C. Hồ Trị An

HỒ TRỊ AN

Ở Đồng Nai hầu như không có ao hồ tự nhiên, mà chỉ có khoảng hơn 3000 ha đầm lầy, tập trung ở phía Bắc huyện Tân Phú và Đông Bắc huyện Định Quán, quanh năm ngập nước và chưa được khai phá triệt để.

Từ sau ngày giải phóng miền Nam, công tác thủy lợi được chú trọng nên một số hồ, đập đã được xây dựng trên các sông, suối để chủ động tưới tiêu, nuôi trồng thủy sản, phát điện v.v... Tính đến năm 1995, tỉnh Đồng Nai đã có 37.001 ha đất thủy lợi và mặt nước chuyên dùng chiếm 6,3% diện tích toàn tỉnh, trong đó 23 hồ, đập đã được xây dựng, một số đã và đang phát huy có hiệu quả như hồ Sông Mây, Đa Tôn, Suối Vọng v.v...Đặc biệt hồ thủy điện Trị An, hồ nhân tạo lớn nhất tỉnh với diện tích mặt thoáng khoảng 323 km2.

Bảng: Đặc trưng một số hồ chứa đã được xây dựng ở Đồng Nai

Tên hồ

Huyện

Diện tích lưu vực (km2)

Diện tích mặt hồ (ha)

Dung tích hồ (106m3)

Dung tích chết (106m3)

Năm xây dựng

TRỊ

AN

 

SÔNG MÂY

 

ĐA

TÔN

 

SUỐI VỌNG

 

BÀ LỌNG

 

Thống Nhất

 

 

Tân Phú

 

 

Xuân Lộc

 

Thống Nhất

 

14.900

 

 

41

 

 

21

 

 

16

 

 

4,2

 

32.300

 

 

310

 

 

330

 

 

180

 

 

14

 

2.765

 

 

15,2

 

 

19,4

 

 

4,0

 

 

1,2

 

218

 

 

0,19

 

 

0,40

 

 

0,30

 

 

0,0

84 - 91

 

 

78 - 82

 

 

87 - 89

 

 

85 - 87

 

 

82 - 83

 

I. Những đặc điểm chính của hồ Trị An:

Hồ Trị An được hình thành do việc đắp đập ngăn sông Đồng Nai, một trong những hạng mục chính của công trình thủy điện Trị An, nằm trên địa phận xã Cây Gáo, huyện Vĩnh Cửu, cách thành phố Biên Hòa 35 km về phía Đông Bắc. Đập được xây dựng bằng đất đá hỗn hợp, có chiều dài 420 m, chiều cao: 37 m, đỉnh đập rộng 10 m, đập tràn bằng beton trọng lực dài 150 m có 8 khoang, mỗi khoang rộng 15 m với 8 cửa van được đóng mở bằng cần cẩu chân đế tải trọng 2 x 125 tấn. Ngoài ra còn có đập phụ suối Rộp, chiều cao lớn nhất 45 m, cao trình đỉnh đập 65 m.

- Mực nước dâng bình thường 62,0 m ứng với dung tích toàn bộ là: 2.765 x 106 m3.

- Mực nước chết 50,0 m ứng với dung tích chết: 218 x 106 m3.

- Mực nước gia cường 64,0 m ứng với dung tích gia cường: 3.400 x 106 m3.

- Dung tích hữu ích 2547 x 106 m3.

Công trình thủy điện Trị An được xây dựng trong 7 năm và hoàn thành vào năm 1991. Công trình có ý nghĩa tổng hợp: bảo đảm cung cấp điện cho các tỉnh, thành phía Nam, cung cấp nước canh tác cho Đồng Nai, Bình Dương và một phần của thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra hồ còn có tác dụng điều tiết lũ, nuôi trồng thủy sản, du lịch v.v...

II. Chế độ công tác của hồ:

Điều quan trọng bậc nhất trong chế độ công tác của hồ Trị An là: bảo đảm an toàn quá trình vận hành hồ chứa trong mùa lũ, chống được đỉnh lũ thực tế bất kỳ nhỏ hơn hoặc bằng ngọn lũ thiết kế (ứng với tần suất r = 1%).Vừa đảm bảo an toàn tuyệt đối, vừa đạt hiệu quả năng lượng cao nhất, đồng thời tích nước vào cuối mùa lũ ở cao trình 62,0 m.

Để đảm bảo yêu cầu trên, công tác vận hành phải dựa trên các nguyên tắc sau:

1. Trong thời gian từ cuối tháng VII (hoặc đầu tháng VIII) nếu lũ xuất hiện sau khi tận dụng lưu lượng tối đa qua nhà máy, với lưu lượng 630 m3/s cho ba tổ máy và 840 m3/s cho bốn tổ máy, mà mực nước hồ đã đến cao trình 52,0 m thì cho xả lũ qua đập tràn, duy trì mực nước hồ ở cao trình: 52,0 m.

2. Trong thời gian từ cuối tháng VIII (hoặc đầu tháng IX) khi mực nước hồ đã lên tới cao trình 54,0 m, tận dụng xả qua nhà máy với Q = 660 m3/s cho ba tổ máy và 880 m3/s cho bốn tổ máy mà lũ về còn cao thì cho mở cửa đập tràn, duy trì mực nước hồ ở cao trình 54,0 m.

3. Trường hợp lũ xảy ra vào cuối tháng IX (hoặc đầu tháng X) khi mực nước hồ ở cao trình 57,00 m, tận dụng xả qua nhà máy với Q = 600 - 630 m3/s cho ba tổ máy và Q = 800 - 840 m3/s cho bốn tổ máy, mà lũ về còn lớn thì cho mở cửa đập tràn, duy trì mực nước hồ ở cao trình 57,0 m.

4. Trường hợp lũ xảy ra vào cuối tháng X (hoặc đầu tháng XI) Khi mực nước hồ ở cao trình 61,0 m, tận dụng xả qua nhà máy với Q = 585 - 600 m3/s cho ba tổ máy và Q = 780 - 800 m3/s cho bốn tổ máy mà lũ còn cao thì cho xả tràn duy trì mực nước hồ ở cao trình 61,0 m.

5. Trường hợp lũ xảy ra vào cuối tháng XI, khi mực nước hồ đã ở mức 62,0 m (MNBT) xả qua nhà máy với Q = 800 m3/s cho bốn tổ máy mà lũ còn lớn thì cho xả tràn, bảo đảm mực nước hồ ở cao trình 62,0 m.

Trong tất cả các trường hợp trên, sau khi mở hết khả năng của cửa tràn mà không duy trì được mực nước yêu cầu (như cao độ 52,0 m ở tháng VII...) thì cho phép mực nước hồ dâng cao khi ngọn lũ tăng. Nhưng khi lũ giảm thì cũng giảm mực nước hồ đến cao độ qui định nhằm đón những con lũ tiếp theo.

Cùng với nguyên tắc điều tiết lũ, còn có qui tắc về xả tràn mà nội dung chủ yếu của nó là các công đoạn đóng mở các van ở cửa tràn, qui tắc đó là:

+ Khi xả Q xả CĐi + Q xả n/ m < Q lũ thì mở cửa tràn theo công đoạn i (CĐi) ghi cao trình lúc mở (trong Q xả CĐi là lưu lượng xả ở công đoạn thứ i, Q xả n/m là lưu lượng xả qua tuabin nhà máy).

+ Khi lũ rút, xả nước từ hồ chứa ra đến trạm cao trình lúc mở công đoạn nào thì đóng công đoạn đó cho tới hết.

III. Một số lợi ích của hồ:

Hồ Trị An được xây dựng với nhiều ý nghĩa quan trọng. Ngoài những lợi ích đã được đề cập tới trong nhiệm vụ của các công trình đầu mối: (cung cấp điện năng, cung cấp nước tưới cho các diện tích canh tác ở hạ du, cấp nước cho công nghiệp và sinh hoạt v.v...) hồ còn có nhiều tác dụng khác như cải thiện điều kiện môi trường, giảm độ mặn ở hạ lưu sông Đồng Nai, phát triển nghề cá, du lịch v.v...

* Cung cấp điện năng:

Công suất tổng cộng của bốn tổ máy 400 MW, trung bình hàng năm nhà máy thủy điện Trị An cung cấp cho các tỉnh thành phía Nam một sản lượng 1.760 x 106 kW/h, đứng thứ hai trong cả nước, sau nhà máy thủy điện Hòa Bình (công suất: 1920 MW, sản lượng điện hàng năm 8.448 x 106 kW/h) và lớn hơn nhà máy thủy điện Thác Mơ (công suất 150 MW sản lượng điện 660 x 106 kW/h). Công suất của nhà máy Trị An còn được phát huy cao hơn vào những năm nước lớn, sản lượng điện có thể lên tới: 2.290x 106 kW/h/năm.

* Phát triển nghề cá:

Hồ Trị An có mặt nước rộng trên 323 km2, hồ không sâu, đáy hồ tương đối bằng phẳng, chất lượng nước bảo đảm, hội đủ điều kiện cho nghề nuôi cá nước ngọt phát triển. Cùng với việc thả hàng triệu cá giống các loại, hàng năm ngành thủy sản Đồng Nai khai thác được một khối lượng cá bình quân trên 1.000 tấn, có năm tới 1.500 – 1.700 tấn như các năm 1991, 1992. Đây là một nguồn lợi lớn, nếu được đầu tư đúng mức, quản lý và khai thác tốt, hiệu quả sẽ được nhân lên gấp bội.

* Cải thiện môi trường:

Sự xuất hiện hồ nước thay thế cho một vùng đất, rừng rộng lớn trước đây đã tạo nên một cảnh quan mới, kéo theo sự biến đổi các yếu tố tiểu khí hậu, mặc dù sự biến đổi này chưa nhiều.

Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, quanh khu vực lòng hồ số lần có mưa nhỏ tăng, đồng thời với sự gia tăng của các hiện tượng có liên quan như: sương, sương mù, mây thấp v. v...

Độ ẩm tương đối của không khí trong mùa khô cao hơn trước từ 3 - 4%, nhiệt độ tối thấp cũng cao hơn thời kỳ chưa có hồ từ 0,3 - 1,50C v.v...

Ngoài những lợi ích cơ bản nêu trên, hồ chứa Trị An điều tiết nước trong mùa khô, sẽ đẩy lùi mặn về phía hạ lưu xa hơn, tạo cơ hội tốt cho việc tăng vụ ở các xã ven sông thuộc huyện Long Thành. Do hồ nằm ở nơi có độ cao 40 - 50 m so với mặt biển lại ở vào vị trí khá thuận lợi, cách thành phố Hồ Chí Minh 65 km, trong hồ có nhiều đảo nhỏ, mặt nước rộng v.v... là điều kiện tốt cho ngành du lịch phát triển.

Comments