dãy núi cao 200 - 400 m ở Phú Bình, núi Gia, núi Dac, ở Bắc và Nam Định Quán, diện tích 116 km2. Sườn được hình thành trong quá trình pedimen hóa Pliocen - Pleistocen sớm và tác động của dòng chảy, trọng lực trong các thời gian tiếp sau. Quá trình pedimen hóa đã tạo nên bề mặt san bằng Pliocen muộn, Pleistocen sớm và các sườn bóc mòn -xâm thực cùng tuổi cắt vào bề mặt Miocen muộn. Do đặc điểm cấu trúc, các sườn này thường kéo dài theo phương uốn nếp, lồi và thoải hơn theo hướng dốc của đá, lõm và dốc hơn theo hướng ngược với hướng dốc của đá. Sườn dốc trung bình 20 - 350, chênh cao 100 - 250 m. Vỏ phong hóa phát triển trên đá trầm tích gồm 3 đới (lỗ khoan ĐNT16, ĐNT17):

- Đới trên: sét nâu đỏ đến xám đen lẫn 10 - 20% kết vón laterit và các mảnh đá cát kết, bột kết, dày 0,7 - 1,8 m.

- Đới giữa: bột sét xám tro, xám nhạt đến nâu vàng, loang lổ  chứa 20 - 40% dăm tảng  cát kết kích thước 3 - 10 cm, dày 8 - 8,5 m.

- Đới dưới: dăm tảng cát bột kết lẫn 10 - 15% sét màu xám tro, xám đen, dày 3,4 - 4,9 m.

Ngay từ khi được thành tạo, dưới tác động của trọng lực và dòng chảy, trên sườn phát triển các khe rãnh xâm thực, ở chân sườn có các lớp phủ deluvi, deluvi - proluvi - eluvi gồm: cát bột sét, đôi nơi lẫn tảng, dăm, sỏi sạn dày một vài mét.

Các khe rãnh xâm thực thường ngắn, hẹp và dốc, đáy lộ đá gốc, đang trong giai đoạn đào sâu, xâm thực giật lùi và phá hủy sườn. Hoạt động của các dòng chảy kết hợp với quá trình phong hóa, rửa trôi trên mặt đã tạo nên các đoạn thung lũng xuyên ngang ở Phú Bình, các đoạn đèo thấp, các cổng trời trên dãy núi DangCar (Định Quán).

II.5.3. Sườn, vách xâm thực:

Sườn, vách xâm thực phát triển dọc theo các thung lũng. Dọc theo sông Mã Đà và suối nhánh của sông, dọc theo các suối cấp 2 và 3 chảy từ cao nguyên Nam Cát Tiên, rìa phía Tây đồng bằng Túc Trưng, các sườn xâm thực đang phát triển mạnh. Chúng chia cắt các bề mặt Miocen muộn hoặc Pliocen, tạo nên các thung lũng dạng chữ V dốc 10 - 250, chênh cao sườn từ 20 - 80 m, trung bình 30 - 60 m. Các thung lũng đang trong giai đoạn đào sâu, dốc, nhiều ghềnh và thác nhỏ. Sườn thung lũng bị nhiều khe rãnh chia cắt, mật độ 4 - 6 khe rãnh/km. Trên sườn phát triển vỏ phong hóa vụn thô hoặc sialit gồm sét bột, cát bột xám trắng đến vàng nhạt dày một vài mét. Sườn không ổn định, dễ bị xói mòn, sạt trượt đất, khó qua lại...

Các vách xâm thực phát triển mạnh dọc theo sông Đồng Nai, La Ngà, sông Ray. Trên các đoạn bờ lõm được cấu tạo bởi trầm tích bở rời, tốc độ xâm thực có thể tới 0,1 - 5 m/năm. Các vách cao 1 - 2 m tới 10 - 15 m, kéo dài vài chục tới vài trăm mét [5].

Trên đồng bằng núi lửa Xuân Lộc - Cẩm Tiêm, các sườn xâm thực phát triển mạnh dọc theo các thung lũng cấp II đến cấp IV. Các thung lũng thường có dạng chữ V, sâu 40 - 80 m, đáy dốc nhiều ghềnh, đôi chỗ lộ bazan gốc hoặc đới phong hóa mềm bở. Thung lũng đang trong giai đoạn xâm thực sâu, sườn có dạng thẳng, dốc 15 - 300. Trên sườn có nhiều khe rãnh đang trong giai đoạn xâm thực sâu và xâm thực giật lùi.

II.5.4. Sườn xâm thực - rửa trôi:

Sườn xâm thực - rửa trôi, hình thành và phát triển dọc theo các thung lũng  suối Linh, suối Bà Hào, sông Mã Đà, suối Trà Mi, suối Cà Rón, suối Rết, suối Gia Ray, suối Rạch Đông, suối Bà Lúa, sông Lá Buông, suối Bung Mon, suối Cầu Mới, suối Đá; chia cắt các bề mặt san bằng Pliocen muộn, Pleistocen sớm, các thềm sông bậc  III và IV. Sườn có tuổi Đệ tứ, chênh cao trung bình 10 - 25 m, dốc 3 - 100. Sườn được cấu tạo bởi các trầm tích bở rời, dày 5 - 15 m. Trên sườn thống trị quá trình rửa trôi, các khe rãnh phát triển thưa thớt. Ở nhiều nơi sườn được che phủ kém, quá trình rửa trôi đã làm lộ đới phong hóa laterit, loang lổ kết chặt, kết vón, kết tảng hoặc kết khối, tốc độ rửa trôi 1 - 5 mm đến 10 - 40 mm/năm. Đôi nơi, do tác động nhân sinh, trong một năm các khe rãnh có thể đào sâu 0,5 - 2 m, kéo dài 7 đến 15 m [5,16].

III. Địa hình tích tụ:

Địa hình tích tụ chiếm khoảng 1/4 diện tích của tỉnh bao gồm các bậc thềm sông và bãi bồi, các đồng bằng tích tụ sông - đầm lầy, hồ - đầm lầy.

III.1. Các bậc thềm sông và bãi bồi:

III.1.1. Thềm xâm thực - tích tụ bậc IV:

Thềm xâm thực - tích tụ bậc IV tạo thành dải đồi cao 50 - 80 m kéo dài từ Hố Nai qua sông Lá Buông - Long Thành, diện phân bố 300 km2. Chúng được cấu tạo bởi các trầm tích hệ tầng Trảng Bom, dày 10 - 37 m, có khả năng chứa nước ngầm. Các trầm tích này bị laterit kết chặt, độ chịu tải 3 - 8 kg/cm2[12], phủ lên các đá trầm tích hệ tầng La Ngà, hệ tầng Draylinh, các đá phun trào hệ tầng Long Bình hoặc các trầm tích hệ tầng Bà Miêu. Bề mặt thềm bị chia cắt yếu (chia cắt ngang 0,1 - 0,3 km/km2, hiếm khi 0,5 - 1,5 km/km2, chia cắt sâu 15 - 40 m) tạo thành các dãy đồi đỉnh bằng lượn sóng thoải, sườn dốc phổ biến 3 - 100, ít nơi tới 20 - 300. Bề mặt thềm được bảo tồn dưới dạng các bề mặt đồi đỉnh bằng rộng từ vài chục ha đến hàng chục km2. Khả năng thoát nước tốt. Hệ số bảo tồn bề mặt thềm 0,75 - 0,9. Bề mặt thềm, do vậy, rất thích hợp cho việc xây dựng các khu đô thị và các khu công nghiệp.

III.2. Thềm xâm thực - tích tụ bậc III:

Tạo thành các dải đồi thấp thoải, cao 25 - 45 m bám sát thềm IV về phía Tây, Tây Nam, kéo dài từ Biên Hòa qua Long Bình xuống Đông Long Thành, rộng 382 km2. Thềm được cấu tạo bởi các trầm tích của hệ tầng Thủ Đức, dày 10 - 20 m, có khả năng chứa nước ngầm.

Thềm bị chia cắt yếu (chia cắt ngang 0,05 - 0,2 km/km2, chia cắt sâu 5 - 10 - 20 m) thành các dãy đồi đỉnh bằng rộng hàng chục đến hàng trăm ha, lượn sóng thoải, sườn dốc < 3 - 100, thoát nước tốt. Hệ số bảo tồn bề mặt thềm 0,8 - 0,92. Trầm tích thềm thường bị laterit cứng chắc màu loang lổ nâu đỏ, độ chịu tải 3 - 4 kg/cm2 - 10 kg/cm2[12]. Do đặc điểm như vậy, bề mặt thềm rất thuận lợi cho việc xây dựng khu đô thị, dân cư và các khu công nghiệp.

Thềm bậc III cũng phát triển dọc sông La Ngà. Trầm tích của thềm là cát bột lẫn sạn sỏi, phần dưới bị laterit kết tảng, dày một vài mét. Di tích của thềm còn được thấy trong các lỗ khoan ở khu vực Định Quán: bề mặt thềm cao tuyệt đối 70 - 80 m, tích tụ thềm gồm cuội sỏi, cát vàng, cát sét sạn sỏi dày 0,6 đến 5 m, bị bazan hệ tầng Phước Tân phủ lên.

III.3. Thềm tích tụ bậc II:

Thềm tích tụ bậc II tạo thành các bề mặt bằng phẳng dọc sông Đồng Nai, phát triển chủ yếu trên đoạn  Bửu Long -  Biên Hòa - Long Bình - Long Thành, diện tích 176 km2. Thềm cao 10 - 15 m, bề mặt thềm bằng phẳng bị chia cắt không đáng kể, thoát nước tốt. Thềm được cấu tạo bởi sét, sét bột, cát bột phân lớp dày, cát lẫn cuội sỏi xen kẹp cát bột của hệ tầng Củ Chi dày 5 -15 m, sức chịu tải 2 - 3 kg/cm2[12]. Diện phát triển của thềm cũng thuận lợi cho việc xây dựng các công trình đô thị và các khu công nghiệp.

Thềm bậc II  còn phát triển dọc theo sông Mã Đà, suối Sà Mách, là thềm xâm thực - tích tụ. Trầm tích tạo thềm là cuội sỏi, cát bột, cát sạn sỏi lẫn bột sét, bề dày thay đổi từ 1 - 2 m đến 8 m.

III.4. Thềm sông bậc I:

Thềm sông bậc I phân bố rộng rãi ở Biên Hòa và các dải hẹp ven theo thung lũng sông La Ngà, sông Đồng Nai (đoạn Tà Lài), cao tương đối 4 - 6 m. Bề mặt thềm khá bằng phẳng, cấu tạo bởi các trầm tích sông, chủ yếu là cát bột hoặc bột sét màu xám vàng tuổi Holocen sớm giữa, kết cấu bở rời, sức chịu tải yếu (1 - 2 kg/cm2) [12], dày 1 - 4 m  đến 10 m.

III.5. Bãi bồi:

Bãi bồi cao phân bố dọc theo các thung lũng sông suối, rộng vài chục mét đến vài trăm mét, cao tương đối 1 - 3 m, bằng phẳng, được cấu tạo bởi: cuội sỏi, cát hoặc cát bột, sét bột bở rời dày một vài mét. Bề mặt bãi bồi thường dễ bị ngập lũ.

Bãi bồi thấp phân bố giữa hoặc ven lòng sông suối hiện tại. Trong các sông nhỏ và suối, chúng lộ ra trong mùa khô. Ở sông Đồng Nai từ Thiện Tân đến Phước Khánh  chúng thường bị ngập, ít bãi được lộ ra khi triều xuống. Bãi bồi thấp được cấu tạo bởi cát là chủ yếu, có nơi là cát pha bột sét hoặc cuội sỏi. Chúng đang được thành tạo, là nguồn cung cấp cát, cuội sỏi chủ yếu của tỉnh trong giai đoạn hiện nay đến năm 2010.

III.6. Đồng bằng tích tụ sông - đầm lầy:

Đồng bằng tích tụ sông - đầm lầy phát triển trên đoạn bến phà Tam Phước, cao 1 - 1,5 m, diện tích 210 km2. Đồng bằng bị chia cắt bởi hệ thống dòng chảy dạng ô mạng, uốn khúc mạnh; chia cắt ngang 0,5 - 2 km/km2, sâu 5 - 10 m. Thủy triều thường lên xuống dọc theo sông và ảnh hưởng ít nhiều tới các bộ phận thấp trũng của đồng bằng. Trầm tích tạo đồng bằng gồm sét bột chứa mùn xác thực vật màu đen, xám đen dày 1 - 3 m.

Đồng bằng tích tụ sông - đầm lầy còn phát triển dọc theo sông Đồng Nai từ  Tà Lài đến ngã ba sông La Ngà - sông Đồng Nai. Chúng được cấu tạo bởi bột sét lẫn cát chứa mùn thực vật màu đen dày 2 - 7m.

III.7. Đồng bằng tích tụ hồ - đầm lầy:

Đồng bằng tích tụ hồ - đầm lầy phân bố ở Phú Điền - Định Quán. Chúng được hình thành trên cơ sở tích tụ lấp đầy gần hoàn toàn các hồ do bazan tạo ra.

Ở Phú Điền, hồ được hình thành từ Pleistocen muộn do sự chắn dòng thung lũng sông La Ngà của phun trào bazan ở Võ Đắc (Bình Thuận). Phần đồng bằng trên diện tích tỉnh Đồng Nai rộng 74 km2. Ở khu Tây Bắc, đồng bằng cao 105 - 110 m, cấu tạo bởi cát, cát sạn bột, cát sét bị laterit hóa dày 5 - 10 m, ít bị ngập nước. Ở phần còn lại, đồng bằng cao 100 - 105 m đang trong giai đoạn phát triển đầm lầy, cấu tạo bởi sét, sét bột màu xám đen, đen, nâu đen, dày 2,5 - 3,5 m, dễ lầy thụt, khó qua lại, đôi chỗ chứa nhiều mùn, xác thực vật, tạo than bùn.

Ở Định Quán, Tân Phú, hồ được hình thành do phun trào bazan tạo nên các trũng nhỏ khép kín ở chân núi. Các đồng bằng được thành tạo do hồ bị lấp đầy gần hoàn toàn, diện tích không lớn (từ 0,5 - 3 km2). Tích tụ tạo đồng bằng là sét, sét bột màu xám, xám đen, nâu đen, đôi chỗ tạo than bùn, dày 0,5 - 5 m.

Comments