B. Phân vùng địa mạo

PHÂN VÙNG ĐỊA MẠO


Phần lớn tỉnh Đồng Nai thuộc phụ miền núi thấp và trũng Thuận Hải và phụ miền đồng bằng tích tụ - xâm thực Đông Nam Bộ. Phần phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh thuộc phụ miền cao nguyên, bình sơn nguyên và dãy núi trung bình - thấp Lâm Viên (Đà Lạt).

Theo đặc điểm kiến trúc hình thái và quan hệ giữa các bề mặt địa hình có nguồn gốc khác nhau, động lực và xu hướng phát triển của địa hình, ý nghĩa sử dụng của lãnh thổ, trong tỉnh Đồng Nai có 7 vùng địa mạo.

I. Vùng Nam Cát Tiên:

Đồng bằng bóc mòn và cao nguyên núi lửa nâng vòm yếu, xâm thực - rửa trôi.

Vùng Nam Cát Tiên thuộc phần cực Bắc của tỉnh, dạng đẳng thước, bán kính khoảng 15 km, diện tích 462 km2.

Về mặt kiến trúc hình thái, vùng phát triển trên kiến trúc vòm với lớp phủ bazan của hệ tầng Túc Trưng, dày 20 -100 m, diện tích 230 km2. Đáy lớp phủ bazan là bề mặt san bằng Miocen muộn, Pliocen muộn. Các bề mặt  này bào cắt chủ yếu các đá trầm tích hệ tầng La Ngà và bóc lộ một phần khối xâm nhập phức hệ Định Quán ở khu vực Suối Ty.

Kiến trúc vòm được tạo ra đồng thời bởi hai yếu tố nâng dạng vòm và lớp phủ bazan dạng vòm có đỉnh gần trùng nhau [3]. Dòng chảy có dạng tỏa tia từ đỉnh vòm. Ôm quanh rìa vòm là các phần khác nhau của thung lũng sông Mã Đà, suối Sà Mách, sông Đồng Nai. Bề mặt Miocen muộn cao 200 - 280 m biến dạng vòm nghiêng thoải  0,1 - 0,30 từ đỉnh vòm. Lớp phủ bazan có chiều dày tăng dần về phía đỉnh vòm. Nâng chia cắt bóc mòn là quá trình chủ đạo trên phạm vi của vùng. Bề mặt san bằng Pliocen cao 100 - 140 m, Pleistocen sớm cao 60 - 80 m. Các thung lũng xâm thực là chủ yếu, hẹp, dốc, chữ “V”, sườn dốc 10 - 300, đáy nhiều ghềnh thác nhỏ. Các thung lũng này đã chia cắt phá hủy các bề mặt trên, chiếm 0 - 5% diện tích khu vực đỉnh, 20 - 40% ở phần sườn và tới 60 - 80% diện tích khu vực rìa vòm. Phần diện tích còn lại là các bề mặt nằm ngang bị rửa trôi; trên bazan phát triển vỏ phong hóa laterit bauxit.

II. Vùng Mã Đà:

Đồng bằng bóc mòn, nâng vòm yếu, rửa trôi - xâm thực.

Vùng Mã Đà tiếp giáp về phía Tây, Tây Nam với vùng Nam Cát Tiên, rộng khoảng 492 km2.

Về mặt kiến trúc hình thái, vùng Mã Đà là đồng bằng đồi được nâng vòm yếu. Đồng bằng đồi được tạo bởi bề mặt san bằng tuổi Pliocen muộn, cao 90 - 120 m (chiếm 60% diện tích của vùng), Pleistocen sớm cao 50 - 80 m, bằng phẳng hoặc lượn sóng thoải. Bề mặt đỉnh đồi rộng 200 - 300 m đến 500 - 800 m. Sườn dốc 3 - 100, chênh cao 10 - 20 m, ít khi 3 - 40 m. Các dòng chảy nhỏ có dạng toả tia. Sông Mã Đà, sông Đồng Nai, suối Sà Mách chảy ôm quanh rìa vòm. Gần nhân vòm đã lộ ra một phần của khối xâm nhập phức hệ Định Quán. Vùng được nâng lên yếu, nhưng xu hướng nâng lên vẫn là chủ đạo, chịu tác động bởi 2 quá trình chính: rửa trôi và xâm thực. Rửa trôi không đáng kể trên bề mặt 50 - 80 m, rửa trôi yếu trên diện tích bề mặt cao 90 - 120 m. Quá trình xâm thực xảy ra dọc theo sông Mã Đà, phần hạ lưu suối Sai, suối Đá, suối Bà Hào, suối Cây Sung, tạo nên các sườn dốc 10 - 200 đến 300, chênh cao 20 - 40 m. Các sườn này chiếm khoảng 5% diện tích toàn vùng.

Như vậy, trừ phần diện tích xâm thực dọc theo các sông, suối, vùng Mã Đà là một đồng bằng đồi bằng - thoải thuận lợi cho việc phát triển giao thông, nông, lâm nghiệp.

III. Vùng Tà Lài - Định Quán:

Đồng bằng bóc mòn - núi lửa, đồi núi sót, nâng yếu, rửa trôi và tích tụ sông, đầm hồ.

Vùng Tà Lài - Định Quán nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh, diện tích khoảng 1085 km2.

Về mặt kiến trúc hình thái, vùng Tài Lài - Định Quán là đồng bằng đồi - núi sót khối tảng - vòm được lấp đầy ở những phần thấp, trũng bởi các trầm tích Pliocen - Đệ tứ và phun trào bazan hệ tầng Xuân Lộc, Phước Tân.

Đồng bằng đồi và các núi sót được thành tạo chủ yếu trong quá trình pediment hóa Pliocen và Pleistocen sớm. Sườn pediment chính là sườn của các khối và dãy núi sót vùng Tân Phú - Định Quán (xem mục 5.2 cùng chương). Bề mặt  pediment chính là các bề mặt san bằng Pliocen muộn cao 100 - 145 m và Pleistocen sớm cao 60 - 90 m. Trầm tích tương quan với chúng có bề dày thay đổi từ 3,5 - 10 m, có khi đạt đến 27 m (LK718 D). Phần lớn diện tích của chúng bị phủ bởi bazan hệ tầng Xuân Lộc và Phước Tân với bề dày thay đổi từ 10 - 77 m. Phần còn lại  được thấy ở Phú Bình, Cao Cang diện tích 280 km2, là các đồng bằng đồi lượn sóng thoải, chia cắt yếu, rửa trôi - xâm thực. Các đồng bằng này phát triển trên các đá trầm tích Jura, các đá xâm nhập phức hệ Định Quán, phá hủy những bộ phận khác nhau của kiến trúc vòm Định Quán và Phú Bình. Các khối núi sót thường là các đá ít nhiều đã bị sừng hóa: đá phiến đốm sần cordirit andaluzit, đá sừng thạch anh plagioca pyroxen, bột kết thạch anh - felspat bị sừng hóa, cát kết dạng arkor bị sừng hóa, đá phiến sét sần đốm,...

Phun trào bazan tạo nên các lớp phủ bazan dạng dòng chảy dọc theo thung lũng sông Đồng Nai, dạng vòm thoải ở Tà Lài, Phú Lộc, Định Quán, diện tích 440 km2. Bề mặt các lớp phủ bazan khá bằng phẳng (góc dốc < 0,5 - 10) hầu như không bị chia cắt - xâm thực. Bazan bị phong hóa yếu. Chiều dày vỏ phong hóa nhỏ, trên mặt thường có các tảng - khối bazan. Do những đặc điểm như vậy, vùng thuận lợi cho việc xây dựng hệ thống giao thông đường bộ, trồng các cây rau màu và cây ăn trái, trồng rừng.

Các đồng bằng tích tụ sông, hồ đầm lầy là những bộ phận bằng phẳng, thấp trũng, diện tích từ một vài ha đến 40 - 74 km2. Chúng phân bố rải rác dọc sông Đồng Nai, sông La Ngà (ở Phú Điền) và ít hơn là rìa các lớp phủ bazan Định Quán - Tân Phú, chiếm khoảng 7% diện tích vùng. Đồng bằng cao tuyệt đối 100 - 130 m, cao tương đối so với mực nước sông mùa cạn từ 2 - 10 m thuận lợi cho việc trồng lúa nước.

Với các đặc điểm như trên, vùng Tà Lài - Định Quán là vùng có nhiều yếu tố địa hình khác nhau, thuận lợi cho việc định cư, phát triển nông - lâm nghiệp.

IV. Vùng Chứa Chan:

Đồng bằng bóc mòn và đồng bằng núi lửa, núi sót rửa trôi, xâm thực tích tụ và đổ lở. Vùng Chứa Chan tiếp giáp về phía Nam với vùng Tà Lài - Định Quán, diện tích 667 km2.

Về mặt kiến trúc hình thái vùng Chứa Chan thuộc về đồng bằng bóc mòn - tích tụ  có lớp phủ bazan hệ tầng Xuân Lộc được nâng vòm - khối tảng.

Quá trình bóc mòn đã hình thành nên các yếu tố địa hình có tuổi từ Miocen muộn, nhưng bóc mòn Pliocen - Pleistocen sớm mới thực sự tạo ra diện mạo cơ bản của địa hình. Đó là các đồng  bằng bóc mòn - tích tụ  tuổi Pliocen muộn cao 100 - 150 m, Pleistocen sớm cao 80 - 100 m với các núi sót nhô cao 100 - 650 m.  Các núi sót chiếm diện tích 26 km2. Phun trào bazan hệ tầng Xuân Lộc phát triển từ các miệng núi lửa tạo nên các lớp phủ bazan nghiêng thoải về phía Bắc, Nam núi Chứa Chan và dạng vòm ở núi Hok, diện tích 260 km2. Bazan bị phong hóa tạo lớp đất đỏ dày.

Vùng được nâng vòm - khối tảng yếu, phía Tây bị giới hạn bởi đứt gãy Mã Đà - Chứa Chan. Trung tâm vòm trùng với khu vực núi Chứa Chan và núi Mây Tào. Từ các trung tâm này, bề mặt san bằng Pliocen và Pleistocen sớm bị nghiêng thoải về các phía, xuất hiện dòng chảy tỏa tia, chia cắt xâm thực yếu. Sông La Ngà, sông Gia Huynh, sông Ray, suối Nước Trong và sông Gia Ôi chảy ôm quanh rìa các vòm.

Trên các khối núi sót phát triển các quá trình đổ lở. Phần còn lại của diện tích chủ yếu là rửa trôi bề mặt. Chia cắt ngang yếu 0,2 - 0,8 km/km2, ít khi 0,8 - 1,2 km/km2, chia cắt sâu 5 - 10 m đến 20 m, đôi chỗ 40 - 60 m.

Nhìn chung 95,5% diện tích của vùng là đồng bằng bóc mòn - tích tụ và đồng bằng núi lửa lượn sóng thoải, rửa trôi là chủ yếu. Vùng thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường bộ, xây dựng, phát triển nông, lâm nghiệp.

V. Vùng Xuân Lộc:

Đồng bằng bóc mòn - núi lửa, nâng yếu, rửa trôi và xâm thực.

Vùng Xuân Lộc phân bố ở trung tâm của tỉnh, trải dài từ Túc Trưng đến Cẩm Tiêm theo phương kinh tuyến và từ Trảng Bom đến sông Ray theo phương vĩ tuyến,  trùng với geobloc Xuân Lộc, diện tích 1.395 km2.

Về mặt kiến trúc hình thái, vùng Xuân Lộc thuộc đồng bằng bóc mòn - núi lửa dạng vòm, nâng yếu tân kiến tạo. Địa hình bóc mòn chủ yếu trên các đá trầm tích Jura. Bề mặt san bằng  Pleistocen sớm bao trùm hầu hết diện tích của vùng, độ cao thay đổi 50 - 75 m. Bề mặt san bằng Pliocen muộn phát triển hạn chế ở Túc Trưng, nguồn gốc bóc mòn tích tụ cao 100 - 120 m. Phun trào bazan hệ tầng Xuân Lộc, Sóc Lu, Phước Tân dạng dòng chảy hoặc vòm phủ đã phủ gần hoàn toàn các bề mặt này. Chúng chỉ được lộ ra ở khu vực Vĩnh An và Túc Trưng. Đỉnh vòm trùng với các khu vực Túc Trưng, Đồi 392, Cẩm Tiêm, Sóc Lu - nơi phát triển các nón - miệng núi lửa nhô cao trên bề mặt địa hình. Các nón miệng núi lửa phát triển theo đứt gãy phương kinh tuyến Suối Ty - Xuân Lộc, tập trung thành các cụm nón núi lửa ở Gia Kiệm, Xuân Lộc, Cẩm Tiêm hoặc rải rác ở Túc Trưng, Võ Dõng, núi Be Bác, tổng diện tích 99 km2. Bề dày bazan thay đổi từ 10 - 30 m ở ven rìa đến 100 - 350 m ở trung tâm các vòm. Do ảnh hưởng của trọng lực, bề mặt đáy dưới lớp phủ bazan ở các trung tâm và gần trung tâm vòm có dạng lõm xuống, cao 50 - 65 m.

Trên diện tích 867 km2,  bazan hệ tầng Xuân Lộc bị phong hóa tạo tầng đất đỏ dày thuận lợi cho việc trồng cây ăn quả  và cây công nghiệp. Trên diện tích phát triển bazan hệ tầng Sóc Lu và Phước Tân và các nón miệng núi lửa, vỏ phong hóa kém phát triển, có nhiều mỏ đá xây dựng và vật liệu phụ gia xi măng (puzơlan).

Do được nâng lên yếu, rửa trôi là quá trình phổ biến. Quá trình xâm thực phát triển hạn chế dọc theo các thung lũng cấp 2, 3 và 4.

VI. Vùng Biên Hòa - Long Thành:

Đồng bằng đồi thềm, hạ tích tụ  và nâng yếu, rửa trôi - xâm thực.

Vùng Biên Hòa - Long Thành kéo dài từ suối Rạch Đông qua Biên Hòa tới Long Thành, diện tích 1.105 km2.

Về kiến trúc hình thái, vùng Biên Hòa - Long Thành thuộc đồng bằng đồi thềm hạ tích tụ trong Pliocen - Pleistocen thượng, nâng yếu tạo thềm bậc IV, III, II và I  từ Pleistocen giữa đến Holocen.

Quá trình hạ lún được thấy rõ từ Pliocen muộn, được tiếp tục trong  Pleistocen sớm. Bề mặt san bằng Miocen muộn cao 15 - 30 m, bị các trầm tích hệ tầng Bà Miêu (N22bm) phủ dày 20 - 30 m ở phía trên. Các trầm tích hệ tầng Trảng Bom phủ dày 5 - 28 m trên trầm tích hệ tầng Bà Miêu. Quá trình nâng bắt đầu từ  Pleistocen giữa. Trên vùng phát triển thềm một phía, thềm trẻ hơn, thấp hơn (thềm III, II và I) dịch dần về phía Tây, Tây Nam. Chúng chuyển bậc với nhau qua các đoạn sườn thoải 3 - 50, chênh cao 5 - 10 m.  Hạ lún có xu hướng mạnh dần từ Tây Bắc đến Đông Nam: ở khu vực Biên Hòa bề mặt móng đá gốc thay đổi từ 15 - 36 m,  đến (-6) - (-20 m), trầm tích Pliocen - Đệ tứ dày 10 - 24 m; ở  Long Thành bề mặt móng đá gốc chìm sâu đến (-2) - (-34 m), trầm tích Pliocen - Đệ tứ dày 35 - 45 m; ở Nhơn Trạch thành bề mặt móng đá gốc chìm sâu đến (-50 m) và sâu hơn, trầm tích Pliocen - Đệ tứ dày ³ 55 m. Cắt ngang dải đồng bằng đồi thềm Biên Hòa - Long Thành  còn có các dải bazan dạng dòng chảy phát triển dọc theo thung lũng sông Lá Buông và suối Đá tuổi Pleistocen muộn.

Các bậc thềm tuy có độ cao khác nhau nhưng lại liên kết với nhau trên cơ sở các bề mặt cùng nguồn gốc, cùng được nâng lên, rửa trôi là chủ yếu và xâm thực. Theo hướng Tây Tây Nam, chúng thấp dần theo góc nghiêng chung < 10. Theo hướng Nam, Đông Nam bề mặt bị chia cắt bởi các thung lũng xâm thực sâu 10 - 30 m, sườn dốc 3 - 100, cách nhau 5 - 7 km - 10 km. Do vậy, bề mặt nằm ngang và gần nằm ngang là phổ biến, chiếm tới 85 - 90% diện tích của vùng. Phần diện tích này rất thuận lợi cho việc phát triển các khu dân cư, các khu đô thị, các khu công nghiệp và hệ thống giao thông. Trên thực tế, một phần diện tích của vùng đã được sử dụng để xây dựng và phát triển đô thị Biên Hòa, các khu công nghiệp Biên Hòa 1, Biên Hòa 2, Amata, Gò Dầu, Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2 v.v...

VII. Vùng Long Hưng:

Đồng bằng tích tụ, hạ yếu, ngập triều và xâm thực dòng triều.

Vùng Long Hưng nằm ở phía Tây Nam của tỉnh, bao gồm các đồng bằng thấp cao 1 - 2 m nguồn gốc sông - đầm lầy và biển - đầm lầy. Diện tích 320 km2.

Về mặt kiến trúc hình thái, vùng thuộc đồng bằng thấp cửa sông sụt lún tích tụ các trầm tích từ Pliocen đến hiện đại. Bề mặt Miocen muộn bị chôn vùi ở độ sâu (-20 m) - (-50 m) đến (-144 m). Tích tụ các trầm tích Pliocen - Đệ tứ dày 20 - 50 m đến 144 m, dày hơn về phía Tây và về phía Nam, Đông Nam. Ở trên mặt, đồng bằng được cấu tạo bởi các trầm tích Holocen giữa - muộn dày 1,5 - 10m, độ chịu tải kém (³ 0,5 kg/cm2 [12]). Bề mặt đồng bằng bị chia cắt bởi hệ thống dòng chảy ô mạng, uốn khúc mạnh, mật độ 1 - 2 km/km2.

Ở phía Nam vùng bị ngập triều. Ở phía Bắc, thủy triều gây ngập từng phần, đồng bằng bị nhiễm mặn ở các bộ phận trũng thấp dọc sông và các kênh rạch. Dọc theo các kênh rạch có xâm thực dòng triều. Bề mặt đồng bằng bị ngập nước không thường xuyên, đôi nơi lầy thụt, khó qua lại.

Comments