A. Đặc điểm lưu vực sông Đồng Nai và các sông suối trong tỉnh

ĐẶC ĐIỂM LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI

VÀ CÁC SÔNG SUỐI TRONG TỈNH


I. Lưu vực sông chính - sông Đồng Nai:

Sông Đồng Nai là hệ thống sông lớn thứ hai ở phía Nam, và đứng thứ ba toàn quốc, lưu vực rộng lớn của nó gần như nằm trọn trong địa phận nước ta, chỉ có một bộ phận nhỏ nằm ở nước ngoài (Campuchia). Đồng Nai là con sông chính của hệ thống sông Đồng Nai, một số phụ lưu lớn của nó như: Đa Hoai, La Ngà (ở tả ngạn), sông Bé, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ (ở hữu ngạn).

Tổng diện tích lưu vực phần trong nước khoảng 37.330 km2, nằm trên địa phận các tỉnh Lâm Đồng, Đắc Lắc, Bình Dương, Bình Phước, Long An, Tây Ninh, Bình Thuận, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh.

Hệ thống sông Đồng Nai phát triển trên cao nguyên Di Linh, Lâm Viên, Bảo Lộc và một phần của đồng bằng Nam Bộ. Đây là một vùng kinh tế phát triển có nhiều thế mạnh với loại cây công nghiệp nhiệt đới như: cao su, trà, cà phê, thuốc lá, v.v... Trong lưu vực nhiều nơi có thể xây dựng thành các trung tâm thủy điện như: Trị An, Thác Mơ, Đa Mi, Hàm Thuận v.v... Cửa sông Đồng Nai rộng và sâu, mực nước lên xuống theo chế độ bán nhật triều, giao thông đường thủy rất thuận tiện ở khúc hạ lưu (từ Trị An ra biển).

Lưu vực sông Đồng Nai nằm trong khu vực đón gió mùa Tây Nam, lượng mưa lớn, trung bình từ 2000 - 2800 mm/năm. Tâm mưa nằm ở khu vực thượng nguồn sông La Ngà, mạng lưới sông suối tương đối phát triển, song không đều giữa các vùng. Mật độ lưới sông vào khoảng từ 0,5 - 1,0 /km2, vùng có mật độ cao là khu vực Bảo Lộc, vùng có mật độ thấp hơn là khu vực hạ lưu sông La Ngà, sông Bé v.v... Hệ số dòng chảy bình quân trong toàn lưu vực vào loại trung bình (µ = 0,5 ), hệ số phân tán Cv = 0,20 - 0,25.

* Sông Đồng Nai: bắt nguồn từ phía Bắc cao nguyên Lâm Viên (Lang Biang), phía Nam dãy Trường Sơn, độ cao các đỉnh núi đầu nguồn đạt trên 2000 m, đỉnh Lâm Viên: 2167 m, đỉnh Bi Doup: 2287 m, đỉnh Bơ Ra: 1864 m v.v... Các sườn núi cao tạo nguồn có độ dốc lớn từ 20 - 25%, đầu nguồn có tọa độ: 1080.42'.10''E và 120.12'.10''N, độ cao trung bình khu vực đầu nguồn khoảng 1700 m (E: kinh tuyến Đông, N: vĩ tuyến Bắc).

Từ nguồn về tới cửa biển Xoài Rạp, sông Đồng Nai có chiều dài khoảng 610 km, độ dốc trung bình trên toàn dòng sông là 2,8‰, đoạn chảy qua tỉnh Đồng Nai dài 220 km (tính đến ngã ba sông Lòng Tàu - Nhà Bè)

Diện tích lưu vực của hệ thống sông Đồng Nai tính đến trạm Trị An là: 14.900 km2, tới Biên Hòa là: 23.500 km2, tới Nhà Bè là: 28.200 km2, và tới cửa Soài Rạp khoảng 42.600 km2.

Sông Đồng Nai phía thượng lưu có tên là Đa Dung (đọc là Đạ Đờng: sông lớn), sau khi hợp lưu với sông Đa Nhim, sông có tên là Đồng Nai Thượng. Từ đó cho tới chỗ hợp lưu với sông Sài Gòn, sông mang tên chính thức là Đồng Nai. Ở phía dưới thành phố Hồ Chí Minh sông chia làm hai nhánh lớn là: sông Lòng Tàu chảy vào vũng Cần Giờ, và sông Nhà Bè đổ ra biển qua cửa Xoài Rạp. Hệ thống sông Vàm Cỏ (Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây) có nguồn từ Campuchia đổ vào sông Nhà Bè cách cửa Xoài Rạp khoảng 10 km. Cửa Xoài Rạp rộng có nơi tới 11 km, song việc đi lại không mấy thuận tiện vì có nhiều soi, cát, bãi bồi v.v...

Sông Đồng Nai có nhiều uốn khúc, quanh co, hệ số uốn khúc trung bình 1,3 đặc biệt trên cao nguyên Di Linh và Đà Lạt có nhiều uốn khúc lớn, nhưng nhìn chung dòng chảy của sông có hai hướng chính:

- Hướng Tây Bắc - Đông Nam chủ yếu ở phần thượng lưu

- Hướng Đông Bắc - Tây Nam chủ yếu ở trung và hạ lưu. Điều đó khá phù hợp với kiến trúc địa tầng trong mỗi khu vực.

Do tác động của tạo sơn Tân sinh, sông Đồng Nai là sông già trẻ lại, biểu hiện qua các cao nguyên xếp tầng như Lang Biang với độ cao trung bình: 1500 m, Di Linh với độ cao trên 1000 m, các cao nguyên Mạ, Mnông với độ cao bình quân khoảng 750 m và cuối cùng là đồng bằng Nam Bộ. Vì vậy trắc diện dọc của sông cũng có dạng bậc thang khá điển hình. Tuy vậy vẫn có thể chia chiều dài của sông chính ra thành ba đoạn:

* Đoạn thượng lưu: Đây là một đoạn ngắn từ nguồn về tới ĐanKia ( Lâm Đồng) có diện tích hứng nước vào khoảng 3.300 km2 gồm hai sông Đạ Đờng và Đa Nhim, dòng sông ở đây hẹp, độ dốc lớn, lòng sông có nhiều đá lởm chởm, ít có tác dụng về giao thông, đi lại.

Mặt khác vì là sông già trẻ lại qua vận động tạo sơn Tân sinh nên ở thượng lưu, khúc chảy trên sơn nguyên Đà Lạt khá êm đềm, nhiều đoạn bị chặn lại thành hồ như hồ Xuân Hương, Than Thở... Sức xâm thực của dòng sông chưa ảnh hưởng tới bề mặt của lưu vực. Khi ra tới rìa của sơn nguyên độ cao thay đổi, xuất hiện các thác nước nổi tiếng như: Pren, GuGa, v.v...

* Đoạn trung lưu: Đoạn này từ ĐanKia, phía dưới Liên Khương đến Trị An dài khoảng 300 km, dòng sông mở rộng uốn khúc quanh co, độ dốc bình quân dưới 1‰, giúp cho việc giao thông đi lại đã thuận lợi hơn. Tuy nhiên ở những chỗ chuyển tiếp của các bậc thềm, độ dốc tăng, hình thành những thác, ghềnh, tạo điều kiện tốt cho việc xây dựng các nhà máy thủy điện, như nhà máy thủy điện Trị An xây dựng ở thác Trị An, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai.

Những phụ lưu quan trọng của hệ thống sông Đồng Nai đều gia nhập ở đoạn này như sông La Ngà ở tả ngạn, sông Bé ở hữu ngạn.

* Đoạn hạ lưu: Từ Tân Uyên ra đến cửa biển Xoài Rạp dài xấp xỉ 143 km, đoạn này lòng sông khá rộng từ 1 km đến 4,5 km, có chỗ sâu tới 18 m, nước sông chịu ảnh hưởng mạnh bởi chế độ bán nhật triều vùng cửa sông. Tại Hiếu Liêm, Tân Uyên biên độ triều trong ngày còn tới trên 1 m.

Hệ thống sông Đồng Nai có khá nhiều phụ lưu, số phụ lưu có chiều dài lớn hơn 10 km là 253 sông suối.

Có thể phân cấp các phụ lưu như sau:

             - Phụ lưu cấp 1                                      có 61 sông

             - Phụ lưu cấp 2                                      có 126 sông

             - Phụ lưu cấp 3                                      có 52 sông

             - Phụ lưu cấp 4                                      có 14 sông

             - Sông chính                                có 01 sông

Nếu phân cấp theo diện tích hứng nước của lưu vực thì:

             - Dưới 100 km2                                                               có 168 sông

             - Từ 101 - 500 km2                                     có 70 sông

             - Từ 501 – 1.000 km2                                               có 07 sông

             - Từ 1.001 – 3.000 km2                                          có 03 sông

             - Từ 3.001 – 5.000 km2                                          có 02 sông

             - Từ 5001 - 8000 km2                                              có 03 sông

             - Trên 8000 km2                                                            có 01 sông

Trong số các phụ lưu kể trên, có một số phụ lưu quan trọng như: sông La Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ.

 

* Sông Bé:

Là phụ lưu lớn nhất bên bờ phải, bắt nguồn từ phía Tây của Nam Tây Nguyên nơi có độ cao từ 600 - 800 m, diện tích hứng nước tính tới Hiếu Liêm vào khoảng 7.650 km2, ứng với chiều dài của sông từ nguồn đến nơi nhập lưu với sông Đồng Nai là 344 km. Thượng lưu sông có tên là: ĐakGlun chảy từ phía Tây cao nguyên Mnông, ở đây có nhiều thác ghềnh, độ dốc lòng sông bình quân khoảng 2,1‰ , độ uốn khúc trung bình: 1,4 ; độ rộng bình quân lưu vực khoảng 50 km, nhập lưu với sông Đồng Nai ở phía dưới thác Trị An khoảng 6 km, hàng năm cung cấp cho sông Đồng Nai một lượng nước 6,81 x 109 m3 gần bằng 1/4 lượng nước trong toàn hệ thống.

* Sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ:

Sông Sài Gòn: được hợp thành từ hai nhánh Sài Gòn và Sanh Đôi, bắt nguồn từ vùng đồi núi Lộc Ninh, ven biên giới Việt - Campuchia, nơi có độ cao trung bình khoảng 200 m. Sông ít gấp khúc, độ dốc nhỏ (1,3‰) mang sắc thái của sông vùng ảnh hưởng triều. Thủy triều có thể ảnh hưởng tới Dầu Tiếng, cách cửa sông 148 km, cách biển 206 km. Diện tích lưu vực 4.500 km2, ứng với chiều dài 280 km.

Sông Vàm Cỏ: là tên gọi chung sau khi hợp lưu của hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây.

Sông Vàm Cỏ Đông có diện tích lưu vực 6.300 km2, chiều dài 283 km, sông Vàm Cỏ Tây có diện tích lưu vực: 6.000 km2, chiều dài 235 km. Sau khi hợp lưu đoạn chung có chiều dài 36 km và đổ vào dòng chính Đồng Nai ở gần cửa Xoài Rạp. Nguồn của sông Vàm Cỏ Đông nằm trọn trong phần đất của Đông Nam Bộ, nên được coi là thuộc hệ thống sông Đồng Nai. Trong khi đó sông Vàm Cỏ Tây có quan hệ chặt chẽ về mặt thủy văn, thủy lực với sông Tiền nên được xem là thuộc hệ thống sông Mêkông. Cả hai sông có độ dốc rất nhỏ, vì vậy thủy triều ảnh hưởng rất sâu: trên sông Vàm Cỏ Đông là 190 km, sông Vàm Cỏ Tây là 170 km.

Nhìn chung về mặt hình thái lưu vực, sông Đồng Nai là một sông lớn, lưu vực gần như nằm trọn trên lãnh thổ nước ta, sông có nguồn nước phong phú và nhiều tiềm năng về thủy điện. Đồng Nai là dạng sông già trẻ lại dưới tác dụng của tân kiến tạo. Đây là một vùng được nâng lên, độ cao bình quân toàn lưu vực khá lớn khoảng 750 m, đặc biệt sông được phát triển trên cao nguyên xếp tầng, sông nhiều nước, nhưng lũ ít đột ngột, vì lòng sông ít dốc, ở hạ lưu lòng sông mở rộng và sâu. Cửa sông có dạng vịnh, nên giao thông đường thủy rất thuận tiện.

II. Lưu vực sông La Ngà:

Sông La Ngà là một phụ lưu quan trọng của sông Đồng Nai, nó là con sông nhánh có một phần lưu vực nằm trên đất Đồng Nai đổ vào sông chính ở xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, cách cầu La Ngà 5 km về phía thượng lưu.

Sông La Ngà bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh, Bảo Lộc, nơi hợp lưu của ba con suối nhỏ có tên là: RơNha, ĐacToren và ĐacNo ở độ cao trung bình hơn 1.000 m, nơi cao nhất tới 1.460 m. Lưu vực của sông gồm phần lớn diện tích huyện Bảo Lộc (Lâm Đồng), Tánh Linh (Bình Thuận), Tân Phú, Định Quán (Đồng Nai).

Chiều dài của sông kể từ nguồn về đến nơi nhập lưu khoảng 210 km, tương ứng với diện tích lưu vực 4.100 km2. Phần chảy qua tỉnh Đồng Nai dài 70 km, ứng với diện tích khoảng 1.050 km2. Mật độ sông suối vào loại trung bình (D = 0,4 - 0,5), tức là trên 1 km2 có từ 0,4 - 0,5 km sông suối, độ dốc bình quân lưu vực khoảng 4,3‰, hệ số uốn khúc bình quân 1,5.

Do địa hình chi phối mãnh liệt, hướng chảy của sông La Ngà rất phức tạp, khoảng 100 km kể từ nguồn, lưu vực có dạng lá cây, dòng chính chảy theo hướng gần như từ Bắc xuống Nam đoạn kế tới Tà Pao dài 30 km chảy theo hướng Tây Nam, 25 km tiếp chảy theo hướng Tây Bắc, đoạn từ ranh giới giữa Đồng Nai và Bình Thuận về tới suối Gia Huynh dài khoảng 30 km sông lại chảy theo hướng từ Bắc xuống Nam, từ đây về tới chỗ nhập lưu với sông Đồng Nai còn khoảng 20 km hướng chảy là Tây - Tây Bắc có đoạn gần như từ Nam đến Bắc, đặc biệt đoạn từ ranh giới giữa hai tỉnh Đồng Nai và Bình Thuận về tới Đồng Hiệp, sông chảy uốn khúc quanh co.

Từ nguồn về tới Tà Pao, sông chảy trong lũng sông hẹp, hai bờ dốc cao, có rừng rậm; từ Tà Pao về tới Đồng Hiệp, lũng sông mở rộng thành đồng ruộng phì nhiêu rộng chừng 100.000 ha, đây là vựa lúa lớn của huyện Tánh Linh (Bình Thuận), trên địa phận tỉnh Đồng Nai có khoảng 4.000 ha, kéo dài từ Thọ Lâm (Tân Phú) về Đồng Hiệp (Định Quán). Nhìn chung khu vực này chưa được khai thác triệt để, do chưa có các công trình ngăn lũ, thường bị ngập lụt trong mùa mưa, phần lớn diện tích quanh năm ngập nước, trở thành đầm lầy v.v...

Từ Phú Hiệp về hạ lưu dòng sông bị chặn lại bởi các dãy đá ngầm, các thác nước tự nhiên như thác Trời cao 5 m, gây cản trở rất nhiều cho việc thoát lũ xuống hạ lưu, đi lại khó khăn, đồng thời làm tăng nguy cơ ngập úng cho khu vực đồng ruộng phía Bắc Thọ Lâm, Đồng Hiệp.

Sông La Ngà có nhiều chi lưu, tính riêng trên đất Đồng Nai đã có gần hai mươi suối lớn nhỏ, không kể một số suối cạn về mùa khô. Tính từ thượng lưu, phía bờ phải có 8 suối, trong đó suối ĐarKaYa dài nhất 16 km, còn lại nhỏ hơn 10 km. Phía bờ trái có 11 suối, các suối này đều có nguồn từ cao nguyên Bình Lộc, An Lộc nơi có độ cao trung bình 200 m, hướng chảy chủ yếu từ Nam lên Bắc, trong đó đáng kể nhất là suối Tam Bung có chiều dài 23 km, ứng với diện tích lưu vực khoảng 155 km2 , hàng năm cung cấp cho sông La Ngà một lượng nước khoảng: 0,173 x 109 m3. Các chi lưu của sông La Ngà đều ngắn, độ dốc lớn, thời gian tập trung nước vào mùa lũ nhanh, thường hay xảy ra lũ quét gây nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương.

Sông La Ngà là một trong những phụ lưu quan trọng của sông Đồng Nai. Đây là con sông dồi dào về nguồn nước, phong phú về cảnh đẹp, lưu vực của nó là vùng kinh tế nông lâm nghiệp phát triển, có nhiều loại cây công nghiệp ngắn ngày như: mía, thuốc lá, v.v... và các loại cây lương thực như bắp, đậu các loại v.v...

III. Lưu vực các sông suối nội tỉnh:

Trên địa bàn của tỉnh còn có nhiều sông suối vừa và nhỏ khác, phân bố tương đối đều ở các huyện, giữ vai trò quan trọng trong công tác thủy lợi, đảm bảo một lượng nước lớn cho các diện tích canh tác của các huyện: Tân Phú, Định Quán, Thống Nhất, Long Thành, v.v...Trong đó, đáng kể có sông Lá Buông thuộc huyện Long Thành, suối Tam Bung ở Định Quán, suối Cả ở Long Thành, Nhơn Trạch, sông Thao ở Thống Nhất v.v...

III.1. Sông Lá Buông:

Sông Lá Buông có nguồn từ suối Đá Bàn trên cao nguyên An Lộc (Long Khánh) ở độ cao hơn 200 m, và vùng rừng núi thuộc nông trường Ông Quế. Ở thượng nguồn hai suối Gia Dách và suối Cam hợp với nhau thành suối Nhạn, xuôi về trung lưu suối Nhạn được suối Sấu và suối Cải Hao nhập vào trở thành sông Nhạn tại khu vực xã An Viễn. Ở hạ lưu sau khi nhập với rạch Bến Gỗ ở Long Hưng chảy qua ấp Phước Chân nhập vào sông Đồng Nai ở ngã ba Láng Lùn, xã Tam Phước. Đoạn từ An Viễn về đến cửa sông có tên là Lá Buông hay thường gọi là sông Buông.

Dòng chính của sông có chiều dài từ nguồn đến cửa sông là 52 km, chảy theo hướng cơ bản từ Đông sang Tây, với diện tích lưu vực: khoảng 264 km2, trải dài trong miền đón gió mùa Tây Nam, lượng mưa phong phú, trung bình 1800 mm/năm, độ dốc bình quân 5,3‰, hàng năm cung cấp cho sông Đồng Nai một lượng nước: 0,23 x 109 m3. Mođun dòng chảy bình quân năm M = 28,3 l/s/km2

Lưu vực sông có dạng lá cây, lại nằm trong khu vực có lượng mưa khá, nên thường hay xảy ra lũ quét ở khu vực trung và thượng nguồn, còn khu vực ở hạ nguồn gần cửa sông lại hay bị ngập úng mỗi khi có mưa lớn, nhất là vào những kỳ có triều cường...

III.2. Suối Tam Bung:

Suối Tam Bung là chi lưu lớn của sông La Ngà, nằm ở bờ trái và đổ vào sông La Ngà tại xã Phú Túc (Định Quán). Suối Tam Bung có diện tích lưu vực 155 km2 ứng với chiều dài 23 km, bắt nguồn từ phía Bắc cao nguyên Xuân Lộc - Long Khánh nơi có độ cao trung bình trên 200 m, độ dốc bình quân lưu vực 1,67‰, suối có hướng chảy chủ yếu từ Nam lên Bắc. Khu vực thượng nguồn lòng suối nhỏ hẹp, độ dốc lớn, thường chảy xiết về mùa mưa, tốc độ tập trung nước cao. Về mùa khô nước suối cạn, nhiều đoạn gần đường phân thủy trở thành suối chết (không có nước). Hằng năm suối Tam Bung cung cấp cho sông La Ngà một lượng nước 0,18 x 109 m3, ứng với chiều sâu dòng chảy 1,145 mm, mođun dòng chảy bình quân năm: M = 36,3 l/s/ km2.

III.3 Suối Cả:

Suối Cả là suối dài nhất của hệ thống sông Thị Vãi, nằm về phía Tây Nam của tỉnh, thuộc địa phận huyện Nhơn Trạch, bắt nguồn từ cao nguyên An Lộc - Cẩm Tiêm, nơi có độ cao trung bình trên 200 m. Lưu vực có dạng lồng chim: dài và hẹp, diện tích hứng nước 135 km2 ứng với chiều dài 25 km (tính đến trạm thủy văn Suối Cả) nếu tính từ nguồn về đến chỗ nhập lưu với sông Thị Vãi chiều dài tổng cộng của nó là 38 km, độ dốc bình quân lưu vực 9,3‰, suối chảy theo hướng chính Đông Bắc - Tây Nam. Hạ lưu suối Cả là hệ thống sông Thị Vãi với các kênh rạch chằng chịt, nước sông bị thủy triều chi phối mạnh, đây là khu vực có rừng ngập mặn lớn nhất huyện Nhơn Trạch cũng như của tỉnh Đồng Nai.

Hàng năm suối Cả có lượng nước vào khoảng 0,098 x 109 m3, ứng với chiều sâu dòng chảy là 724 mm, đây là lượng nước ngọt đáng kể, phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân trong khu vực, đồng thời có tác dụng ngăn mặn, không cho mặn tiến sâu vào nội đồng.

III.4. Sông Thao:

Sông Thao là một sông nhỏ so với các sông suối kể trên. Lưu vực của nó nằm trọn trong hai huyện Vĩnh Cửu và Thống Nhất với diện tích khoảng 90 km2, lượng mưa trung bình hàng năm 1800 mm. Sông có hai nguồn phát nguyên, nguồn thứ nhất từ phía Nam Bàu Cá, nơi có độ cao bình quân 60 m, với suối đầu nguồn có tên gọi là sông Thao, nguồn thứ hai từ khu vực Suối Đỉa, độ cao bình quân khoảng 48 m, suối nhỏ có tên là Sân Mây.

Hai suối này nhập lưu với nhau ở nơi có độ cao 30 m thành sông Rạch Đông, đoạn hạ lưu đổ vào sông Đồng Nai ở xã Thiện Tân lại có tên gọi là suối Bà Lọng.

Chiều dài nhất của sông từ phía Suối Đỉa là 18 km, lưu vực của sông đã được khai phá khá triệt để, nhiều nơi biến thành đồi trọc, mặt đệm trống trải, dễ sinh ra lũ quét trong mùa mưa. Sông Thao hàng năm cung cấp cho sông Đồng Nai một lượng nước 0,085 x 109 m3 ứng với chiều sâu dòng chảy 946 mm. Mođun dòng chảy bình quân hàng năm: M = 30 l/s/ km2.

Ngoài các hệ thống sông suối nêu trên, trên địa bàn tỉnh còn một số sông suối khác: về phía Đông và Nam của tỉnh có suối Gia Uy, Đa Công Hoi, suối Gia, thuộc thượng nguồn sông Dinh (Bình Thuận), suối Gia Liêu, suối Lúc, suối Vọng thuộc thượng nguồn sông Ray (Bà Rịa - Vũng Tàu), phía Bắc tỉnh còn có suối Rết, suối Gia Huynh, đổ vào sông La Ngà mà phần lớn diện tích lưu vực của suối Gia Huynh nằm trên đất Bình Thuận. Phía Tây Nam thuộc huyện Nhơn Trạch và Long Thành còn có suối Le, suối Trầu, suối Quít v.v...

Nhìn chung các suối trên đều bắt nguồn từ cao nguyên An Lộc (Long Khánh) và núi Chứa Chan (Xuân Lộc) cao trên 800 m. Suối ngắn lòng nhỏ hẹp, độ dốc lớn, mức độ tập trung nước cao trong mùa mưa, một số ít suối đã và đang được khai thác bằng các công trình thủy lợi như hồ suối Le, Gia Ui 1, Gia Ui 2 v.v...

Comments