E. Hướng ứng dụng của khí hậu Đồng Nai

HƯỚNG ỨNG DỤNG CỦA KHÍ HẬU ĐỒNG NAI


Với nhận thức khí hậu vừa là tiềm năng vừa là động lực phát triển sản xuất, chúng tôi thấy cần nêu một số đặc điểm chính của khí hậu Đồng Nai để chúng ta cùng nhau xem xét, đánh giá thêm về mối quan hệ khí hậu với sản xuất - nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, để góp phần khai thác hợp lí nguồn tài nguyên khí hậu đặc biệt là công tác quy hoạch phát triển kinh tế Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay.

I. Khí hậu và sản xuất nông nghiệp:

Sự sống của thực vật là một hình thái đặc biệt của vận động vật chất. Nó chịu ảnh hưởng mật thiết và thường xuyên điều kiện ngoại cảnh. Để duy trì sự sống, thực vật cần có các điều kiện dinh dưỡng, nhiệt độ, ánh sáng và nước. Ba điều kiện sau là nhân tố khí tượng. Ba nhân tố đó đủ chi phối tình hình khí hậu ở một địa phương.

Nguồn tài nguyên khí hậu ở Đồng Nai khá phong phú và đa dạng: chế độ bức xạ, nhiệt, nắng, độ ẩm, gió tương đối cao, ổn định và phân bố khá đồng đều. Chế độ mưa phong phú về lượng, tuy có sự biến động mạnh mẽ nhưng cơ bản theo quy luật mùa khí hậu. Các hiện tượng thời tiết nguy hiểm tương đối ít xảy ra và nếu có thì hậu quả và tác hại cũng ở mức độ không lớn như các địa phương khác. Đây là điều kiện thuận lợi cần tận dụng khai thác để nâng cao hiệu quả kinh tế, đồng thời chú trọng đến các mặt bất thuận của khí hậu và thời tiết mà tìm cách giảm nhẹ mức độ thiệt hại có thể có.

Thiên nhiên vốn là một hệ thống động, luôn chuyển hóa các dạng năng lượng: thu năng lượng từ bên ngoài, phát ra năng lượng sau khi đã được chuyển hóa và luôn ở thế cân bằng bền vững. Đó là một hệ sinh thái tác động qua lại, vừa tạo nên sức liên kết vững chắc bên trong, vừa trao đổi thường xuyên với bên ngoài. Nếu chúng ta tìm cách thay đổi nó bằng một hệ quả giản đơn thì sẽ xảy ra mất cân bằng và có thể dẫn đến hủy hoại cả hệ sinh thái, môi trường dẫn đến sự biến đổi khí hậu mà hệ quả chắc là sẽ xấu nhiều hơn. Bởi vậy, khai thác phải bảo đảm sao cho hài hòa giữa sử dụng và bảo vệ khí hậu, giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

Mỗi cây trồng và vật nuôi đều có yêu cầu trong giới hạn nhất định về điều kiện khí hậu. Ngoài giới hạn đó, chúng sẽ ngưng phát triển hoặc phát triển được nhưng cho hiệu quả thấp. Ưu thế khí hậu ở Đồng Nai có nhiều thuận lợi cho sự phát triển các loại cây công nghiệp, cây thực phẩm nhưng cũng cần phát triển có giới hạn và mức độ, tùy nơi, tùy từng loại giống, cây, con... cho phù hợp sao cho vừa bảo đảm môi trường sinh thái cân bằng và sản xuất bền vững.

Căn cứ vào các yếu tố then chốt : bức xạ quang hợp (Bxqh), nhiệt độ trung bình tháng (Ttbth), lượng mưa năm (Rn), thời gian kéo dài mùa ẩm (Mẩm) và lượng bốc thoát hơi khả năng (Bhkn) trung bình ngày tổng hợp và phân vùng sinh thái nông nghiệp dưới đây là căn cứ khoa học cho sự phát triển nông nghiệp bền vững ở Đồng Nai.

Bảng 18: Tóm tắt đặc điểm phân vùng sinh thái nông nghiệp

PHÂN

ĐẶC ĐIỂM CHÍNH

VÙNG

ĐỊA HÌNH

ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU

CÂY TRỒNG

I

Núi thấp, đồi cao, độ dốc lớn, độ cao > 100m

Bxqh: 190 - 240cal/cm2ng, Ttbth: 24 - 280C, Rn :1700 - 2800 mm,   Mẩm : 190 - 260ngày, Bhkn : 3 - 5 mm/ngày

- Rừng, cây công nghiệp, cây lâu niên và cây ăn trái.                  - Cây công nghiệp ngắn ngày và cây mùa.

II

Địa hình thoải tương đối bằng, độ cao 20 - 70m

Bxqh: 220 - 270cal/cm2ng Ttbth  : 25 - 290C.      Rn: 160 - 210mm.  Mẩm : 190 - 240ngày.  Bhkn :  4 - 6mm/ngày

- Cây  trồng  đa  dạng, cây công nghiệp ngắn ngày và cây màu.

- Cây lưu niên (có giới hạn)

III

Địa hình thấp, độ cao < 20m

Bxqh: > 270cal/cm2 ngày Ttbth : 25 - 28,90C.   Mẩm: 200 ngày

- Cây lúa nước là chủ yếu.

II. Khí hậu và công nghiệp:

Khí hậu ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp ở một số dạng dưới đây:

Khí hậu là điều kiện của môi trường lao động, chi phối hiệu suất lao động. Điều kiện thích hợp với lao động khi nhiệt độ không khí từ 22 - 280C, độ ẩm = 60 - 85%, tốc độ gió trung bình = 2 - 3m/s, lượng mây khoảng 6/10. Ở Đồng Nai phần lớn số ngày trong năm có nhiệt, ẩm, gió, nắng trung bình ngày thích hợp với lao động. Ngoài những yếu tố thời tiết còn có một số nhiễu động đáng chú ý: những ngày nắng khoảng 12 - 14 giờ hoặc nhiệt độ cao vượt quá 280C và nắng có cường độ trên 1,0cal/cm2/phút... thì ta cần phải có các biện pháp giảm nhiệt, thông gió, che nắng vv...

Khí hậu còn là một trong những điều kiện bảo đảm kỹ thuật trong vận hành, bảo dưỡng, bảo quản và phát huy tính năng thiết bị... Nhiệt độ cao làm cho thiết bị mau nóng, dễ rạn nứt, nguyên vật liệu dễ bị biến chất... Ngoài ra nhiệt ẩm còn làm đọng ẩm, thiết bị mau lão hóa nên cần xử lý nhiệt đới hóa để thiết bị thích nghi được với điều kiện khí hậu nóng, ẩm nhiều nấm mốc, phản xạ cao...

III. Khí hậu và xây dựng:

Trong thiết kế và xây dựng các công trình kiến trúc, cũng như nghiên cứu quy hoạch thành phố, khu công nghiệp, khu văn hóa thể thao và khu dân cư... đều cần phải nghiên cứu kỹ những đặc điểm khí hậu của địa phương thì mới đạt yêu cầu tạo dựng được những công trình có đủ điều kiện tiểu khí hậu thoải mái cho con người ở những công trình đó.

Nghiên cứu khí hậu xây dựng ở Đồng Nai, chúng tôi thấy có một số đặc điểm đáng chú ý:

- Lượng mưa ngày khoảng 1 - 10mm có tần suất cao nhất. Lượng mưa ban ngày lớn hơn 2 lần lượng mưa ban đêm và thường xảy ra trong khoảng 12 - 19 giờ.

- Lượng mưa hắt hướng Tây và Tây Nam là cao nhất: 80%/tháng. Góc rơi của hạt mưa hắt xấp xỉ 450, nếu mái che ở độ cao 3m thì hạt mưa hắt xa 2,5 - 3m. Để giảm hắt khi xây dựng nên chọn hướng ít bị hắt, còn mái che hắt thì phải làm đủ rộng.

Căn cứ vào chế độ mưa gió ở Đồng Nai, khi làm nhà nên chọn trục dài theo hướng Đông - Tây hoặc Đông Bắc - Tây Nam, cửa mở theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, hoặc hướng Nam - Bắc sẽ ít bị mưa hắt, nắng cũng ít hơn, giảm được nhiệt và tạo độ thông thoáng tốt. Mái nhà có độ dốc không nên quá 400 vì nếu để độ dốc lớn hơn thì sẽ chịu áp lực gió mạnh, lượng mưa hắt cao.

IV. Khí hậu và du lịch:

Đi du lịch cũng cần chọn những ngày có thời tiết đẹp. Vì thế khách du lịch cũng nên biết khí hậu nơi họ sẽ tới. Đồng Nai có nhiều điểm du lịch khá nổi tiếng như: Bửu Long (Biên Hòa), K4, Suối Tre (Long Khánh), Hòn Chồng (Định Quán), rừng nguyên sinh Nam Cát Tiên (Tân Phú)... Khí hậu lại không giống như những vùng nhiệt đới thông thường mà có những sắc thái độc đáo riêng để khách nghỉ ngơi, an dưỡng, du lịch khá tốt. Ta có thể điểm qua khí hậu của mỗi mùa:

Mùa khí hậu du lịch ở Đồng Nai có những sắc thái riêng, không phù hợp với mùa thiên văn, không đồng nhất về độ dài và không ổn định, không thấy rõ sự đối lập về nhiệt mà chỉ đối lập về gió, mưa ẩm và cấu trúc thời tiết. Theo những đặc điểm liên quan nói trên có thể phân chia bốn mùa, dài ngắn khác nhau và độ xê dịch của mỗi mùa giữa các năm có thể từ 10 -15 ngày.

Mùa xuân (từ tháng III đến cuối tháng IV): Sở dĩ vẫn gọi thời kỳ này nằm trong mùa xuân vì đây là giai đoạn mở đầu mùa khí hậu sinh vật. Điểm nổi bật trong thời kỳ này là thường xảy ra những nhiệt độ cao nhất của năm (trên 380C). Các giá trị của hệ số nhiệt ẩm vào những giờ trưa có thể vượt qua giới hạn bất lợi (> 30). Nắng nhiều và tương đối gắt (9 - 11 giờ nắng/ngày), cường độ bức xạ cao (>500cal/cm2/ngày), còn mưa thì không nhiều (30 - 50mm). Tuy nhiên, vào buổi chiều và tối, không khí trở nên mát mẻ, khá thích hợp với hoạt động vui chơi, giải trí ngoài trời.

Mùa hạ (từ tháng V đến tháng VIII): Đây là giai đoạn khống chế bởi gió mùa Tây Nam, mưa nhiều ngày (15 - 20 ngày/tháng), lượng mưa tối thiểu cũng trên 200mm, nhiệt độ hạ nên có cảm giác tương đối mát, nắng ít và cường độ bức xạ cũng giảm yếu hơn mùa xuân (từ 20 - 25%).

Mùa thu (trong khoảng tháng IX, tháng X): đây là một thời kỳ có thời tiết rất bất ổn định. Số ngày mưa tương đối lớn (18 - 22ngày/tháng), lượng mưa có thể trên 300mm/tháng. Lượng mây phổ biến nhiều hơn (6 - 7/10), nắng ít (4 - 6 giờ), nhiệt giảm (trung bình 25 - 260C), thời tiết dịu mát hơn mùa hạ.

Mùa đông (từ tháng XII đến đến tháng II): Đặc điểm thời tiết mùa này là ít mây, nắng đẹp, nhiệt độ và độ ẩm tương đối thấp, mưa rất ít. Điểm đáng chú ý ở thời kỳ này nhiệt độ hàng ngày là thấp nhất trong năm. Đêm về sáng thường có từ 4 - 6 ngày/tháng nhiệt độ xuống dưới 200C.

V. Khí hậu và ô nhiễm công nghiệp:

Các chất thải trong công nghiệp như khói, bụi, hóa chất SOn, Con, Non , nước... nếu không được xử lý tốt đều có nguy cơ gây ô nhiễm hóa học, ô nhiễm hóa sinh, ô nhiễm cơ lý, ô nhiễm nhiệt... Bụi silic, bông, hóa chất được gió mang đi là hạt nhân ngưng kết tạo mù mưa, hóa chất thì tan trong nước mưa tạo ra các acid gây độc hại làm sét rỉ, ăn mòn kim loại, gây bệnh hoặc thúc đẩy vi sinh phát triển tạo ra những phản ứng hóa sinh, hình thành những trận mưa acid, gây ô nhiễm môi trường. Vì thế khi xây dựng nhà máy, khu công nghiệp phải có ngay các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường như trồng cây xanh, chống nóng, chống ẩm, nấm mốc, lọc sạch nước thải và không khí bằng các biện pháp liên hoàn khử chất thải... Khai thác rừng cần đi đôi với bảo vệ, trồng rừng để chống xói mòn và góp phần cải tạo khí hậu.

Các nhà máy, phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu sạch (không có chì)…  giảm tối đa các chất thải. Nếu sử dụng than hoặc dầu phải có các chất phụ gia vi sinh để phát huy hiệu suất nhiên liệu và giảm chất thải gây nhiễm bẩn môi trường.

 

Comments