B. Chế độ thủy văn

CHẾ ĐỘ THỦY VĂN


I. Đặc điểm chung:

Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai nằm trong khu vực đón gió mùa Tây Nam nên lượng mưa ở đây khá phong phú, lượng mưa bình quân năm từ 2400 - 2800 mm, khác hẳn với vùng ven biển Bình Thuận nằm kề (có lượng mưa thấp nhất trong cả nước). Lượng mưa có xu thế giảm dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Trong địa bàn tỉnh Đồng Nai, nơi có lượng mưa khá là vùng rừng núi phía Bắc thuộc hai huyện Định Quán và Tân Phú, lượng mưa năm trung bình khoảng 2.500 mm, vùng giáp Bảo Lộc Lâm Đồng xấp xỉ tới 3.000 mm; Khu vực huyện Vĩnh Cửu, đại bộ phận huyện Thống Nhất, phía Tây huyện Long Khánh có lượng mưa từ 2.000 đến 2.500 mm/năm. Các khu vực còn lại từ 1.500 – 2.000 mm/năm. Chênh lệch giữa nơi có lượng mưa cao nhất và thấp nhất từ 500 - 1000 mm.

Tương ứng với hai mùa khí hậu (mùa khô, mùa mưa) thì mùa khô trùng với mùa cạn, mùa mưa trùng với mùa lũ, thời gian bắt đầu và kết thúc hai mùa phụ thuộc vào chế độ khí hậu trong khu vực, mỗi năm có sự xê dịch nhất định, tùy thuộc vào phân bố mưa mỗi năm.

Về cơ bản mùa mưa bắt đầu từ tháng V tới hết tháng X, có năm mưa sớm hơn vào nửa cuối tháng IV, cũng có năm kết thúc muộn hơn vào nửa đầu tháng XI... Mùa khô từ tháng XII năm trước cho đến tháng IV năm sau.

Do sự phân hóa giữa hai mùa khí hậu khá sâu sắc, mang nét đặc trưng của khí hậu cận xích đạo, nên hai mùa dòng chảy cũng có đặc thù riêng biệt: mùa khô nước sông cạn kiệt nhiều nơi thiếu nước nghiêm trọng, mùa mưa nước lũ tràn đầy, thừa thãi, thường gây ngập lụt ở các vùng trũng ven sông v.v...

II. Chế độ dòng chảy của sông Đồng Nai và La Ngà:

II.1. Chế độ mực nước:

Mùa mưa ở lưu vực sông Đồng Nai và La Ngà bắt đầu từ tháng V, song mùa lũ chính thức bắt đầu từ tháng VII, chậm hơn so với mùa mưa khoảng hai tháng. Nguyên nhân là do sau 6 - 7 tháng mùa khô, lớp vỏ phong hóa khô rỗng, độ ẩm của đất và không khí xuống tới mức thấp nhất trong năm, mưa đầu vụ chỉ đủ ngấm và bốc hơi, mưa thực sự có hiệu quả từ cuối tháng VI đầu tháng VII, lúc này dòng chảy vượt thấm chảy tràn trên sườn dốc, tham gia vào quá trình biến đổi mực nước trong sông. Cá biệt có năm mùa lũ đến sớm vào tháng VI nhưng mực nước cao nhất của tháng này chỉ cao hơn trung bình nhiều năm cùng thời kỳ không nhiều, như năm 1990, mực nước cao nhất tháng VI trên sông La Ngà ở Phú Hiệp chỉ cao hơn trung bình khoảng 0,76 m.

Từ tháng VII cho đến tháng XI mực nước sông luôn luôn duy trì ở mức cao, lũ chính vụ tập trung vào ba tháng VIII, IX, X. Mực nước cao nhất (đỉnh lũ) thường xuất hiện vào tháng VIII hoặc tháng IX.

- Trên sông La Ngà ở Phú Hiệp số lần đỉnh lũ xuất hiện vào tháng VIII chiếm khoảng 20%, vào tháng IX khoảng 70%.

- Trên sông Đồng Nai ở trạm Tà Lài số lần đỉnh lũ xuất hiện vào tháng VIII chiếm khoảng 42% , tháng IX khoảng 32%.

Chênh lệch trung bình giữa mực nước cao nhất và thấp nhất trong năm ở Phú Hiệp và Tà Lài vào khoảng 3,60 - 3,65 m

Số liệu thực đo trong những năm gần đây cho thấy:

- Ở Tà Lài:          Mực nước cao nhất: 114,31m ngày 22 - VIII - 1987

                 Mực nước thấp nhất: 109,47 m ngày 1 - IV - 1979

                 Chênh nhau: 4,84 m

- Ở Phú Hiệp:

                 Mực nước cao nhất: 107,01 m ngày: 6 - IX - 1990

                 Mực nước thấp nhất: 102,41 m ngày: 31 - III - 1996

                 Chênh nhau: 4,60 m

Một đặc điểm cơ bản đặc trưng của các sông suối ở Nam Bộ nói chung, ở Đồng Nai nói riêng là: lũ lên xuống chậm, ít thấy lũ kép và không có đột biến lớn như các sông ở phía Bắc, cường suất lũ yếu, Ah lũ lên cao nhất cũng chỉ đạt từ 0,10 - 0,15 m/h (các sông ở phía Bắc Ah cao nhất có khi đạt tới 2 - 3 m/h) lũ xuống chậm, thời gian lũ rút kéo dài... Nhìn chung chế độ mực nước ở đây không phức tạp lắm, đường quá trình mực nước trong năm tương đối ổn định so với đường chuẩn, diễn biến lũ thuộc loại đơn giản, một đỉnh trong năm, ít thấy có lũ sớm, mùa lũ thuộc kiểu thời đoạn 5 tháng (từ tháng VII - đến tháng XI), dạng lũ có đỉnh xuất hiện vào tháng VIII (hoặc IX). Mùa lũ lệch pha so với mùa mưa 2 tháng.

Bảng: Các đặc trưng mực nước sông Đồng Nai và La Ngà

 

TRẠM

 

SÔNG

TRUNG BÌNH NĂM (M)

CAO NHẤT (M)

THẤP NHẤT (M)

BIÊN ĐỘ

THỜI GIAN

Hbq

Hmax

Hmin

Độ cao

Ngày

Độ cao

Ngày

QUAN TRẮC

QUAN TRẮC

Tà Lài

Đ.Nai

110,78

113,17

109,57

114,31

22-8-87

109,47

1-4-79

4,84

78 - 96

Phú Hiệp

L.Ngà

103,53

106,14

102,49

107,01

6-9-90

102,41

31-3-96

4,60

87 - 96

Cầu L.Ngà

L.Ngà

47,75

51,81

45,77

53,00

21-8-84

45,70

7-4-84

7,30

84 - 86

Biên Hòa

Đ.Nai

0,33

1,53

-1,84

1,92

3-9-78

-2,06

25-3-83

3,98

77 - 96

Mùa khô, bắt đầu từ cuối tháng XI, đầu tháng XII, mực nước có xu thế xuống thấp dần và tiếp tục xuống chậm cho đến cuối tháng III, đầu tháng IV năm sau. Tháng III là tháng có mực nước kiệt nhất trong năm, tỉ lệ xuất hiện vào tháng này chiếm từ 56% ở Tài Lài (sông Đồng Nai) đến 80% ở Phú Hiệp (sông La Ngà), một số năm có xuất hiện vào tháng IV, nhưng chủ yếu vào những ngày đầu tháng. Nhìn chung thời gian xuất hiện mực nước kiệt nhất là ổn định. Ba tháng có mực nước thấp nhất là tháng II, III, IV, hầu như không thay đổi qua các năm.

II.2. Chế độ dòng chảy:

Chế độ dòng chảy có quan hệ chặt chẽ với chế độ mực nước, các nhân tố ảnh hưởng đến chế độ mực nước cũng là các nhân tố ảnh hưởng tới chế độ dòng chảy. Ở đây mưa và chế độ phân phối mưa trong năm vẫn là nhân tố chủ đạo, có tính chất quyết định chế độ dòng chảy trong sông.

Do nằm trong lưu vực trực tiếp đón gió mùa Tây Nam, nên lượng mưa khá phong phú, lượng mưa dồi dào hệ số dòng chảy (µ) bình quân từ 0,4 - 0,5 vào loại khá so với khu vực phía Nam và trong cả nước.

II.2.1. Dòng chảy năm:

Hay còn gọi là lưu lượng dòng chảy bình quân nhiều năm (Q0) một đặc trưng cơ bản của dòng chảy nước, đối với sông Đồng Nai:ở Tà Lài là 315 m3/s, ở Trị An (lúc chưa có hồ) là: 542 m3/s, đối với sông La Ngà ở Tà Pao (Bình Thuận) là 79,5 m3/s ở Phú Hiệp là 123 m3/s, ở cầu La Ngà là 168 m3/s. Đặc trưng này hàng năm cũng có sự biến động nhất định nhưng độ lệch so với chuẩn không nhiều, hệ số phân tán (Cv) thấp.

Mặt khác để đánh giá khả năng tiềm tàng của tài nguyên nước trên lưu vực người ta thường dùng đặc trưng mođun dòng chảy bình quân năm (M) đơn vị của nó là l/s/km2, trị số này trên toàn hệ thống sông Đồng Nai biến đổi từ 30 - 40 l/s/km2, trong địa bàn của tỉnh từ 25 - 40 l/s/km2 và có xu hướng tăng dần từ Tây Nam lên Đông Bắc.

Số liệu thực đo trong những năm gần đây cho thấy mođun dòng chảy năm của sông Đồng Nai ở Tà Lài là 31 l/s/ km2, ở Trị An là: 36,4 l/s/km2, của sông La Ngà ở Tà Pao là: 37,7 l/s/ km2, ở Phú Hiệp là: 39,6 l/s/km2...

Sơ bộ đánh giá cho thấy bình quân mỗi năm sông La Ngà cung cấp cho dòng chính Đồng Nai một lượng nước lớn hơn 5,30 x 109 m3 và dòng chính Đồng Nai chuyển về xuôi qua mặt cắt Trị An một lượng nước khoảng: 17,1 x 109 m3. Sông Bé nhập vào sông Đồng Nai mỗi năm một lượng nước trên 6,81 x 109 m3. Như vậy lượng dòng chảy hàng năm của hệ thống sông Đồng Nai rất dồi dào, được xếp vào hạng thứ ba trong toàn quốc.

II.2.2. Dòng chảy mùa lũ:

Hơn 80% lượng dòng chảy cả năm thuộc vào mùa lũ. Mođun dòng chảy bình quân các tháng mùa lũ từ 72 - 80 l/s/km2 đối với sông La Ngà và từ 60 - 70 l/s/km2 đối với dòng chính Đồng Nai. Ba tháng có dòng chảy lớn nhất là tháng VIII, IX, X chiếm từ 59 - 63% lượng dòng chảy cả năm. Tháng có dòng chảy lớn nhất là tháng IX, bình quân lưu lượng tháng này của sông La Ngà tại Phú Hiệp là: 365 m3/s, của sông Đồng Nai ở Tà Lài là: 846 m3/s, ứng với mođun dòng chảy bình quân tháng lớn nhất: 120 l/s/km2 ở Phú Hiệp và 83 l/s/km2 ở Tà Lài.

Số liệu quan trắc trong những năm gần đây đã ghi nhận được lưu lượng lũ lớn nhất ở Tà Lài ngày 22 - VIII - 1987 là: 3260 m3/s lớn gấp 10,3 lần lưu lượng bình quân năm (Q0) ở Phú Hiệp ngày 6 - IX - 1990 là: 788 m3/s lớn gấp 6,4 lần Q0, ở Tà Pao thượng nguồn sông La Ngà cũng đo được lưu lượng lũ lớn nhất 979 m3/s ngày 7 - IX - 1982 lớn hơn Q0 tới 12,3 lần.

Lượng nước tập trung tuy cao trong mùa lũ, song không dồn dập, như các sông suối ở phía Bắc, ngược lại ở đây lũ lên xuống chậm, cường suất mực nước cao nhất cũng chỉ đạt tới 10 - 15 cm/h, do vậy tốc độ dòng nước nhỏ, cao nhất ở Tà Lài và Phú Hiệp cũng chỉ tới 2,54 m/s tức vào khoảng 9,14 km/h

Kết quả điều tra nghiên cứu về lũ lịch sử tháng X năm 1952 (năm Nhâm Thìn) cho thấy lưu lượng nước lũ tại Trị An đạt tới 11.000 m3/s ứng với tần suất lũ 2%, chứng tỏ dòng chảy về mùa lũ ở Nam Bộ cũng có những đột biến khác thường, gây nhiều khó khăn và thiệt hại cho sản xuất và đời sống.

II.2.3. Dòng chảy mùa cạn:

Mùa cạn từ tháng XII năm trước cho đến tháng VI năm sau, trùng với mùa khô, nguồn nước mưa hầu như không có, nước ngầm là nguồn cung cấp chính trong mùa cạn. Sông La Ngà có hồ biển Lạc rộng 3,5 km2, và vùng đầm lầy ngập nước rộng hàng ngàn ha thuộc đất Tánh Linh (Bình Thuận) là nguồn cung cấp nước đáng kể cho sông La Ngà một phụ lưu chính của sông Đồng Nai.

So với lượng dòng chảy cả năm, lượng dòng chảy mùa cạn chiếm khoảng từ 17 - 19%, ba tháng dòng chảy nhỏ nhất là tháng II, III, IV, cũng chỉ chiếm từ 2,6 - 3,6% lượng dòng chảy cả năm. Tháng có dòng chảy nhỏ nhất là tháng III, chiếm tỉ lệ từ 0,7 - 1,05% lượng dòng chảy năm. Nhìn chung lượng dòng chảy mùa cạn ổn định, cả về lượng dòng chảy cũng như thời gian xuất hiện.

Kết quả đo đạc gần đây cho thấy, lưu lượng dòng chảy thấp nhất trong năm, trên sông Đồng Nai ở Tà Lài là 21,2 m3/s (ngày 18 - III -1992) chỉ bằng 6,7% lượng dòng chảy năm (Q0). Ứng với mođun nhỏ nhất Mmin = 2,1 l/s/km2 trên sông La Ngà tại Phú Hiệp 6,87 m3/s ngày 3 - V - 1987, bằng 5,5% lưu lượng Q0, ứng với mođun nhỏ nhất 2,2 l/s/km2.

Tóm lại: lượng dòng chảy trong hệ thống sông Đồng Nai và La Ngà dồi dào, vào loại khá trong khu vực và cả nước, nhưng phân bố của chúng theo thời gian rất không đồng đều do sự phân hóa sâu sắc giữa hai mùa khí hậu, kéo theo sự tương phản đậm nét giữa hai mùa nước trong năm. Sự mất cân đối này cần được điều hòa bằng các biện pháp công trình nhằm giảm thiệt hại do nước lũ trong mùa mưa và tăng cường lượng nước trong mùa khô cạn. Hồ thủy điện Trị An trên sông Đồng Nai là một ví dụ; ở hạ lưu sông Đồng Nai tại khu vực Hiếu Liêm hàng năm nhận được một lượng nước không dưới 24 x 109 m3 đây là nguồn nước lớn, một tài nguyên quí giá mà thiên nhiên đã ưu đãi cho nhân dân khu vực Đông Nam Bộ, chúng ta cần có biện pháp bảo vệ tốt và khai thác triệt để.

II.3. Chế độ phù sa - bùn cát:

Phù sa lơ lửng và bùn cát trong sông là một trong những thành phần quan trọng của dòng chảy. Cường độ mưa rào, động năng của dòng nước, cấu tạo địa chất, thổ nhưỡng, lớp phủ thực vật, và hoạt động của con người trên bề mặt lưu vực là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chế độ phù sa bùn cát trong sông.

Lưu vực sông Đồng Nai - La Ngà có lượng mưa hàng năm phong phú, mùa mưa kéo dài từ tháng V cho tới tháng X, với nhiều ngày có lượng mưa lớn từ 50 mm đến trên 100 mm, mực nước trong sông cao và được duy trì nhiều ngày trong mùa lũ là những yếu tố thuận lợi cho đất đá bở rời, rửa trôi hòa vào dòng nước làm tăng hàm lượng phù sa lơ lửng và bùn cát.

Để đánh giá hàm lượng phù sa trong nước sông người ta thường dùng độ đục đơn vị hay độ ngậm cát (ký hiệu là r, đơn vị g/m3, hay kg/m3), đặc trưng này biến đổi rất mạnh theo thời gian. Về mùa lũ, nhất là các tháng đầu mùa mưa, nước sông rất đục, độ đục đơn vị và hàm lượng phù sa rất lớn. Ngược lại về mùa cạn, nước sông xuống thấp, vận tốc dòng nước nhỏ, nước trong có nơi nhìn thấy tận đáy, độ đục rất nhỏ có khi bằng không (= 0). Chênh lệch giữa độ đục lớn nhất và thấp nhất lên tới hàng ngàn lần.

Độ đục của sông Đồng Nai và La Ngà thuộc vào loại nhỏ, bình quân năm biến đổi từ 30,8 - 40 g/m3, mùa lũ từ 47,3 - 55,8 g/m3, về mùa cạn từ 12,7 - 17,5 g / m3. Chênh lệch giữa độ đục lớn nhất (rmax) và độ đục thấp nhất (rmin) bình quân trên sông La Ngà ở Phú Hiệp là 131 lần, trên sông Đồng Nai từ 306 lần ở Trị An đến 659 lần ở Tà Lài.

Số liệu quan trắc được trong những năm gần đây cho thấy:

- Độ đục cao nhất của sông La Ngà tại Phú Hiệp ngày 19 - VII - 1987 là 188g / m3, trong khi đó độ đục thấp nhất ngày 27 - II - 1988 chỉ có 0,3 g/m3, chênh lệch nhau 627 lần.

- Độ đục cao nhất của sông Đồng Nai ở Tà Lài ngày 21 - VIII - 1987 là 1230 g / m3, độ đục thấp nhất ngày 13 - I - 1988 là 0,12 g/m3 chênh nhau tới 10.250 lần

Đặc trưng thứ hai được dùng trong nghiên cứu điều tra và tính toán là lưu lượng phù sa lơ lửng (ký hiệu là R, đơn vị kg/s) đặc trưng này biểu thị cho sự chuyển tải phù sa, bùn cát qua một mặt cắt nhất định, nó phụ thuộc nhiều vào tốc độ của dòng nước, độ đục của nước v.v...

Theo tính toán lưu lượng phù sa lơ lửng bình quân

- Của sông La Ngà tại Phú Hiệp là 4,43 kg/s, tại cầu La Ngà là 6,91kg/s.

- Của sông Đồng Nai tại Tà Lài là 15,8kg/s, tại Trị An là 24,1kg/s. Hàng năm sông La Ngà chuyển tải vào sông Đồng Nai một lượng phù sa không dưới 0,218 x 106 tấn, đồng thời sông Đồng Nai chuyển tải về phía hạ lưu qua Trị An một lượng phù sa vào khoảng 0,760 x 106 tấn. Lưu lượng phù sa trong năm tập trung vào mùa lũ rất cao, chiếm từ 83 - 92% lưu lượng phù sa cả năm, trong khi lưu lượng nước mùa lũ chiếm từ 81 - 84% lượng nước toàn năm:

Ba tháng có lượng phù sa lớn nhất là tháng VIII, IX, X, so với cả năm chúng chiếm từ 71 - 75% đối với sông Đồng Nai và từ 56 - 60% đối với sông La Ngà.

Tháng có lượng phù sa cao nhất là tháng IX, lượng phù sa tháng này chiếm trên 20% lượng phù sa cả năm, sông La Ngà từ 21 - 23%, sông Đồng Nai từ 27 - 28%.

Ba tháng có lượng phù sa nhỏ nhất là tháng II, III, IV, tổng lượng của 3 tháng này đạt không tới 1%, tháng nhỏ nhất là tháng III, lượng phù sa rất nhỏ chỉ có từ 0,1 - 0,2%.

Tuy nhiên phải nói rằng lượng phù sa trong tháng VI cũng đã khá lớn. Mặc dù ở vào đầu mùa mưa nhưng lượng phù sa của nó cũng có giá trị đáng kể, so với cả năm chúng chiếm từ 8,4 - 10,7% (đối với sông La Ngà) và từ 5,2 - 12,2% (đối với sông Đồng Nai).

Bảng: Lưu lượng phù sa, lớn nhất và nhỏ nhất

SÔNG

TRẠM

LƯU LƯỢNG PHÙ SA (kg/m3)

SỐ LẦN

CHÊNH LỆCH

Lớn nhất

Ngày

Nhỏ nhất

Ngày

Đồng Nai

 

La Ngà

Tà Lài

Trị An

Phú Hiệp

Cầu La Ngà

1.240

543

55,8

61,8

21-VII-87

18-X-83

6-X-90

15-VIII-85

0,009

0,018

0,003

0,008

30-I-88

3-III-84

28-II-89

27-III-85

137.777

30.167

18.600

725

Nhìn chung quá trình biến đổi lượng phù sa trong năm phù hợp với quy luật biến đổi của chế độ dòng chảy, lưu lượng nước tăng, lưu lượng phù sa lớn, lưu lượng nước giảm, lưu lượng phù sa bé, ngoài ra vào những thời điểm nhất định lưu lượng phù sa cũng có những biến đổi khá phù hợp.

Tóm lại phù sa lơ lửng trong sông Đồng Nai và La Ngà thuộc vào loại nhỏ, so với các sông suối khác ở trong hệ thống thì ở mức trung bình nhưng so với các sông ở miền Bắc và miền Trung thì nhỏ hơn rất nhiều. Ví dụ độ đục bình quân của sông Đà ở Lai Châu là: 1,55 kg/m3, ở Hòa Bình là: 1,43 kg/m3, của sông Hồng ở Lao Cai là 20,1kg/m3... của các sông ở Tây Nguyên cũng từ 50,9 - 212 g/m3... Lưu lượng phù sa của sông Hồng tại Sơn Tây là: 3.790 kg/s, sông Đà ở Hòa Bình là: 2070 kg/s, ở Tây Nguyên sông Sê Rê Pốc tại Bản Đôn (Đắc Lắc) cũng đạt tới 11,6 kg/s.

Tổng lượng phù sa hàng năm của sông La Ngà và Đồng Nai cho thấy độ xâm thực trên bề mặt lưu vực, hay mođun dòng chảy cát bùn không cao, chúng biến đổi từ 45 - 53 tấn/km2/năm, tức là mỗi năm trên 1 km2 bề mặt lưu vực bị bào mòn, rửa trôi đi một lớp đất đá từ 45 - 53 tấn (thực tế còn cao hơn do chưa tính toán tới lượng phù sa di đẩy v.v...) so với sông Đà: độ xâm thực là: 1220 tấn/năm/km2, thì con số kể trên của sông Đồng Nai và La Ngà quả là bé nhỏ. Nguyên nhân chính là do lưu vực sông Đồng Nai được cấu tạo trên nền phù sa cổ, địa hình khá bằng phẳng, mưa kéo dài đã làm rửa trôi phần lớn bề mặt của lưu vực. Thực tế những năm gần đây cho thấy mức độ xâm thực bề mặt lưu vực có khả năng gia tăng đáng kể bởi nạn chặt phá rừng bừa bãi, diện tích rừng phòng hộ ngày càng bị thu hẹp, tác động của con người ngày càng có ảnh hưởng xấu đến điều kiện tự nhiên sinh thái, môi trường v.v...

II.4. Chế độ triều - mặn:

Thủy triều là yếu tố quan trọng về mặt thủy động lực biển, đồng thời cũng là yếu tố có ảnh hưởng đến các điều kiện tự nhiên của các dải đất ven biển và cửa sông. Mực nước triều thường khá cao, đôi khi cao hơn cả các đồng bằng ven biển và dọc theo sông, vì thế dễ bị nhiễm mặn đất và nước sông, chế độ thủy văn vùng sông ảnh hưởng triều rất phức tạp, bởi mỗi giọt nước ở đây luôn chịu sự chi phối ở các mức độ khác nhau bởi: Chế độ dòng chảy tự nhiên ở thượng lưu, chế độ thủy triều biển Đông, và cách khai thác của con người có liên quan đến nguồn nước ở thượng và hạ lưu. Việc nghiên cứu chế độ triều mặn ở vùng sông ảnh hưởng triều có một ý nghĩa quan trọng

a) Chế độ nước triều:

Thủy triều truyền vào sông theo hai dạng: dạng dòng và dạng sóng

- Dòng triều truyền vào sông bằng dòng chảy ngược với vận tốc khá cao có khi tới 1,5 m/s. Từ cửa sông đến điểm xa nhất mà dòng triều còn duy trì được gọi là lăng trụ triều.

- Sóng triều truyền vào sông theo cơ chế lan truyền sóng. So với dòng triều sóng triều ảnh hưởng trên sông cao hơn nhiều. Thông thường khi nói đến ảnh hưởng thủy triều là người ta chỉ xét đến ảnh hưởng của sóng triều, vùng ảnh hưởng triều là vùng ảnh hưởng sóng triều.

Từ cửa sông Đồng Nai ngược tới chân thác Trị An dài khoảng 149 km, nước sông hoàn toàn bị chế độ bán nhật triều không đều biển Đông chi phối, số ngày bán nhật triều chiếm ưu thế, ngày có hai lần nước lên và hai lần nước xuống tương ứng với hai đỉnh triều cao và hai chân triều thấp, số ngày nhật triều hiếm, thường thấy trong thời kỳ nước cường.

Thời kỳ nước cường là thời kỳ sau ngày trăng tròn, hoặc không trăng 2 - 3 ngày, thời kỳ nước kém xảy ra vào sau kỳ trăng thượng huyền và hạ huyền 1 - 2 ngày.

Thủy triều truyền vào trong sông bị biến dạng cả về biên độ và chu kỳ bước sóng, làm ảnh hưởng tới các đặc trưng mực nước triều như: Hmax, Hmin và Hbq. Càng vào sâu biến đổi càng giảm nhanh, từ 3 - 3,5 m ở Vũng Tàu đến 2,30 - 2,80 m ở Biên Hòa và đến Hiếu Liêm cách cửa biển 144 km biên độ triều vẫn còn từ 0,9 - 1,2 m, độ dốc lòng sông nhỏ, các điều kiện về lòng dẫn thích hợp là những yếu tố thuận lợi cho triều tiến sâu vào nội địa.

Bảng: Biên độ triều tại các trạm đo trên sông Đồng Nai

ĐỊA ĐIỂM

CỬA BIỂN

BIÊN HÒA

TÂN ĐỊNH

HIẾU LIÊM

Khoảng cách (km)

Biên độ triều (m)

00

3,0 - 3,50

95

2,30 - 2,80

130

2,0 - 2,50

144

0,9 – 1,2

Quá trình biến đổi mực nước ở hạ lưu sông Đồng Nai là sự tác động qua lại giữa chế độ nước ở thượng lưu đưa về và chế độ nước triều từ biển tiến vào, ngoài ra còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như địa hình, hệ thống kênh rạch, áp suất của gió và khí quyển v. v...Về mùa lũ nước sông được bổ sung bởi một nguồn nước lớn từ thượng lưu sông Đồng Nai và sông Bé đưa về, nhưng quá trình mực nước triều trong sông vẫn thể hiện rõ chế độ bán nhật triều, hàng ngày vẫn có hai lần nước lên và hai lần nước xuống nhưng biên độ triều đã giảm đi đáng kể, quá trình này có xu thế mờ nhạt khi có lũ lớn ở thượng lưu đưa về, dạng triều chỉ còn một đỉnh một chân hoặc hai chân một đỉnh và ngược lại, chênh lệch giữa đỉnh triều cao nhất và chân triều thấp nhất trong ngày chỉ còn 0,30 - 0,40 m ở Biên Hòa, từ 0,20 - 0,30 m ở Tân Định (Vĩnh Cửu). Đường quá trình mực nước triều tháng VIII và IX - 1978 (năm có lũ lớn) thể hiện rất rõ qui luật nói trên (xem biểu đồ)

Chế độ nước sông hàng năm cũng phân ra thành hai mùa rõ rệt, mùa cạn từ tháng XII năm trước cho đến tháng VI năm sau, mùa lũ từ tháng VII cho đến tháng XI. Mực nước thấp nhất hay chân triều nhỏ nhất xuất hiện tập trung vào 2 tháng V và VI, một số ít năm xuất hiện vào tháng III hoặc tháng IV. Mực nước cao nhất hay đỉnh triều lớn nhất xuất hiện tập trung vào 3 tháng VIII, IX, X. Tại Biên Hòa chênh lệch giữa mực nước cao nhất và thấp nhất hàng năm trung bình vào khoảng 3,30 - 3,50 m. Mực nước cao nhất và thấp nhất đo được trong thời gian gần đây (xem biểu đồ dưới)

b) Tình hình xâm nhập mặn:

Mặn xâm nhập vào nội địa chủ yếu là do động lực của dòng triều kết hợp với lượng nước ngọt từ thượng nguồn đưa về. Mặn lan truyền theo khuếch tán, có sự không đồng nhất độ mặn trên cùng mặt cắt. Nhìn chung mặn ở giữa dòng cao hơn ở hai bờ, ở đáy cao hơn mặt, không có tỷ lệ nào cho sự khác biệt trên, song số liệu đo mặn chi tiết cho thấy chúng thường không quá 10%

Quá trình truyền triều từ cửa sông vào nội địa có quan hệ chặt chẽ với quá trình xâm nhập mặn, thường đỉnh mặn (độ mặn cao nhất) xuất hiện sau đỉnh triều từ 2 - 3h.

Đoạn sông Đồng Nai từ Hiếu Liêm về cửa biển, ngoài lượng nước của sông Bé, lượng nước sông Đồng Nai chiếm từ 60 - 75% qua sự điều tiết của hồ chứa Trị An, giữ một vai trò quan trọng đối với quá trình xâm nhập mặn ở hạ lưu.

Mặn xâm nhập ở hạ lưu sông Đồng Nai chủ yếu vào mùa cạn, thời kỳ nước sông cạn kiệt nhất cũng là thời kỳ mặn tiến vào nội địa sâu nhất. Sau khi có nhà máy thủy điện Trị An, về mùa cạn tại thời điểm thấp nhất trong năm, lượng nước tối thiểu qua nhà máy cũng không dưới 100 m3/s , cao hơn so với cùng thời kỳ chưa có hồ (khoảng 40 m3/s - tại Trị An). Do vậy mặn bị đẩy lùi về phía hạ lưu, không vào sâu như trước khi có sự điều tiết của hồ chứa Trị An.

Độ mặn trong năm tăng dần từ đầu mùa khô năm trước đến đầu mùa mưa năm sau và giảm dần trong những tháng mùa lũ, thời kỳ mặn bị đẩy lùi xa nhất là vào thời kỳ có lũ cao nhất trong năm.

Càng vào sâu trong nội địa, độ mặn càng giảm dần và biến đổi theo mùa rất rõ rệt, tùy thuộc nhiều vào lượng mưa và quá trình mưa trong năm.

Trong điều kiện tự nhiên (trước khi có hồ Trị An) trong mùa cạn độ mặn 4‰ (độ mặn giới hạn có ảnh hưởng đến sản xuất và cây trồng) thường ảnh hưởng tới cầu xa lộ (cầu Đồng Nai) có năm đột xuất tới gần khu vực Biên Hòa, riêng đoạn từ cầu Hóa An - trở về Hiếu Liêm dài gần 50 km, độ mặn hầu như không có, hoặc có rất nhỏ (dưới 1‰), mặc dù biên độ triều trong khu vực này còn khá lớn. Thời gian duy trì độ mặn 4‰ , ở Cát Lái khoảng 5 tháng từ đầu tháng I đến cuối tháng V, ở Nhà Bè 6 tháng từ giữa tháng XII cho đến giữa tháng VI.

Sau khi sau có hồ Trị An, độ mặn 4‰ chỉ lên đến dưới Long Đại khoảng 10 km. Như vậy khoảng từ giữa Long Đại và Cát Lái trở lên không còn bị nhiễm mặn, với độ mặn £ 4‰, khả năng tận dụng nguồn nước ngọt trong năm để tăng vụ là hoàn toàn có cơ sở ([1][1]). Khu vực phía Tây Nam của tỉnh thuộc hạ lưu sông Thị Vãi huyện Nhơn Trạch, với hệ thống kênh rạch chằng chịt, độ mặn khá cao từ 10 - 15%, nếu hệ thống đập Ông Kèo dài trên 10 km được hoàn chỉnh việc ngọt hóa trở nên hiện thực, thì khả năng tăng vụ trong khu vực này sẽ đem lại những nguồn lợi đáng kể.

II.5. Chất lượng nước:

Để đánh giá chất lượng nước của sông ngòi, người ta thường căn cứ vào các chất hòa tan trong nước để xác định tính chất lý, hóa của chúng như: màu sắc, mùi vị, độ trong suốt, độ dẫn điện, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ, cùng tình trạng vệ sinh, mức độ nhiễm khuẩn v.v...

Tùy theo mục đích sử dụng khác nhau mà người ta đặt ra các yêu cầu khác nhau đối với chất lượng nước, yêu cầu đối với nước uống, nước sinh hoạt, chế biến thực phẩm là cao nhất, kế đó là cho thủy sản, thủy lợi, du lịch v.v...

Sông Đồng Nai, sông La Ngà có lượng nước phong phú, là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Biên Hòa và hàng chục khu công nghiệp. Vì vậy việc xem xét, đánh giá, quản lý chất lượng nước sông trong thời kỳ phát triển hiện nay là việc làm rất cần thiết.

Diễn biến chất lượng nước sông Đồng Nai và La Ngà có thể chia ra làm hai thời kỳ.

- Thời kỳ trước khi có hồ chứa Trị An.

- Thời kỳ sau khi có hồ chứa Trị An.

II.5.1. Diễn biến chất lượng nước trước khi có hồ Trị An:

Trước khi có hồ Trị An, nước sông Đồng Nai chảy trong trạng thái tự nhiên trải dài hàng trăm km, qua nhiều khu vực khác nhau trong tỉnh, mang nhiều chất hòa tan theo dòng nước, sự biến đổi của chúng phụ thuộc nhiều vào lượng mưa và lượng dòng chảy trong lưu vực.

Sông Đồng Nai, sông La Ngà: nhìn chung có hàm lượng các chất hòa tan nhỏ, độ khoáng hóa thấp hơn nhiều so với sông Mê Kông và các sông ở phía Bắc. Trước khi có hồ, nước sông có độ pH vào loại trung tính, bình quân ở Tà Lài, Trị An trong khoảng 6,4 - 6,8, riêng khu vực Biên Hòa cao hơn chút ít, có năm pH đo được bằng 7,1 (1983).

Nước sông có độ khoáng hóa thấp, khu vực thượng nguồn sông Đồng Nai và La Ngà độ khoáng hóa thường nhỏ hơn 100 mg/l, có xu thế cao hơn trong mùa cạn, nhất là vào các tháng III, IV và giảm dần trong các tháng mùa lũ. Đoạn từ Biên Hòa về Trị An độ khoáng hóa trung bình từ 69,3 - 75,0 mg/l. Cao nhất ở Trị An 128,2 mg/l (IV - 1987), ở Biên Hòa là 165 mg/l (IV - 1987).

Các ion trong thành phần tự nhiên của nước sông Đồng Nai và La Ngà nói chung nhỏ và cũng có sự khác biệt giữa hai mùa dòng chảy.

Các cation như Mg2+, Ca2+, K+, Na+ v.v... về mùa lũ có xu thế cao hơn mùa cạn, hàm lượng Ca2+, Mg2+ trung bình ở:

- Tà Lài, Phú Hiệp từ 2,0 đến 2,3mg/l

- Trị An, Biên Hòa từ 2,6 đến 3,58 mg/l

Tương tự đối với K+, Na+

- Thấp nhất từ 4,2 đến 6,6 mg/l

- Cao nhất từ 16,0 đến 22,4 mg/l

Khu vực từ Trị An đến Biên Hòa dao động trung bình trong khoảng từ : 12,3 đến 16,5 mg/l.

Các ion Fe2+, Fe3+ nhỏ hơn từ 0,02 - 0,04 mg/l cho cả sông Đồng Nai và La Ngà.

Các anion có mặt trong nước như Cl - , SO4- , HCO3- cũng không hơn gì các cation đều có hàm lượng nhỏ. Hàm lượng SO42- trên sông Đồng Nai có xu thế giảm dần từ thượng lưu về hạ lưu từ 13,6 mg/l ở Tà Lài đến 3,4 mg/l ở Biên Hòa và thường ổn định hơn trong mùa khô, trái lại HCO3- lại có xu thế ổn định hơn trong mùa mưa, trên sông Đồng Nai, sự biến đổi của HCO3- không nhiều từ 30,1 mg/l đến 37,7 mg/l, tại Trị An cao hơn chút ít, bình quân khoảng 40,1 mg/l (1983 - 1987)

Ngoài ra hàm lượng các chất hữu cơ và dinh dưỡng trong nước sông không cao. Hàm lượng NH4+ dọc theo sông Đồng Nai từ Tà Lài về đến Trị An biến đổi trong khoảng từ 0,02 - 0,25 mg/l, ở Biên Hòa thấp hơn trung bình chỉ có 0,068 mg/l, trên sông La Ngà ở Phú Hiệp từ 0,06 - 0,09 mg/l.

Hàm lượng Oxy hòa tan (DO) quan trắc được trong thời gian từ tháng VI - XI - 1985 ở khu vực Trị An - Hóa An cho thấy chúng biến đổi từ 7,0 - 7,8 mg/l vào loại khá cao. Hàm lượng NO3 từ 0,30 - 0,90 mg/l, hàm lượng NO2 cũng từ 0,15 - 0,18 mg/l. ([2][2])

Với các chỉ tiêu phân tích thủy hóa ở trên, căn cứ vào thành phần và hàm lượng các ion có trong nước cùng với các kết quả phân tích vi sinh cho thấy:

Nước sông Đồng Nai và La Ngà trước khi có hồ Trị An ít bị ô nhiễm, độ khoáng hóa nhỏ, độ cứng của nước thấp (từ 3,7 - 8,7 mg/l) nước vào loại mềm, chỉ số DO nằm trong giới hạn cho phép. Riêng chỉ số Coliform ở một số nơi cao hơn giới hạn cho phép (5000 VK/100 ml).

Nước sông được đánh giá vào loại sạch, đảm bảo tốt cho các yêu cầu dùng nước và các ngành kinh tế khác.

c) Diễn biến chất lượng nước sau khi có hồ Trị An:

Sau khi hồ Trị An được tích nước vào cuối năm 1987, chất lượng nước của sông Đồng Nai, sông La Ngà ở phía thượng lưu của hồ (khu vực trạm Tà Lài - sông Đồng Nai, trạm Phú Hiệp - sông La Ngà) ít biến đổi, nước sông chủ yếu vẫn chảy tự nhiên, hàm lượng các chất hòa tan có giảm đi chút ít (trừ độ pH tăng từ 6,8 - 6,9 trong năm 1987 đến 7,4 - 7,6 trong năm 1996) dẫn đến độ khoáng hóa cũng giảm. Nói chung chất lượng nước sông vẫn được bảo đảm và được đánh giá là khá sạch, trừ khu vực cầu La Ngà mức độ ô nhiễm vi sinh tăng, chỉ số oxy hòa tan (DO) giảm, tình trạng vệ sinh của nước xấu.v.v...

Đối với khu vực hồ chứa Trị An trong những năm đầu tích nước (1987 - 1988), sự phân rã của thảm thực vật chìm sâu trong nước làm cho hàm lượng các chất hữu cơ và dinh dưỡng tăng (chỉ số DO từ 7,0 - 8,0 mg/l tháng 6 - 1985, giảm xuống còn từ 2,2 - 5,6 mg/l vào thời điểm VI – XI  1988) (1), nhưng không gây trở ngại lớn cho việc cấp nước. Đến nay hàm lượng này đã tăng trở lại đi vào ổn định. Các kết quả nghiên cứu trước và trong những năm gần đây cho thấy:

Nước hồ Trị An được coi là khá sạch, độ pH từ: 6,8 - 7,3 thuộc loại trung tính, hàm lượng các ion Fe2+, Fe3+ nhỏ (từ 0,1 - 0,3 mg/l), hàm lượng SO42-, Cl - ở mức thấp, độ cứng toàn phần của nước nhỏ, hàm lượng oxy hòa tan (DO) từ 6,5 - 7,0 mg/l, mức độ ô nhiễm hữu cơ qua chỉ số Oxy hóa học (COD, KMnO4 ) nhỏ hơn 3 mg/l. Nồng độ các chất dinh dưỡng chưa cao, NH4 - N từ 0,02 - 0,06 mg/l, NO3 - N từ 0,001 - 0,04 mg/l, hàm lượng PO4 - P từ 0,02 - 0,4 mg/l, hàm lượng SiO2 từ 8 - 11 mg/l.

Các kết quả đo đạc thực nghiệm tại trạm môi trường hồ chứa Trị An trong năm 1996, cho thấy hàm lượng các chất hòa tan có mặt trong nước hồ đều giảm, riêng độ pH tăng, dao động từ 6,8 - 7,8 trung tính hơi kiềm, nồng độ NH4+ ổn định trong khoảng từ 0,12 - 0,14 mg/l, các cation Fe2+, Fe3+, Ca+, Mg+ và các anion SO42- , Cl - , HCO3- đều có hàm lượng nhỏ.

Độ cứng toàn phần của nước khoảng 4 mg/l, nước vào loại mềm độ khoáng hóa thấp, trung bình 47,2 mg/l, độ kiềm toàn phần thông qua chỉ tiêu HCO3- vào khoảng 26,4 mg/l.

Tuy nhiên qua phân tích kết quả của các mẫu lấy ở một số nơi khác nhau trên hồ cho thấy: chất lượng nước hồ về mặt vệ sinh không đồng nhất. Hoạt động của con người đã có nhiều tác động xấu đến môi trường nước, chỉ số Coliform cùng với nồng độ các chất hữu cơ, dinh dưỡng gia tăng đáng kể. Đoạn sông ở gần khu vực cầu La Ngà nước sông đang bị ô nhiễm nặng bởi hàng trăm bè cá nổi trên sông, các chất thải do người, do thức ăn của cá, của nhà máy đường La Ngà làm cho mức độ ô nhiễm nguồn nước tới mức báo động. Chỉ số Coliform ở đây rất cao vào khoảng 24.000 VK/100 ml, có thời điểm vào mùa cạn còn cao hơn trong khi đó giới hạn vi khuẩn cho phép là 5000 VK/10 ml. Không riêng gì khu vực cầu La Ngà mà ở một số nơi khác ven hồ cũng có hàng trăm bè nuôi cá nổi, các nơi tập trung đông người như bến tàu, phà, khu vực xung quanh cầu Hóa An v.v... cũng là những nơi nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng.

Tóm lại: cho tới nay hồ chứa Trị An đã hình thành một môi trường nước tương đối ổn định, tạo nên mối quan hệ hữu cơ từ thủy sinh vật đến các thành phần thủy hóa. Chất lượng nước hồ sau những biến động tự nhiên của sự phân rã thảm thực vật đã ổn định, đủ tiêu chuẩn cho việc cấp nước sinh hoạt và các ngành kinh tế khác như thủy lợi, thủy sản v.v... Một điều đáng lưu ý là: chất lượng nước trên mặt hồ ở một số nơi đang bị đe dọa bởi các hoạt động không có ý thức của một số ít người. Trải dài xuôi theo dòng nước từ hồ tới Hóa An, Biên Hòa và phía dưới cầu Đồng Nai chất lượng nước vẫn được bảo đảm nhưng xu thế bị ô nhiễm bởi các nguồn nước thải từ các khu dân cư, công nghiệp, nông nghiệp hai bên bờ đã tăng rõ rệt.

Sông Đồng Nai và hồ Trị An là nguồn cấp nước chính cho thành phố Hồ Chí Minh và Biên Hòa do vậy cần được giám sát thường xuyên về chất lượng nước và mức độ ô nhiễm để có biện pháp quản lý và xử lý kịp thời.

II.6. Nước ngầm:

Nước ngầm hay nước dưới đất (NDĐ) là nguồn nước quan trọng bổ sung cho dòng chảy sông ngòi về mùa cạn, đồng thời là nguồn tài nguyên quý cho các ngành dùng nước.

Đánh giá trữ lượng NDĐ người ta thường căn cứ vào thực trạng và khả năng khai thác chúng thông qua hệ số mođun dòng chảy NDĐ (l/s/km2).

Tiềm năng nước dưới đất ở Đồng Nai đã được nhiều cơ quan đơn vị chuyên ngành điều tra nghiên cứu đem lại nhiều kết quả khả quan. Theo Trần Lã, Nguyễn Hoàng Hùng (1) thì nước dưới đất ở Đồng Nai có thể phân chia ra làm 6 cấp mođun khác nhau để so sánh và đánh giá.

* Cấp mođun: Mbq ³ 10 l/s/km2: Phân bố ở khu vực suối Quản Thủ, Nước Trong (Long Thành), suối Nho (Thống Nhất) có diện tích phân bố hẹp gồm đá chứa nước bazan Xuân Lộc và cát sạn xen các thấu kính sét, sét pha của tầng N2 - Q1 có liên quan tới vùng thoát nước mạnh của tầng bazan Xuân Lộc. (Tầng N2 - Q1 là hệ phức chứa nước trong vỏ phong hóa của bazan Xuân Lộc)

* Cấp mođun: Mbq = 5 - 10 l/s/km2 phân bố rộng rãi nửa phần phía Tây và Tây Nam của tỉnh thuộc lưu vực sông Lá Buông, Tây Xuân Lộc và Đông Bắc Long Thành, suối Cầu Mới, sông Thái Thiện..., tương tự có thể xếp vào cấp mođun lưu vực suối Đồng Hựu, Long Thiện (Đông và Đông Nam Long Thành), suối Tre (Tây Bắc Long Khánh).

Đá chứa nước gồm bazan Xuân Lộc, cát sạn xen kẽ các thấu kính sét, sét pha tầng N2 - Q1 (...).

* Cấp có mođun: Mbq = 1 - 5 l/s/km2 phân bố rải rác trong tỉnh bao gồm lưu vực suối Tam Bung (Bắc Long Khánh), suối Tầm Bó Gia Hoét (Nam Xuân Lộc). Đá chứa nước chủ yếu là bazan phản ánh độ giàu nước không đồng đều của tầng bazan Xuân Lộc.

* Cấp mođun: Mbq = 0,5 - 1,0 l/s/km2 phân bố rất rộng bao gồm phần cực Đông Vĩnh An, Tây Bắc Thống Nhất, Đông Nam và Tây Nam Long Khánh, Tây Nam Xuân Lộc và một phần gần cực Đông Định Quán, lưu vực suối Đarcha (Định Quán) có liên đới đến sườn trầm tích Jura.

* Cấp mođun: Mbq = 0,2 - 0,5 l/s/km2 phân bố rộng rãi ở phần cận phía Nam Đông Nam, Đông Đông Bắc và Bắc Tây Bắc của tỉnh bao gồm gần một nửa diện tích Vĩnh An, Tây Bắc Thống Nhất, đại bộ phận hai huyện Định Quán và Tân Phú, Đông Long Khánh, Nam Xuân Lộc. Đá chứa là sét bột, sét kết xen kẽ nhau của tầng Jura, đá bazan Xuân Lộc ở phía Nam.

* Cấp mođun: Mbq < 0,2 l/s/km2 phân bố thành nhiều khối có diện tích lớn nhỏ rất khác nhau, đáng kể là các khối granít điorít ở núi Chứa Chan, núi Le (Xuân Lộc), dải granít cực Tây Long Khánh, phía Đông dãy núi Đốc, Tầu Côn (Định Quán), Tây Bắc Phương Lâm, khu vực suối Sà Mách, ĐaRao, suối Linh (Tân Phú). Đây là vùng nghèo nước dưới đất nhất trong tỉnh.

Trữ lượng NDĐ ở Đồng Nai nói chung là khả quan có triển vọng khai thác, song cần quy hoạch và khai thác một cách hợp lý, đồng thời có những biện pháp bảo vệ nguồn nước một cách triệt để như bảo vệ rừng đầu nguồn, đẩy mạnh việc phủ xanh đồi trọc, giảm tỉ lệ đất hoang hóa, tránh khai thác bừa bãi v.v... (Mođun bình quân = Mbq)

III. Chế độ mực nước và dòng chảy các sông suối nội tỉnh:

Ngoài hệ thống sông Đồng Nai, sông La Ngà, trong tỉnh Đồng Nai còn có một hệ thống sông suối khác, mà diện tích lưu vực của nó nằm trọn trong địa bàn của tỉnh. Các sông suối này đều thuộc loại nhỏ cả về diện tích hứng nước cũng như lượng nước sản sinh ra trong lưu vực.

Nhìn chung chế độ dòng chảy và qui luật biến đổi của chúng khá phù hợp với qui luật chung trong khu vực. Một năm vẫn có hai mùa dòng chảy rõ rệt nhưng về thời đoạn có sự xê dịch chút ít.

- Mùa cạn từ tháng XII năm trước cho đến tháng V năm sau.

- Mùa lũ từ tháng VI cho đến tháng XI.

Như vậy mùa lũ sớm hơn lưu vực sông Đồng Nai và La Ngà một tháng.

Ba tháng có mực nước và lưu lượng lớn nhất là tháng VIII, IX, X, tháng lớn nhất thường là tháng VIII (hoặc IX).

Ba tháng có mực nước và lưu lượng nhỏ nhất là tháng II, III, IV, nhỏ nhất vẫn là tháng III.

Lưu lượng phù sa và bùn cát trong sông tập trung chủ yếu vào các tháng mùa lũ, và tháng đầu mùa mưa - tháng V, các tháng mùa cạn lượng phù sa rất nhỏ, nhiều tháng bằng không (= 0) như tháng II, III, IV, nước sông rất trong, độ đục hầu như không có.

III.1. Sông Lá Buông:

Sông Lá Buông là sông nội tỉnh lớn nhất của Đồng Nai, diện tích hứng nước 264 km2 gồm phần lớn diện tích huyện Long Thành và một phần Thống Nhất, Long Khánh.

- Lưu lượng bình quân năm (Q0) của sông Lá Buông là 7,44 m3/s, hàng năm cung cấp cho sông Đồng Nai một lượng nước: 0,23 x 109 m3 ứng với chiều sâu dòng chảy 871 mm, mođun dòng chảy năm (M) bằng 28,3 l/s/km2, thuộc vào loại khá trong khu vực.

- Lượng dòng chảy mùa lũ (từ tháng VI - XI) bằng 82% lượng dòng chảy cả năm, ba tháng lớn nhất là tháng VIII, IX, và X bằng: 52% , tháng lớn nhất là tháng IX bằng 18% lượng dòng chảy cả năm, tương ứng với mođun dòng chảy: 1064 l/s/km2.

- Lượng dòng chảy mùa cạn (từ tháng XII - V) bằng 18% lượng dòng chảy năm, ba tháng có lượng dòng chảy nhỏ nhất là tháng II, III, IV bằng 6,3%, tháng nhỏ nhất - tháng III bằng 1,93% lượng dòng chảy cả năm

Mức độ tập trung nước vào mùa lũ khá cao thể hiện ở thời gian lũ lên, xuống nhanh, cường suất lũ lên cao nhất (Ahmax/h) ở sông Lá Buông đạt 1,06 m/h vào tháng X / 1990 lớn hơn sông Đồng Nai và La Ngà từ 6 đến 7 lần, cường suất trung bình: 0,66 m/h. Vận tốc dòng nước cũng khá mạnh, cao nhất ( Vmax) đạt 2,23 m/s vào tháng IX / 1995, trung bình cũng tới 1,76 m/s. Chênh lệch giữa mực nước cao nhất và thấp nhất hàng năm trung bình vào khoảng 6,1 m. Số liệu thực đo trong những năm gần đây cho thấy: mực nước cao nhất là: 10,39 m (tháng X - 1990) trong khi đó mực nước thấp nhất là: 3,93 m (tháng III - 1993) chênh nhau tới 6,46 m.

Lượng phù sa trong năm chủ yếu tập trung vào các tháng mùa lũ, bình quân năm của sông Lá Buông đạt 2,19 kg/s, tổng lượng bùn cát 0,069 x 106 tấn, mođun cát bùn hay độ xâm thực trên bề mặt lưu vực khoảng 261 tấn/km2/năm, lớn hơn sông Đồng Nai và La Ngà tới 5 lần.

Thực tế số liệu quan trắc cho thấy, lượng phù sa lơ lửng của sông Lá Buông có năm rất lớn, lượng cao nhất đo được ngày 28 - IX - 1996 là 205 kg/s, trong khi về mùa cạn lại rất nhỏ, độ đục hầu như không có, lưu lượng phù sa nhỏ nhất (Rmin) bằng 0.

III.2. Suối Tam Bung:

Suối Tam Bung là một phụ lưu nằm ở bờ trái sông La Ngà, có diện tích hứng nước 155 km2, lượng nước hàng năm khá phong phú.

Lưu lượng bình quân năm: 5,63 m3/s, tổng lượng nước khoảng: 0,18 x 109 m3, ứng với chiều sâu dòng chảy: 1145 mm. Mođun dòng chảy năm Mbq = 36,3 l/s/km2, thuộc vào loại khá nhất trong khu vực.

Mức độ tập trung nước trong mùa lũ rất cao, lưu lượng các tháng mùa lũ (VI - XI) chiếm tới 88% lượng nước cả năm. Ba tháng lớn nhất bằng 56%, tháng lớn nhất - tháng IX bằng 21% lượng nước cả năm, mođun dòng chảy tháng lớn nhất lên tới 1800 l/s/km2.

Mùa cạn lượng nước chỉ bằng 12% lượng nước cả năm, ba tháng nhỏ nhất bằng 2,6%, tháng nhỏ nhất - tháng III chỉ có 0,6% lượng nước cả năm. Có năm lưu lượng nhỏ nhất (Qmin) bằng 0 như 1996. Mức độ tập trung nước trong mùa lũ cao, tạo ra sự chênh lệch lớn giữa mực nước và lưu lượng hai mùa trong năm, cường suất lũ lên mạnh, cao nhất: 1,30 m/h (X - 1993) trung bình: 0,93m/h cùng với cường suất lũ lên nhanh, vận tốc dòng chảy cũng vào loại khá: bình quân đạt 2,0 m/s, cao nhất 2,10 m/s (X - 1990). Đó cũng là một trong những lý do giải thích tại sao mức độ tập trung nước cao về mùa lũ của suối Tam Bung. Về mùa cạn, nguồn nước cung cấp chủ yếu là nước ngầm, nhưng vào thời điểm kiệt nhất (tháng III, hoặc đầu tháng IV) một số suối ở thượng nguồn cũng khô cạn và trở thành suối chết dẫn đến có năm lưu lượng kiệt nhất xấp xỉ bằng 0 hoặc bằng 0.

Cũng như các sông suối nội tỉnh khác, lượng phù sa chủ yếu tập trung vào mùa lũ, lưu lượng phù sa lơ lửng bình quân năm của suối Tam Bung là: 0,773 kg/s, với tổng lượng cát bùn hàng năm chuyển vào sông La Ngà là: 0,024 x 106 tấn, độ xâm thực trên bề mặt lưu vực vào khoảng: 155 tấn/km2/năm.

Kết quả thực đo trong những năm gần đây cho thấy:

+ Mực nước cao nhất là: 49,14 m (tháng X - 1990).

+ Mực nước thấp nhất là: 43,22 m (tháng V - 1995) chênh nhau tới 5,92 m.

+ Lưu lượng nước cao nhất là: 279 m3/s (tháng X - 1990).

+ Lưu lượng nước thấp nhất = 0 (tháng III -1996) chênh nhau rất nhiều lần.

+ Lượng phù sa lớn nhất là: 89,4 kg/s ngày 2 - IX - 1993.

+ Lượng phù sa nhỏ nhất nhiều năm bằng 0.

III.3. Suối Cả:

Suối Cả là suối lớn nhất và dài nhất trong hệ thống sông Thị Vãi thuộc huyện Nhơn Trạch, diện tích hứng nước của nó khoảng 135 km2. Lưu lượng nước bình quân (Q0) bằng: 3,10 m3/s, hàng năm sản sinh một lượng nước: 0,098 x 109 m3 ứng với chiều sâu dòng chảy: 724 mm, mođun dòng chảy năm bình quân Mbq bằng 23 l/s/km2.

Lưu lượng nước về mùa lũ (VI - XI) chiếm khoảng 83% lượng dòng chảy cả năm, ba tháng lớn nhất (VIII - X) bằng 54% tháng lớn nhất - tháng VIII bằng 21% lượng dòng chảy cả năm, Mođun dòng chảy tháng lớn nhất đạt 1237 l/s/km2.

Lưu lượng nước về mùa cạn (XII - V) chỉ chiếm có 17% lượng nước cả năm. Ba tháng nhỏ nhất (II - IV) bằng 2,47%, tháng nhỏ nhất bằng 0,2% lượng dòng chảy cả năm.

Về mùa lũ cường suất lũ lên cao nhất trung bình đạt 0,90 m/h cao nhất tới 1,12 m/h (VIII - 1994), vận tốc dòng nước cao nhất (Vmax) đạt 1,45 m/s, trung bình (Vmax) : 1,33 m/s

Lượng phù sa bình quân năm của suối Cả là 0,603 kg/s, hàng năm tải vào sông Thị Vãi một lượng phù sa bằng: 0,019 x 106 tấn, ứng với độ xâm thực bề mặt lưu vực hay mođun bùn cát bằng: 141tấn/km2/năm.

Số liệu thực đo của suối Cả trong mấy năm gần đây cho thấy:

+ Mực nước cao nhất : 4,88 m (VII - 1990)

+ Mực nước thấp nhất: - 0,06 (II - 1993)

+ Lưu lượng cao nhất: 167 m3/s (IX - 1990)

+ Lưu lượng nước thấp nhất : 0,290 m3/s (III - 1990)

+ Lưu lượng phù sa lơ lửng cao nhất: 120 kg/s (8 - X - 1991)

+ Lưu lượng phù sa lơ lửng thấp nhất bằng 0 vào các năm 1991, 1992, 1993...

III.4. Sông Thao:

Sông Thao là một suối nhỏ, diện tích hứng nước khoảng 92 km2, nằm trọn trong địa phận hai huyện Thống Nhất và Vĩnh Cửu, lưu lượng nước bình quân năm 2,70 m3/s, tổng lượng dòng chảy: 0,085 x 109 m3 chiều sâu dòng chảy 946 mm, mođun dòng chảy năm Mbq = 30 l/s/km2

Nhìn chung chế độ dòng chảy của sông Thao về mùa lũ và mùa cạn cũng tương tự như những sông suối khác, mùa lũ từ tháng VI đến tháng XI, mùa cạn từ tháng XII năm trước cho đến tháng V năm sau, lượng dòng chảy tập trung chủ yếu vào các tháng VIII, IX, X và đã được điều tiết một phần bởi hồ chứa nước Sông Mây, nhằm chủ động ngăn lũ và tưới cho gần 1.000 ha lúa của hai huyện Thống Nhất và Vĩnh Cửu trong mùa khô.

III.5. Nhận xét:

Các sông suối nội tỉnh về cơ bản có chế độ mực nước và dòng chảy khá phù hợp với sông chính - sông Đồng Nai và sông La Ngà, tuy nhiên do điều kiện tự nhiên (như lưu vực nhỏ, độ dốc lòng sông lớn, mặt đệm khá trống trải v.v...) và sự phân bố mưa khác biệt trên mỗi lưu vực đã tạo nên những đặc điểm riêng biệt:

+ Mùa lũ bắt đầu từ tháng VI và kết thúc vào tháng XI, sớm hơn sông Đồng Nai và La Ngà một tháng.

+ Lũ lên, xuống nhanh, thời gian tập trung nước ngắn, cường suất lũ lên cao (cao hơn sông Đồng Nai và La Ngà từ 8 - 10 lần).

+ Mức độ tập trung nước trong mùa lũ lớn, từ 82 - 88% lượng nước cả năm.

+ Chênh lệch giữa mực nước, lưu lượng cao nhất và thấp nhất trong năm lớn.

Thực tế có năm lưu lượng lớn nhất (Qmax) lớn hơn lưu lượng nhỏ nhất (Qmin) trong năm rất nhiều do Qmin xấp xỉ bằng "0" hoặc bằng "0".

+ Mođun dòng chảy tháng lớn nhất (tháng VIII hoặc tháng IX) của các sông, suối kể trên vào loại lớn đều từ 1000 l/s/km2 trở lên, riêng suối Tam Bung tới 1800 l/s/km2.

+ Lượng phù sa lơ lửng tập trung chủ yếu vào các tháng mùa lũ và tháng đầu mùa mưa - tháng V. Độ đục bình quân và lượng phù sa thực tế đo được khá lớn, thường trên 100 kg/s như suối Cả, sông Lá Buông, trong khi đó về mùa cạn lưu lượng phù sa không đáng kể, nhiều tháng và nhiều nơi trị số này bằng "0".

+ Mức độ xâm thực trên bề mặt lưu vực khá lớn, lớn hơn so với lưu vực sông Đồng Nai và La Ngà từ 3 - 5 lần, bình quân mỗi năm có tới 140 - 160 tấn đất cát bị xói mòn, rửa trôi trên 1 km2 bề mặt lưu vực. Thực trạng này có thể còn gia tăng nếu như chúng ta chưa có những biện pháp tốt nhất để ngăn chặn nạn phá rừng, làm rẫy và phủ xanh đồi trọc v.v...

Bảng: Mực nước một số sông suối nội tỉnh

 

 

Sông

 

 

Trạm

M Ự C  N Ư Ớ C (m)

Số năm quan trắc

TRUNG BÌNH

CAO NHẤT

THẤP NHẤT

Biên độ (m)

Bình

quân

Cao nhất

Thấp nhất

Độ cao

Tháng năm

Độ cao

Tháng năm

Lá Buông

Lá Buông

4,48

8,28

3,98

10,39

X -90

3,93

III-93

6,46

90-96

Tam Bung

Tam Bung

44,36

47,67

43,34

49,14

X-90

43,22

V-95

5,92

90-96

Suối Cả

Suối Cả

0,51

4,08

0,01

4,88

VII-90

0,06

II-93

4,94

90-94



([1][1]) Nguyễn Văn Giáo - Tài nguyên nước Đồng Nai, 1991.

([2][2]) Nguồn: Số liệu đo đạc, khảo sát: Công ty Khảo sát thiết kế điện II .

(1) Nguồn: Số liệu đo đạc, khảo sát: Công ty Khảo sát thiết kế điện II.

 

(1) Trần Lã: Liên đoàn Địa chất Thủy văn.

   Nguyễn Hoàng Hùng: Sở Khoa học - Công nghệ - Môi trường Đồng Nai.

 

Comments