D. Kết luận

KẾT LUẬN

Tỉnh Đồng Nai thuộc rìa Tây Tây Nam của đới nâng bóc mòn Đà Lạt, tiếp giáp với đới sụt tích tụ đồng bằng sông Cửu Long. Do vậy, trên lãnh thổ có mặt nhiều yếu tố địa hình thuộc 2 miền này.

Cao nguyên và đồng bằng chiếm 87,7% diện tích lãnh thổ, núi 5,8%, hồ Trị An 5,5%. Đồng bằng có nguồn gốc bóc mòn, bóc mòn - tích tụ, tích tụ  và núi lửa.

Địa hình tỉnh Đồng Nai nhìn chung thuận lợi cho việc phát triển giao thông, lâm nông nghiệp, xây dựng, phát triển các khu đô thị, các khu công nghiệp và các khu dân cư. Thuận lợi nhất cho việc phát triển các cây công nghiệp là các đồng bằng núi lửa. Thuận lợi nhất cho việc qui hoạch phát triển các khu đô thị và công nghiệp thuộc về vùng Biên Hòa, Long Thành. Các vùng đồng bằng tích tụ thấp nguồn gốc sông, sông - đầm lầy, hồ - đầm lầy thuận lợi cho việc phát triển lúa nước.

Nâng và bóc mòn là xu hướng phát triển chung của lãnh thổ. Tuy nhiên, từ Miocen giữa đến nay, đây là vùng nâng yếu, phân dị yếu. Phần phía Bắc, Đông và Đông Bắc nâng lên bóc mòn là chủ yếu. Phần phía Tây, Tây Nam có sự thay thế nhau giữa các quá trình nâng và hạ: nâng bóc mòn Miocen muộn, hạ tích tụ Pliocen - Pleistocen sớm, nâng tương đối  Pleistocen giữa đến  Pleistocen muộn, hạ yếu Holocen sớm - giữa và nâng yếu Holocen giữa - muộn.

Phun trào bazan hoạt động nhiều kỳ trong khoảng thời gian từ Pliocen đến  Pleistocen muộn. Các núi lửa phát triển theo phương kinh tuyến được thấy rõ ở Túc Trưng - Xuân  Lộc - Cẩm Tiêm, Tà Lài - Định Quán - Chứa Chan.

Hoạt động rửa trôi là phổ biến, xảy ra trên phần lớn diện tích của tỉnh. Xâm thực sông suối, xâm thực rãnh xói đang có xu hướng gia tăng trên các điểm, các vùng có hoạt động nhân sinh.

Comments