D. Nhận xét - Đánh giá chung

NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CHUNG

I. Về tài nguyên nước mặt:

Tài nguyên nước mặt của Đồng Nai khá phong phú, bao gồm lượng nước đến từ các sông suối ngoài tỉnh như dòng chính Đồng Nai và hai phụ lưu quan trọng là sông Bé và sông La Ngà, ngoài ra còn có lượng mưa sinh dòng chảy tại chỗ đổ vào các sông suối trong tỉnh. Căn cứ vào các kết quả nghiên cứu trước và theo số liệu tính toán của những năm gần đây, hàng năm ở Đồng Nai có một lượng nước đến khoảng 30,2 x 109 m3 (1) đây là một nguồn nước khá lớn, nhưng chúng ta chưa có biện pháp quản lý khai thác triệt để, khoảng hơn 10% lượng nước trên mới được sử dụng vào các mục đích khác nhau, chủ yếu dành cho ngành năng lượng, trong đó hồ thủy điện Trị An chứa được một dung tích hữu ích hơn 2,5 x 109m3 còn lại là các ngành sử dụng nước khác như cấp nước cho công nghiệp và sinh hoạt (0,232 x 109m3), nước tưới cho các diện tích canh tác ở hạ lưu sông Đồng Nai , Bình Dương v.v...

Trong những năm tới do nhu cầu kinh tế phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước ngày càng cao, hàng chục khu công nghiệp ở Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh được xây và mở rộng, cùng với nhu cầu về nước sinh hoạt ngày càng lớn do việc tăng dân số và phát triển các đô thị, cần phải sử dụng đến một lượng nước lớn trong tài nguyên nước mặt nói trên. Một số hồ, đập của ngành thủy lợi đang được xây dựng trong thời gian tới trên đất Đồng Nai như: hồ Suối Cả, Nhơn Trạch, Gia Ui 1, Gia Ui 2, Xuân Lộc v.v...Công trình ngăn mặn - đập Ông Kèo dài hơn 10 km ở Nhơn Trạch, nhà máy nước Thiện Tân đi vào hoạt động sẽ là một phần trong kế hoạch điều hòa và sử dụng nguồn nước trong tỉnh.

Một trong những khai thác lớn nhất hiện nay ở trung và thượng lưu sông Đồng Nai là việc xây dựng các hồ chứa có dung tích lớn. Không kể các hồ chứa xây dựng từ trước ngày giải phóng miền Nam như: Đơn Dương, AnKroet, Đa Thiện, Suối Giai...ở các nhánh nhỏ thượng lưu, từ 1985 đến nay một số hồ chứa lần lượt ra đời như Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn, hồ Trị An trên sông Đồng Nai, hồ Thác Mơ trên sông Bé là một phần quan trọng trong việc qui hoạch, điều tiết nguồn nước phong phú của hệ thống sông Đồng Nai. Các phát triển trên làm cho chế độ dòng chảy ở hạ lưu có những thay đổi quan trọng: giảm mạnh lưu lượng về mùa lũ, tăng đáng kể lưu lượng về mùa cạn, cải thiện điều kiện xâm nhập mặn và phòng lũ ở hạ lưu v. v... Tương lai gần các hồ Hàm Thuận, Phước Hòa được xây dựng và đi vào hoạt động, không những tăng cường khả năng phát điện cho khu vực mà còn tạo điều kiện tốt trong việc chủ động điều hòa nguồn nước trên toàn lưu vực. Trên cơ sở phát triển đó, chúng ta cần phải có những biện pháp và phương án tối ưu nhằm bảo vệ và khai thác tốt nhất nguồn nước, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.

II. Tình hình ngập lụt và các biện pháp phòng tránh:

Nguồn nước mặt của Đồng Nai dồi dào và phong phú nhưng phân bố rất không đồng đều. Mùa mưa lũ mức độ tập trung nước rất cao, lượng nước dư thừa gây nhiều trở ngại cho sản xuất và đời sống, nhiều năm gây ngập lụt cho một số vùng trũng ven sông Đồng Nai và La Ngà. Ngược lại về mùa khô cạn, một số nơi lại thiếu nước nghiêm trọng, thậm chí nước sinh hoạt cũng gặp nhiều khó khăn trong khi đó nhu cầu nước về mùa khô lại rất lớn, nhất là nước cần thiết cho vụ Đông Xuân.

Số liệu quan trắc thủy văn được thống kê cho thấy hàng năm khi mực nước ở Tà Lài (Tân Phú) lên trên 113,0 m, ở thượng nguồn có mưa vừa liên tiếp trong 2 - 3 ngày thì các khu vực thấp ven sông Đồng Nai ở phía Bắc huyện Tân Phú thuộc các xã Nam Cát Tiên, Núi Tượng hàng trăm ha lúa bị ngập, hàng chục hộ dân phải di dời. Đây là khu vực bị ngập lụt thường xuyên vào mùa mưa vì ở đây chưa có đê bao - công trình ngăn lũ.

Tương tự, khu vực đồng ruộng phía Đông Bắc huyện Định Quán thuộc các vùng Thọ Lâm, Đồng Hiệp, Phú Hiệp v.v...vì chưa có đê bao ngăn lũ sông La Ngà nên cũng thường hay bị ngập lụt trong những tháng có lũ cao.

Ngay tại khu vực thành phố Biên Hòa khi mực nước sông Đồng Nai lên từ 1,90 m kết hợp với kỳ triều cường thì các phường ven sông như Quyết Thắng, Thống Nhất, Tân Mai v.v... cũng có nguy cơ bị ngập lụt, nhất là các nhà ở ven sông...

Đặc biệt trong hơn 10 năm trở lại đây, lũ quét xảy ra ở nhiều nơi trong tỉnh, gây nhiều thiệt hại về người và của. Lũ quét thường xảy ra ở các lưu vực sông, suối nhỏ, nơi có độ dốc mặt đệm lớn, địa hình trống trải, rừng bị tàn phá nhiều. Mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn, cường độ cao, nước chảy tràn trên sườn dốc cuốn trôi mọi vật cản như: cầu, cống, nhà cửa, hoa màu... và cả tính mạng con người (phần lớn là trẻ em).

Từ ngày 13-VII đến 4 - X - 1990 trên địa bàn tỉnh có tới 4 trận lũ quét, xuất hiện rải rác ở các huyện, trong đó trận lũ quét xảy ra vào đêm ngày 2 sáng ngày 3 - X tại hai huyện Long Thành và Thống Nhất gây nhiều thiệt hại hơn cả, hơn 10 người bị nước cuốn trôi, hàng trăm ha lúa và hoa màu bị tàn phá, nhiều người không có nhà ở, cống ba cửa Suối Đỉa trên quốc lộ IA bị sập, giao thông tắc nghẽn, thiệt hại về vật chất lên tới hàng trăm triệu đồng v.v...

Những năm gần đây lũ quét có xu hướng xuất hiện cả ở những nơi đô thị, đông người, nhất là ở các nơi có tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng cao như các khu công nghiệp, khu dân cư v.v... Mặc dù số lần xuất hiện chưa nhiều, mức độ chưa phải nghiêm trọng nhưng đó cũng là những tín hiệu cảnh báo chúng ta cần quan tâm và có biện pháp phòng ngừa (đợt lũ quét xảy ra vào ngày 24 - X - 1993 ở khu vực nội ô Biên Hòa thuộc phường Tân Phong là một ví dụ).

Để hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do lũ, lụt gây ra, nhằm điều hòa nguồn nước dồi dào sẵn có, chúng ta cần kết hợp giữa hai biện pháp công trình và không công trình.

Trên cơ sở các công trình thủy lợi hiện có, cần quản lý và khai thác hết công suất của các hồ, đập, kết hợp với việc tính toán xây dựng các công trình mới. Đồng thời cần đẩy mạnh việc trồng rừng, phủ xanh đồi trọc, bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn có tính chất phòng hộ. Qui hoạch lại các khu dân cư ở những nơi hay bị lũ lụt, kiên quyết đưa các hộ ở vùng thường xuyên bị ngập lụt đến nơi ở mới an toàn. Tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức của mọi người trong việc thực thi pháp lệnh phòng chống lụt bão của chính phủ, cùng với việc phát triển mạng lưới thông tin hai chiều giữa các cấp chính quyền phục vụ cho công tác chỉ đạo và khắc phục kịp thời các hậu quả do lũ lụt gây ra.

III. Kết luận:

Với quan niệm sông ngòi là tài nguyên của mỗi quốc gia, thì tài nguyên nước của Đồng Nai thuộc vào loại dồi dào và phong phú, nhưng không phải là vô tận. Theo các kết quả dự báo đến năm 2000 mức bảo đảm nước cho đầu người dân Việt Nam là: 10.488 m3, thấp hơn mức bảo đảm của thế giới là 12.900 m3. Do vậy khi sử dụng và khai thác nguồn nước cần chú ý tới việc kiểm kê, đánh giá, có kế hoạch sử dụng tổng hợp tài nguyên nước trên toàn bộ hệ thống lưu vực sông Đồng Nai, phải nắm chắc các yếu tố cơ bản trong cán cân nước như: tài nguyên nước, nhu cầu dùng nước và khả năng cung cấp nước v.v....

Đồng thời tiến hành mở rộng mạng lưới quan trắc, điều tra khảo sát nhất là ở các lưu vực sông suối nhỏ, tăng cường đổi mới các thiết bị đo đạc nắm bắt kịp thời các thông tin có liên quan tới nguồn nước, môi trường v. v...

Trong những năm tới do kinh tế xã hội phát triển, mức độ hiện đại hóa trong các lĩnh vực công nông nghiệp ngày càng cao, làm cho ô nhiễm môi trường không khí và nước ngày càng lớn, do vậy cần phải có kế hoạch bảo vệ nguồn nước như: hạn chế khai thác lâm sản, đóng một số cửa rừng đặc dụng và phòng hộ, phủ xanh đồi trọc, v.v... kiểm soát chặt chẽ các chất thải, nâng cao ý thức của mọi người trong việc bảo vệ hệ sinh thái môi trường, vấn đề sống còn có tính chất toàn cầu trong những thập kỷ tới.

Ở Đồng Nai hiếm thấy có bão lụt lớn như các tỉnh thành phía Bắc nhưng không phải là không có, các trận bão lụt lịch sử vào năm 1904 và 1952, đặc biệt cơn bão số 5 (Linda) - cơn bão của thế kỷ đổ bộ vào các tỉnh miền Tây Nam Bộ ngày 3 - XI - 1997 gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của là những ví dụ điển hình giúp cho chúng ta những bài học kinh nghiệm xương máu trong việc phòng chống thiên tai bởi những diễn biến khí hậu, thời tiết trong những năm tới có nhiều khả năng xấu đi, và phức tạp khó lường. Chủ động và không xem nhẹ trong công tác phòng chống thiên tai vẫn là biện pháp tốt nhất làm giảm nhẹ thiệt hại do bão, lụt gây ra.

 

VÀI KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CÁC ĐẶC TRƯNG THỦY VĂN (1)

* Diện tích lưu vực: Mỗi một con sông hay hệ thống sông đều có một phạm vi hứng nước của nó, trong phạm vi ấy thì tất cả nước trên mặt đất đều chảy dồn và tập trung vào con sông đó. Phạm vi hứng nước ấy gọi là diện tích, lưu vực đơn vị tính bằng km2.

SL

F

 
Ví dụ: Diện tích lưu vực của sông Đồng Nai đến mặt cắt Trị An là: 14.900 km2.

Text Box: (km/km2)  * Mật độ lưới sông: được tính bằng tỷ số: D =

- D: được gọi là mật độ lưới sông.

- SL: tổng cộng độ dài các sông, suối trong hệ thống sông (km)

- F: diện tích lưu vực của hệ thống sông (km2)

D càng lớn nghĩa là mật độ sông suối dày và ngược lại.

* Hệ số uốn khúc: hay còn gọi là hệ số cong queo của sông là tỷ số giữa độ dài thực chia cho đường thẳng nối dài từ nguồn đến cửa sông ( hay một khúc sông )

L

l

 
Ku =

Ku: là hệ số uốn khúc

L: chiều dài thực ( km )

l: chiều dài tắt (km)

Ví dụ: Hệ số uốn khúc của sông La Ngà (chỗ có hướng chảy phức tạp nhất) là: 2,1

* Lưu lượng: là lượng dòng chảy chuyển qua vị trí mặt cắt trong thời gian là 1 giây. Ký hiệu là Q (m3/s) đối với dòng chảy nước, R (kg/s) đối với dòng chảy phù sa...

* Tổng lượng: Là lượng dòng chảy trong một thời gian thường là 1 tháng hay 1 năm. Ký hiệu là W, đơn vị: đối với dòng chảy nước: 109m3, đối với dòng chảy phù sa: 106 tấn..

Mođun dòng chảy: là lượng dòng chảy trong một đơn vị thời gian là 1 giây (s) trên diện tích lưu vực là 1 km2.

Ký hiệu là M, đơn vị: l/s/km2

Mođun dòng chảy biểu thị mức độ phong phú của dòng chảy trong lưu vực (đã loại trừ nhân tố mặt đệm)

W

F

 
* Chiều sâu dòng chảy (h)

h =

Trong đó:

- h: chiều sâu dòng chảy (mm)

- W: tổng lượng nước (109 m3)

- F: diện tích lưu vực (km2)

Y

X

 
* Hệ số dòng chảy: là tỉ số giữa chiều cao lớp dòng chảy y (mm) và chiều cao lớp mưa X (mm) trên lưu vực, ký hiệu là (µ)

(µ) =

 Hệ số dòng chảy nhỏ hơn 1, biểu thị khả năng mưa có hiệu quả (mưa sinh dòng chảy) nhiều hay ít, ở Đồng Nai µ = 0,40 - 0,50.

 



(1) Nguyễn Văn Giáo: Tài nguyên nước mặt Đồng Nai.

(1) Nguồn: Cán cân và tài nguyên nước mặt Việt Nam - Tổng cục Khí tượng thủy văn, 1989.

 

Comments